Trung Tâm Cung Ứng Dịch Vụ Công Xã Bình Giã

Trung Tâm Cung Ứng Dịch Vụ Công Xã Bình Giã Trung Tâm Cung ứng dịch vụ công xã Bình Giã

🎁🤝 Chi hội Phụ nữ ấp Hậu Cần thăm, tặng quà hội viên khó khăn 🤝🎁🔹 Nằm trong chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm Ngày Giải ...
01/05/2026

🎁🤝 Chi hội Phụ nữ ấp Hậu Cần thăm, tặng quà hội viên khó khăn 🤝🎁

🔹 Nằm trong chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Ngày Quốc tế Lao động 1/5; sáng 1/5, Chi hội Phụ nữ ấp Hậu Cần (xã Bình Giã) đã tổ chức thăm hỏi, động viên và trao tặng quà cho 6 hội viên phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, đau ốm, bệnh tật trên địa bàn ấp.

🔹 Theo đó, các hội viên được nhận quà gồm: bà Nguyễn Thị Thiệu (sinh năm 1945), bà Nguyễn Thị Sơn (sinh năm 1941), bà Trần Thị Thùy Trang (sinh năm 1993), bà Lê Thị Hồng Bích (sinh năm 1944), bà Huỳnh Thị Líu (sinh năm 1963) và bà Nguyễn Thị Hà (sinh năm 1974). Những phần quà được đại diện Chi hội trao tận tay từng hội viên.

🔹 Mỗi suất quà trị giá 500 nghìn đồng tiền mặt, do Chi hội vận động các mạnh thường quân hỗ trợ. Tuy giá trị vật chất không lớn nhưng những phần quà thể hiện sự quan tâm, sẻ chia, góp phần tiếp thêm động lực để các hội viên vượt qua khó khăn, vươn lên và ổn định cuộc sống.

🔹 Bên cạnh ý nghĩa “tương thân tương ái”, quan tâm chăm lo đối với hội viên phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, hoạt động còn lan tỏa truyền thống đoàn kết, nhân ái trong cộng đồng dân cư.

Trung tâm Cung ứng dịch vụ công xã

01/05/2026
🎯🎯🎯KINH TẾ ĐẤT NƯỚC KHÔNG NGỪNG PHÁT TRIỂN, ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN NGÀY CÀNG ĐƯỢC NÂNG CAO🎯🎯🎯      Sau 51 năm Giải phóng...
30/04/2026

🎯🎯🎯KINH TẾ ĐẤT NƯỚC KHÔNG NGỪNG PHÁT TRIỂN, ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN NGÀY CÀNG ĐƯỢC NÂNG CAO🎯🎯🎯

Sau 51 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn về phát triển kinh tế-xã hội. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2025 đạt hơn 514 tỷ USD, trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, xếp thứ 4 khu vực ASEAN. GDP bình quân đầu người đạt hơn 5.000 USD, đưa Việt Nam vào nhóm các nước thu nhập trung bình cao. Việt Nam duy trì 10 năm xuất siêu liên tiếp (năm 2025 xuất siêu trên 21 tỷ USD). Đời sống người dân ngày càng được nâng cao. Xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng 37 bậc (từ vị trí 83 năm 2020 lên thứ 46 năm 2025). Chỉ số phát triển con người ngày càng được cải thiện rõ rệt, đạt 0,766 điểm, cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập…

🎯🎯Nghị quyết 57-NQ/TW là điểm khởi đầu của một hành trình mới - hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số với tư các...
30/04/2026

🎯🎯Nghị quyết 57-NQ/TW là điểm khởi đầu của một hành trình mới - hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số với tư cách một quốc gia sáng tạo, một nền kinh tế tri thức và một xã hội đổi mới. Trong kỷ nguyên ấy, Việt Nam không chỉ tham gia cuộc chơi, mà có thể góp phần định hình cuộc chơi.🎯🎯

Bốn thập kỷ qua, Việt Nam đã đi qua một hành trình đáng tự hào: Nhờ đổi mới mạnh mẽ, nhờ trí tuệ và bản lĩnh, từ một nền kinh tế khép kín trở thành một trong những quốc gia hội nhập sâu rộng hàng đầu thế giới; từ thiếu hụt nguồn lực trở thành điểm đến thu hút dòng vốn toàn cầu; từ lao động giản đơn bước đầu tham gia vào chuỗi giá trị quốc tế. Nhưng chính thành công ấy cũng đang đặt chúng ta trước một giới hạn mới: Khi lợi thế chi phí dần thu hẹp, khi giá trị gia tăng nhìn chung vẫn ở nấc thấp, và khi phần lớn công nghệ cốt lõi vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát.

Trong kỷ nguyên số, cạnh tranh giữa các quốc gia không còn được quyết định bởi quy mô sản xuất hay nguồn tài nguyên, mà bởi năng lực tạo ra và làm chủ tri thức, công nghệ. Giá trị chính không nằm ở số lượng hàng hóa xuất khẩu, mà ở phần trí tuệ được kết tinh trong từng sản phẩm.

Chính trong bối cảnh đó, Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số xuất hiện như một lối mở chiến lược. Đây không chỉ là một chính sách thúc đẩy một lĩnh vực, mà là một tuyên bố chuyển đổi mô hình phát triển: Từ dựa vào lao động và vốn sang dựa vào trí tuệ và công nghệ.

Gần nhất, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo các cơ quan xây dựng Nghị quyết về mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để Hội nghị Trung ương 3 xem xét, quyết định.

Việt Nam số, vì thế, là quá trình tái tạo nền kinh tế bằng trí tuệ Việt Nam - nơi tri thức không còn là yếu tố hỗ trợ, mà trở thành sức mạnh cốt lõi của quốc gia.

Trong nhiều năm, mô hình tăng trưởng của Việt Nam được xây dựng trên ba trụ cột quen thuộc: Lao động dồi dào, chi phí cạnh tranh và dòng vốn đầu tư. Mô hình này đã phát huy hiệu quả trong giai đoạn đầu, giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh và tạo việc làm cho hàng chục triệu người.

Tuy nhiên, chính mô hình đó cũng bộc lộ những giới hạn ngày càng rõ nét. Khi chi phí lao động tăng lên, lợi thế cạnh tranh dần suy giảm. Khi chuỗi giá trị toàn cầu tái cấu trúc, các khâu có giá trị cao hơn, như thiết kế, công nghệ, thương hiệu, vẫn nằm ngoài tầm với. Và khi công nghệ thay đổi nhanh chóng, nguy cơ bị thay thế không còn là cảnh báo xa xôi mà đã trở thành hiện thực.

Kỷ nguyên số đặt ra một logic hoàn toàn khác. Cạnh tranh không còn dựa trên chi phí thấp, mà dựa trên năng lực sáng tạo, làm chủ công nghệ. Tốc độ không chỉ là tốc độ sản xuất, mà là tốc độ đổi mới. Quốc gia nào không làm chủ được tri thức, công nghệ hiện đại, sẽ bị mắc kẹt ở phần thấp nhất của chuỗi giá trị.

Trong bối cảnh đó, với Nghị quyết 57-NQ/TW, lần đầu tiên, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt vào vị trí trung tâm của mô hình phát triển. Điều này không chỉ thay đổi ưu tiên chính sách, mà thay đổi chính logic phát triển: Từ gia công sang sáng tạo, từ tham gia sang dẫn dắt, từ gia công và làm thuê sang làm chủ.

Đây không phải là một lựa chọn mang tính cải tiến, mà là một bước chuyển mang tính sống còn.

Nếu đổi mới sáng tạo là động lực, thì công nghệ lõi chính là nền tảng của động lực đó. Một quốc gia có thể ứng dụng công nghệ để đi nhanh trong ngắn hạn, nhưng chỉ có thể đi xa khi làm chủ được công nghệ.

Thực tế cho thấy, trong chuỗi giá trị toàn cầu, phần lớn giá trị không nằm ở khâu sản xuất, mà nằm ở những khâu gắn với công nghệ và tri thức. Quốc gia nào sở hữu công nghệ lõi sẽ nắm quyền định giá, định chuẩn và kiểm soát thị trường. Ngược lại, quốc gia chỉ sử dụng công nghệ sẽ luôn ở vị thế phụ thuộc.

Chính vì vậy, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về hoàn thiện Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, triển khai ngay một số nhiệm vụ công nghệ chiến lược trọng tâm gắn với bài toán lớn quốc gia; cũng như chỉ đạo của Thủ tướng Lê Minh Hưng về việc tăng tỉ trọng chi cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tinh thần là không chạy theo những ứng dụng bề nổi, mà tập trung vào năng lực nền tảng; không tìm kiếm lợi ích ngắn hạn, mà đầu tư cho sức mạnh dài hạn.

Công nghệ lõi, dù đòi hỏi chi phí lớn và rủi ro cao, lại là nơi quyết định vị thế quốc gia trong kỷ nguyên số. Đó là nơi hình thành các thuật toán, dữ liệu và tri thức - những yếu tố đang trở thành “tài nguyên mới” của thế giới.

Trong một ý nghĩa sâu xa, làm chủ công nghệ lõi không chỉ là vấn đề kinh tế. Đó là vấn đề chủ quyền và thương hiệu quốc gia.

Một trong những chuyển dịch tư duy quan trọng nhất hiện nay là cách nhìn về giá trị. Trong quá khứ, thành công thường được đo bằng kim ngạch xuất khẩu hay sản lượng sản xuất. Nhưng trong kỷ nguyên số, những thước đo đó không còn đủ.

Điều quan trọng không phải là chúng ta xuất khẩu bao nhiêu, mà là chúng ta có được bao nhiêu giá trị trí tuệ trong những gì mình xuất khẩu.

Chỉ đạo của Chính phủ về việc nâng tỉ lệ giá trị trí tuệ Việt Nam trong sản phẩm xuất khẩu chính là sự khẳng định cho cách tiếp cận mới này. Đây không chỉ là một mục tiêu kỹ thuật, mà là một định hướng chiến lược: Chuyển từ “Made in Vietnam” sang “Made by Vietnam”.

Sự khác biệt giữa hai khái niệm này không nằm ở nơi sản xuất, mà nằm ở nơi tạo ra giá trị. Một sản phẩm có thể được sản xuất tạimột quốc gia, nhưng nhiều trường hợp, giá trị lớn nhất lại thuộc về thiết kế, công nghệ và thương hiệu do nước ngoài nắm giữ.

Khi trí tuệ Việt Nam được tích hợp vào sản phẩm - từ ý tưởng, công nghệ đến thương hiệu - thì mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu không chỉ mang giá trị kinh tế, mà còn mang theo vị thế quốc gia.

Đây chính là bước nhảy từ lượng sang chất trong phát triển.

Để trí tuệ thực sự trở thành sức mạnh quốc gia, không thể chỉ dựa vào nỗ lực riêng lẻ của một vài doanh nghiệp hay một vài ngành. Điều cần thiết là một hệ sinh thái đổi mới toàn diện.

Trước hết, vai trò của Nhà nước phải được tái định nghĩa. Không chỉ là người quản lý, Nhà nước phải trở thành người kiến tạo: tạo ra thể chế thuận lợi, khuyến khích đổi mới, chấp nhận thử nghiệm và kiểm soát rủi ro bằng những công cụ hiện đại.

Những cơ chế như sandbox, những chính sách thúc đẩy nghiên cứu và phát triển, hay việc ưu tiên đầu tư cho công nghệ lõi chính là những biểu hiện cụ thể của vai trò đó. Đây cũng là những định hướng lớn của Đảng, Nhà nước và đang được các cơ quan triển khai một cách quyết liệt, khẩn trương.

Doanh nghiệp, ở phía mình, không thể tiếp tục dựa vào lợi thế chi phí. Trong một thế giới mà công nghệ thay đổi từng ngày, chỉ những doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới, làm chủ công nghệ và xây dựng thương hiệu mới có thể tồn tại và phát triển bền vững.

Cuối cùng, con người vẫn là yếu tố quyết định. Việt Nam số không thể được xây dựng nếu thiếu một lực lượng lao động có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập và khả năng thích ứng. Giáo dục, vì thế, không chỉ là đào tạo kỹ năng, mà là nuôi dưỡng năng lực đổi mới.

Và doanh nghiệp Việt, hãy tập trung vào sáng tạo, vào làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược thay vì gia công, lắp ráp, đóng gói với hàm lượng trí tuệ thấp…

Khi ba chủ thể - Nhà nước, doanh nghiệp và con người - cùng chuyển động theo một hướng, trí tuệ mới có thể được tích lũy, lan tỏa và chuyển hóa thành sức mạnh thực sự.

Việt Nam số không phải là một đích đến cố định. Đó là một phương thức phát triển mới, một logic vận hành mới của nền kinh tế và xã hội.

Hành trình này không chỉ là chuyển đổi công nghệ, mà là chuyển đổi tư duy. Không chỉ là số hóa quy trình, mà là tái cấu trúc cách tạo ra giá trị. Không chỉ là ứng dụng, mà là làm chủ.

Đây cũng không phải là lựa chọn có thể trì hoãn. Trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng, quốc gia nào chậm chuyển đổi sẽ bị bỏ lại phía sau. Nhưng ngược lại, quốc gia nào nắm bắt được cơ hội sẽ có thể bứt phá, vượt lên.

Việt Nam đang đứng trước một cơ hội như vậy. Với nền tảng đã được tích lũy, với quyết tâm chính trị rõ ràng và với những định hướng chiến lược như Nghị quyết 57-NQ/TW, cánh cửa cho một giai đoạn phát triển mới đang mở ra.

Khi trí tuệ trở thành sức mạnh, sự phát triển không còn bị giới hạn bởi tài nguyên hay quy mô. Nó được quyết định bởi khả năng sáng tạo, khả năng học hỏi và khả năng làm chủ tương lai.

Nghị quyết 57-NQ/TW là điểm khởi đầu của một hành trình mới - hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số với tư cách một quốc gia sáng tạo, một nền kinh tế tri thức và một xã hội đổi mới. Và khi làm chủ được trí tuệ, làm chủ công nghệ, Việt Nam không chỉ tham gia cuộc chơi, mà có thể góp phần định hình cuộc chơi.

🟡🕊️ "ĐÓA SEN VÀNG TRONG LỬA ĐỎ" SÀI GÒN💕💕  Cuộc đời và sự nghiệp của Ni trưởng Huỳnh Liên (1923-1987) là hiện thân cho s...
30/04/2026

🟡🕊️ "ĐÓA SEN VÀNG TRONG LỬA ĐỎ" SÀI GÒN💕💕

Cuộc đời và sự nghiệp của Ni trưởng Huỳnh Liên (1923-1987) là hiện thân cho sự gắn kết máu thịt giữa đạo pháp và dân tộc, nơi lòng từ bi hỷ xả hòa quyện cùng lòng yêu nước và tinh thần dấn thân vì vận mệnh quốc gia.

---
Ni trưởng Huỳnh Liên, tên thật là Nguyễn Thị Trừ, sinh năm 1923 tại làng Phú Mỹ, Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp), trong một gia đình nông dân Phật giáo.

Năm 1943, tròn 20 tuổi, Nguyễn Thị Trừ bước chân vào cửa thiền tại Phật đường Minh Sư.

Lớn lên trong cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, cô gái trẻ Nguyễn Thị Trừ không thể làm ngơ trước những nghịch cảnh đau thương xảy ra hằng ngày quanh mình.

Năm 1945, chịu ảnh hưởng từ tư tưởng cách mạng của người cậu, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Trừ tham gia Mặt trận Việt Minh giành chính quyền tại địa phương.

Ngày 1/4/1947, Nguyễn Thị Trừ chính thức làm lễ xuất gia tại Linh Bửu Tự với pháp danh Huỳnh Liên, được đức Tổ sư truyền đạo trực tiếp và ủy thác sứ mệnh tiếp chúng độ ni.

Khi Tổ sư vắng bóng, bà kế tục chí nguyện, dẫn dắt tập thể ni chúng theo con đường đạo pháp chân chính.

Trong suốt hơn 40 năm, bà đã xây dựng thành công hệ thống 72 Tịnh xá của Ni giới Khất sĩ Việt Nam, quy tụ hàng nghìn ni chúng và hàng vạn tín đồ.

Những năm 1960, khi chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách kỳ thị và đàn áp Phật giáo tàn khốc, Ni trưởng Huỳnh Liên với tư cách người đứng đầu Ni giới Khất sĩ đã dấn thân vào phong trào đòi tự do tín ngưỡng, quyền dân sinh và dân chủ, lan tỏa mạnh mẽ trên khắp miền Nam.

Lời thệ nguyện của bà đã trở thành kim chỉ nam cho cả một thế hệ tu sĩ dấn thân: "Nguyện xin hiến trọn đời mình/ Cho nguồn đạo pháp, cho tình quê hương".

Bước ngoặt đánh dấu sự phát triển toàn diện trong hoạt động yêu nước của Ni trưởng Huỳnh Liên là khi bà tham gia thành lập và giữ vai trò cố vấn cho phong trào "Phụ nữ đòi quyền sống" do luật sư Ngô Bá Thành làm Chủ tịch, ra mắt tại chùa Ấn Quang ngày 2/8/1970, trụ sở đặt tại Tịnh xá Ngọc Phương (Gò Vấp).

Dưới sự trụ trì của Ni trưởng Huỳnh Liên, Tịnh xá Ngọc Phương trở thành một "địa chỉ đỏ": nơi hội họp của các đoàn thể yêu nước, điểm tựa che chở cán bộ và hậu phương cứu trợ dân nghèo.

Phong trào Phụ nữ đòi quyền sống phát triển rất nhanh chỉ sau gần một năm thành lập, quy tụ trên 20 đoàn thể phụ nữ, trong đó lực lượng Phật tử là nòng cốt hết sức quan trọng.

Ngày 18/10/1970, Ni trưởng Huỳnh Liên gây tiếng vang lớn khi khởi xướng lễ "Xuống tóc vì hòa bình" dùng chính mái tóc của người tu sĩ làm vũ khí phản kháng chiến tranh.

Không dừng lại ở đó, Ni trưởng Huỳnh Liên còn tích cực tham gia các hoạt động, phong trào sôi động: Từ mít tinh chống Mỹ đến việc công bố Bản tuyên ngôn 10 điểm về hòa bình, mở rộng mặt trận đoàn kết, thành lập các chi nhánh phong trào tại Cần Thơ, Trà Vinh, kết nối sức mạnh toàn miền Tây Nam Bộ.

Ni trưởng Huỳnh Liên tham gia xây dựng và lãnh đạo các tổ chức như Mặt trận Nhân dân Tranh thủ Hòa bình, Phong trào Đòi quyền sống cô nhi và trẻ em nạn nhân chiến tranh, Ủy ban Đòi cải thiện chế độ lao tù.

Ni trưởng cùng với hệ thống Tịnh xá Ngọc Phương luôn là lực lượng xung kích trong các tổ chức đó. Đặc biệt, bà đã biến diễn đàn báo chí thành vũ khí sắc bén qua các buổi họp báo như: "Nhân dân đòi cơm áo, Phật giáo đòi Hòa bình" hay "Nông dân đòi quyền sống".

Ni trưởng Huỳnh Liên là một trong những thành viên nòng cốt tham gia đấu tranh buộc địch phải trả tự do cho Luật sư Ngô Bá Thành, đồng thời phối hợp với đồng bào Công giáo tố cáo chính sách xâm lược của Mỹ ngay tại Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế; sát cánh cùng sinh viên chống "quân sự hóa học đường"; đứng về phía công nhân Hãng pin Con Ó chống bóc lột.

Cuối năm 1971, khi địch đàn áp khốc liệt bắt giam hàng loạt lãnh đạo phong trào, Ni trưởng đã dũng cảm nhận trách nhiệm tiếp tục chèo lái phòng trào đấu tranh.

Giai đoạn 1971 - 1975, Tịnh xá Ngọc Phương bị hàng rào kẽm g*i phong tỏa, binh lính canh gác nghiêm mật ngày đêm.

Ni trưởng Huỳnh Liên không nề hà nguy hiểm, nhiều lần băng qua hàng rào kẽm g*i và súng đạn để cùng các ni sư ra trước Nhà hát lớn Sài Gòn đấu tranh.

Hình ảnh Ni trưởng Huỳnh Liên dẫn đầu đoàn, cùng các ni sư trẻ nắm chặt tay nhau kết thành vòng tròn, dùng thân mình che chở cho những người mẹ, người vợ của tù chính trị trước vòi rồng áp lực mạnh đã trở thành biểu tượng bất khuất cho tinh thần đoàn kết đấu tranh của phụ nữ Việt Nam nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung.

Nhân dân Sài Gòn đã cảm kích và tôn vinh Ni trưởng Huỳnh Liên là "Đóa sen vàng trong lửa đỏ".

Cuối năm 1974, trước sự bao vây gắt gao Tịnh xá Ngọc Phương nhằm giam lỏng, kìm hãm các hoạt động yêu nước và thủ tiêu phong trào, Ni trưởng quyết định dựng giàn hỏa thiêu dã chiến ngay trước cổng Tịnh xá.

Đây là thông điệp quyết liệt gửi đến thế giới: Ni giới sẵn sàng hy sinh để bảo vệ chính nghĩa và quyền sống con người.

Bà còn tham gia tổ chức những hoạt động độc đáo như "Ngày ký giả ăn mày" hay phong trào "Đọc báo nói cho đồng bào tôi nghe" giữa chợ Bến Thành.

Tất cả đã tạo nên một sức mạnh tổng lực, khiến kẻ thù phải nhượng bộ trước những yêu sách chính đáng của nhân dân, góp phần làm nên ngày đại thắng của dân tộc ngày 30/4/1975.

---
Ni trưởng Huỳnh Liên còn là một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, một dịch giả uyên bác, dùng ngòi bút như một thứ vũ khí sắc bén, vừa chuyển tải triết lý Phật giáo đến bình dân đại chúng, vừa khơi dậy ngọn lửa yêu nước trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Trong những năm tháng khói lửa, thơ ca của bà không chỉ dừng lại ở kinh kệ mà đã trở thành những lời hiệu triệu yêu nước mạnh mẽ:

"Giặc đến nhà đàn bà phải đánh,

Gương Hai Bà lấp lánh sao giăng.

Người nay phải chống xâm lăng

Phải giành độc lập cho bằng người xưa"

Bà khắc họa chân dung người phụ nữ Việt Nam với nét dịu dàng, hiền hòa của tâm Phật và sự bất khuất của dân tộc anh hùng:

"Phụ nữ Việt Nam dịu dàng nhưng bất khuất,

Sống hiền hòa nhưng cương quyết chống xâm lăng.

Mẹ sinh con truyền dòng máu anh hùng,

Mẹ dạy trẻ luyện tấm lòng ái quốc."

Khi non sông liền một dải, ngòi bút của Ni trưởng Huỳnh Liên trở thành bản hòa ca về sự hồi sinh và lòng vị tha, khuyến khích tăng ni, Phật tử tham gia sản xuất, làm kinh tế để tự túc và đóng góp cho công cuộc kiến thiết đất nước:

"Tay cầm cuốc, miệng niệm Nam mô

Đạo với đời đâu có phân chia

Xây đất nước cũng là xây đạo hạnh

Cho nhành sen nở ngát vạn tâm hồn."'

---
Sau năm 1975, Ni trưởng Huỳnh Liên được tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa VI – khóa Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất.

Không chỉ hoạt động trong nước, Ni trưởng còn mang thông điệp hòa bình của Việt Nam ra thế giới. Bà được cử tham dự nhiều diễn đàn quốc tế quan trọng như: Đại hội Phụ nữ Thế giới tại Berlin (Cộng hòa Dân chủ Đức), Đại hội Tôn giáo Thế giới vì hòa bình tại Moscow (Liên Xô cũ), tham quan và thắt chặt tình hữu nghị tại Mông Cổ.

Tại các diễn đàn này, hình ảnh vị ni sư Việt Nam trong bộ huỳnh y giản dị đã trở thành nhịp cầu nối liền khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam với thế giới.

Ngoài trọng trách Phật đạo, Ni trưởng còn đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng khác như: Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa I và II), Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hòa bình Thế giới Thành phố Hồ Chí Minh.

Ở bất cứ cương vị nào, Ni trưởng Huỳnh Liên cũng hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, vừa là chỗ dựa tinh thần cho ni giới, vừa là tiếng nói đại diện cho quyền lợi của nhân dân.

Ni trưởng Huỳnh Liên viên tịch vào ngày 16/4/1987 nhưng tinh thần "phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật" tích cực, nhân văn của bà vẫn là ngọn đèn soi sáng cho nhiều thế hệ tăng ni, Phật tử và những người yêu chuộng hòa bình.

Cuộc đời bà chính là biểu hiện sinh động cho khát vọng hòa bình, lòng bao dung và tinh thần tự lực, tự cường của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam thời đại mới.

---
📸 Ni trưởng Huỳnh Liên (hàng 2, thứ 2 từ phải qua trái) tại lễ mít tinh mừng Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 1/5/1975.

💕💕Đó là một trong những nội dung tại Nghị quyết số 21/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ về cắt giảm, đơn giản hóa ...
30/04/2026

💕💕Đó là một trong những nội dung tại Nghị quyết số 21/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ về cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực y tế.💕💕💕

Nghị quyết này quy định cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực y tế thuộc thẩm quyền của Chính phủ.

Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực y tế (*)

Nghị quyết phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về an toàn thực phẩm:

Việc cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe được quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về phòng bệnh:

Việc đề nghị nhập khẩu mẫu bệnh phẩm được quy định tại Điều 36 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về kiểm dịch y tế biên giới được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh:

Việc cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (bao gồm cả chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp theo quy định tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12, sau đây gọi tắt là giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh cho các đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Luật Khám bệnh, chữa bệnh và khoản 8 Điều 143 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh) được quy định tại khoản 6 Điều 14, khoản 15 Điều 16, khoản 2 Điều 18, khoản 3 Điều 20, khoản 7 Điều 22, khoản 9 Điều 24, khoản 2 Điều 26, khoản 5 Điều 130, khoản 18 Điều 132, khoản 2 Điều 134, khoản 4 Điều 136 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh:

Thẩm quyền cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp thay đổi thời gian làm việc hoặc thay đổi tên, địa chỉ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng không thay đổi địa điểm cho bệnh viện tư nhân được quy định tại Điều 63 và Điều 65 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Các quy định về phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính nêu trên có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

Cắt giảm, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực y tế (**)

Nghị quyết nêu rõ, không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm quy định tại các điều 5, 6 và 7 Nghị định số 103/2016/NĐ-CP quy định về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP.

Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến dịch vụ tiêm chủng quy định tại Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 104/2016/NĐ-CP quy định về hoạt động tiêm chủng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP.

Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe quy định tại Điều 8, Điều 9, khoản 2 Điều 10 và Điều 11 Nghị định số 111/2017/NĐ-CP quy định về tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe và Điều 140 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP.

Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến cung cấp dịch vụ điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế quy định tại Điều 16 và Điều 17 Nghị định số 141/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS).

Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến cung cấp dịch vụ tư vấn, xét nghiệm HIV quy định tại khoản 2 Điều 38, Điều 39, Điều 40 và Điều 41 Nghị định số 141/2024/NĐ-CP và khoản 1, 2 Điều 5 Nghị định số 63/2021/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS).

Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 5; khoản 1 và khoản 2 Điều 6; khoản 4 Điều 7; Điều 8; khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm a, đ, e khoản 4, các khoản 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 40; điểm a, b khoản 2, khoản 3, tiết 7 điểm b khoản 4 Điều 41; điểm b khoản 1 Điều 42; khoản 1 Điều 43; khoản 1 và khoản 2 Điều 44; các khoản 1, 2 và 3 Điều 45; điểm d khoản 2 Điều 46; khoản 3 Điều 47; khoản 1 Điều 48; khoản 1 và khoản 3 Điều 49; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 50, khoản 3 Điều 51; khoản 5 Điều 53; khoản 2 Điều 55; Điều 127; Điều 128; Điều 129; Điều 131; Điều 133; Điều 135 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP.

Các quy định về cắt giảm, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh nêu trên có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2027.

Nghị quyết nêu rõ quy định về các thủ tục hành chính không thực hiện, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh. Trong đó:

Không thực hiện 6 thủ tục hành chính sau đây:

1) Thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm đối với phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới, phụ gia thực phẩm không thuộc trong danh mục phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm hoặc không đúng đối tượng sử dụng do Bộ Y tế quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP;

2) Thủ tục cấp mới, cấp lại, tự công bố và thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở xét nghiệm đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học được quy định tại các điều 11, 12, 13 và 14 Nghị định số 103/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP;

3) Thủ tục công bố đủ điều kiện thực hiện dịch vụ tiêm chủng được quy định tại Điều 11 Nghị định số 104/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP;

4) Thủ tục công bố đủ điều kiện điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế được quy định tại các điều 19, 20, 21 và 22 Nghị định số 141/2024/NĐ-CP;

5) Thủ tục cấp mới, cấp lại, điều chỉnh, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện xét nghiệm khẳng định HIV dương tính hoặc quyết định chỉ định, quyết định điều chỉnh, thu hồi quyết định chỉ định cơ sở xét nghiệm khẳng định HIV dương tính tham chiếu và đình chỉ hoạt động xét nghiệm khẳng định HIV dương tính hoặc xét nghiệm khẳng định HIV dương tính tham chiếu được quy định tại các điều 42, 43, 44, 45; điểm b khoản 1, điểm b khoản 7, khoản 8 Điều 46 và Điều 47 Nghị định số 141/2024/NĐ-CP;

6) Thủ tục cấp giấy chứng nhận cơ sở giáo dục đủ điều kiện kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh được quy định tại Điều 141 và Điều 142 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP.

Nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, Nghị quyết quy định cắt giảm thời gian thực hiện đối với thủ tục công bố cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng yêu cầu là cơ sở hướng dẫn thực hành được quy định tại khoản 3 mục B Phần 11 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 148/2025/NĐ-CP quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực y tế; cắt giảm thời gian thực hiện đối với thủ tục đề nghị xem xét thừa nhận giấy phép hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp được quy định tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều 37 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP; cắt giảm thời gian thực hiện đối với thủ tục cấp mới giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 61 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP...

Trong đó, cắt giảm thời gian thực hiện đối với thủ tục cấp mới giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 61 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP như sau:

1. Nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp mới và nộp phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí cho cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động (sau đây viết tắt là cơ quan cấp giấy phép hoạt động).

2. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ cấp cho cơ sở đề nghị phiếu tiếp nhận hồ sơ theo Mẫu 02 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

3. Trường hợp không có yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ:

a) Cơ quan cấp giấy phép hoạt động tổ chức thẩm định điều kiện hoạt động và danh mục kỹ thuật thực hiện tại cơ sở đề nghị và lập biên bản thẩm định trong thời hạn 40 ngày, kể từ ngày ghi trên phiếu tiếp nhận hồ sơ;

b) Trường hợp không có yêu cầu sửa đổi, bổ sung phải cấp mới giấy phép hoạt động và ban hành quyết định phê duyệt danh mục kỹ thuật thực hiện tại cơ sở trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành biên bản thẩm định;

c) Trường hợp có yêu cầu sửa đổi, bổ sung phải nêu rõ trong nội dung của biên bản thẩm định.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo và tài liệu chứng minh đã hoàn thành việc khắc phục, sửa chữa của cơ sở đề nghị, cơ quan cấp giấy phép hoạt động có thể tiến hành kiểm tra thực tế việc khắc phục, sửa chữa của cơ sở đề nghị trong trường hợp cần thiết hoặc thực hiện việc cấp giấy phép hoạt động. Trường hợp không cấp giấy phép hoạt động phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

4. Trường hợp có yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ:

a) Cơ quan cấp giấy phép hoạt động phải có văn bản gửi cơ sở đề nghị, trong đó phải nêu cụ thể các tài liệu, nội dung cần sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày ghi trên phiếu tiếp nhận hồ sơ.

b) Sau khi sửa đổi, bổ sung hồ sơ, cơ sở đề nghị gửi văn bản thông báo và tài liệu chứng minh đã hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung.

c) Sau khi nhận hồ sơ sửa đổi, bổ sung, cơ quan cấp giấy phép hoạt động có trách nhiệm thực hiện trình tự theo quy định:

- Tại khoản 3 Điều này đối với trường hợp không còn có yêu cầu sửa đổi, bổ sung;

- Tại điểm a, b khoản này đối với trường hợp cơ sở đã sửa đổi, bổ sung nhưng chưa đáp ứng yêu cầu.

5. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày cấp giấy phép hoạt động, cơ quan cấp giấy phép hoạt động công bố trên cổng thông tin điện tử của mình và trên Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh các thông tin sau: tên, địa chỉ cơ sở được cấp giấy phép hoạt động; họ, tên và số giấy phép hành nghề người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật; số giấy phép hoạt động; phạm vi hoạt động chuyên môn và thời gian hoạt động chuyên môn.

6. Giấy phép hoạt động được lập thành 02 bản theo quy định tại Mẫu số 06 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này: 01 bản cấp cho cơ sở đề nghị và 01 bản lưu tại cơ quan cấp giấy phép hoạt động trừ trường hợp đã trả kết quả trên môi trường điện tử.

7. Trường hợp cơ sở được cấp giấy phép hoạt động theo hình thức tổ chức là bệnh viện thì khi cấp giấy phép hoạt động, cơ quan cấp giấy phép hoạt động ban hành văn bản tạm xếp bệnh viện đó vào cấp cơ bản. Thời gian tạm xếp cấp là 02 năm kể từ ngày ghi trên văn bản tạm xếp cấp. Trong thời gian 60 ngày trước khi hết thời hạn tạm xếp cấp, bệnh viện phải nộp hồ sơ để thực hiện thủ tục xếp cấp chuyên môn kỹ thuật theo quy định tại Điều 90 Nghị định này.

Nghị quyết số 21/2026/NQ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 29 tháng 4 năm 2026 đến ngày 01 tháng 01 năm 2028, trừ trường hợp quy định tại (*) và (**) nêu trên.

Address

Ấp Công Thành
Xa Binh Gia
0000

Opening Hours

Monday 07:30 - 17:00
Tuesday 07:30 - 17:00
Wednesday 07:30 - 17:00
Thursday 07:30 - 17:00
Friday 07:30 - 17:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trung Tâm Cung Ứng Dịch Vụ Công Xã Bình Giã posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share