TAM ĐẢO XANH

TAM ĐẢO XANH Trung với Đảng, hiếu với Dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ Quốc, vì CNXH.

Khoa CMKTTỈNH TÁO TRƯỚC LUẬN ĐIỆU ĐỐI LẬP GIỮA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ TINH THẦN DÂN TỘCMục tiêu của chủ nghĩa xã hội (CNXH)...
03/09/2026

Khoa CMKT
TỈNH TÁO TRƯỚC LUẬN ĐIỆU ĐỐI LẬP GIỮA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ TINH THẦN DÂN TỘC

Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội (CNXH) là giải phóng giai cấp, giải phóng con người và giải phóng xã hội khỏi áp bức, bóc lột, bất công, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, hoàn toàn thống nhất với tinh thần dân tộc: Đoàn kết, tự chủ, tự tôn, tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vì thế, âm mưu đối lập giữa CNXH và tinh thần dân tộc Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động đều đi ngược lại ý chí, nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp hiến, hợp pháp của nhân dân Việt Nam, cần phải vạch trần, đấu tranh bác bỏ.

Nhận thức đúng về tinh thần dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Tinh thần dân tộc là sự đoàn kết, đồng lòng, giúp nhau vượt qua mọi khó khăn, thử thách; tinh thần độc lập, tự chủ, tự tôn, tự lực, tự cường; khát vọng vươn lên xây dựng đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc.

CNXH mang bản chất nhân văn, nhân đạo, vì con người, vì một xã hội không còn áp bức, bóc lột, bất công, con người có điều kiện phát triển toàn diện; là xã hội mà con người được sống tự do, nhân ái giữa các cộng đồng; có nhiều điểm tương đồng với truyền thống dân tộc Việt Nam, phù hợp với đặc điểm của dân tộc Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Điều này khẳng định, CNXH thống nhất với tinh thần dân tộc Việt Nam. Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chứng minh, nhờ có tinh thần dân tộc kết hợp với mục tiêu CNXH mà dân tộc ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Nhận diện âm mưu đối lập giữa chủ nghĩa xã hội và độc lập dân tộc

Tuy nhiên, thời gian qua, với mưu đồ chống phá sự nghiệp cách mạng của nước ta, một số đối tượng thù địch, phản động đã đưa ra luận điệu đối lập CNXH với tinh thần dân tộc. Mục đích là phủ nhận giá trị nhân văn, nhân đạo, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; phá hoại sự nghiệp xây dựng CNXH của dân tộc ta, qua đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

Âm mưu chống phá từ luận điệu này biểu hiện ở hai khía cạnh.

Thứ nhất, các đối tượng cho rằng, Việt Nam hiện nay chỉ cần độc lập dân tộc, không cần CNXH. Theo “lý sự” của họ, Việt Nam chỉ cần làm cho nhân dân được giàu có, tự do, hạnh phúc, theo chế độ nào cũng được, không cần thiết phải là CNXH. Việt Nam không nên thử nghiệm con đường mà phần lớn các nước đi theo đã thất bại, chỉ nên tập trung vào những mô hình, biện pháp đã được kinh nghiệm lịch sử nhân loại thực hiện thành công.

Thứ hai, đối lập giữa mục tiêu xây dựng CNXH với tinh thần dân tộc. Họ cho rằng, CNXH là bất khả thi vì được “xây dựng từ một hệ thống triết học tư biện” nên không thể dựa vào đó để xây dựng và cải tạo xã hội được. Xã hội tương lai, theo các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác-Lênin, là một xã hội tốt đẹp nhưng “tính chất lãng mạn, hoàn hảo của cái thế giới tương lai” rất khó có thể được xem là một cương lĩnh khả thi cho bất cứ lực lượng chính trị nào muốn xây dựng và "nó không thể thực hiện được ở Việt Nam".

Thực tiễn lịch sử và cách mạng Việt Nam là minh chứng sống động, khoa học

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đến nay, nhất là những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 4 thập niên đổi mới đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc nêu trên.

Một là, CNXH và tinh thần dân tộc Việt Nam có mối quan hệ thống nhất với nhau.

Mô hình CNXH mà chúng ta đang xây dựng là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển...

Từ khi có Đảng lãnh đạo, tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc được thể hiện ở ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, cả nước đoàn kết, đồng lòng, cùng nhau làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “chấn động địa cầu” và Đại thắng mùa xuân năm 1975, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH.

Hai là, đi lên CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng của chính lịch sử dân tộc Việt Nam và phù hợp với xu thế của thời đại.

Vào những năm đầu thế kỷ 20, trước tình cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, nhân dân phải chịu cảnh áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, đã có rất nhiều phong trào yêu nước nổ ra, song tất cả đều lâm vào bế tắc và thất bại. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự bế tắc và thất bại đó, nhưng nguyên nhân sâu xa và chủ yếu là chưa có đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc đúng đắn.

Trong bối cảnh lịch sử ấy, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước, quan sát và tìm hiểu chủ nghĩa tư bản, tìm hiểu cuộc sống của người dân ở các nước thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đi đến kết luận, cách mạng tư sản là cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng chưa đến nơi, vì cách mạng thành công chỉ đem lại lợi ích cho thiểu số giai cấp, còn đông đảo quần chúng lao động vẫn chịu áp bức, bóc lột. Từ tiếng vang của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Qua nghiên cứu, phân tích một cách thấu đáo, Người đi đến kết luận: Con đường cứu nước giải phóng dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản, chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Từ khi ra đời, với đường lối cách mạng đúng đắn là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên đánh bại thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Tiếp đó, Đảng lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện 40 năm qua đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 đạt hơn 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần năm 2020; chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021. So với mốc đổi mới từ năm 1986, GDP của Việt Nam tăng từ 4,5 tỷ USD lên hơn 514 tỷ USD, tăng hơn 114 lần; GDP bình quân đầu người từ 74USD lên 5.026USD, tăng gần 68 lần. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện căn bản và toàn diện. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,766 điểm vào năm 2025, thuộc nhóm nước phát triển con người cao.

Từ một nước gần như bị "bế quan tỏa cảng" (trước năm 1986), Việt Nam ngày nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao rộng rãi trên thế giới, trong đó có tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc; có khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 45 đối tác, là thành viên của 70 tổ chức quốc tế quan trọng và 17 hiệp định thương mại tự do. Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào tối 28-8-2026 tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Từ một đất nước chịu nhiều mất mát, hy sinh, nhân dân Việt Nam đã kiên cường giành và giữ vững nền độc lập, thống nhất đất nước qua những thăng trầm của lịch sử; từng bước xây dựng một quốc gia hòa bình, ổn định, phát triển, nhân dân có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc và phát huy quyền làm chủ đất nước, là điểm đến tươi đẹp, an toàn, thân thiện, giàu lòng mến khách của đông đảo nhà đầu tư và bạn bè quốc tế”. Những thành tựu đó đã khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.

Tựu trung, mục tiêu của CNXH là giải phóng giai cấp, giải phóng con người và giải phóng xã hội khỏi áp bức, bóc lột, bất công, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, hoàn toàn thống nhất với tinh thần dân tộc: Đoàn kết, tự chủ, tự tôn, tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vì thế, âm mưu đối lập giữa CNXH với tinh thần dân tộc Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động đều đi ngược lại ý chí, nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp hiến, hợp pháp của nhân dân Việt Nam, cần phải vạch trần, đấu tranh bác bỏ./.

Báo QĐND

Khoa CMKTĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NHỚ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH Sáng 2-9, tại Đền thờ Bác Hồ (Ba Vì, Hà Nội)...
03/09/2026

Khoa CMKT
ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NHỚ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Sáng 2-9, tại Đền thờ Bác Hồ (Ba Vì, Hà Nội), Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì Lễ dâng hương tưởng nhớ 57 năm Ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Các đồng chí: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã gửi hương, hoa, lễ vật dâng viếng Bác.

Dự lễ dâng hương có các đồng chí: Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Thượng tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Cùng dự có thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, thủ trưởng Tổng cục Chính trị, các đồng chí lãnh đạo TP Hà Nội.

Hôm nay, kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2-9, đúng dịp 57 năm Ngày mất của Người, các đồng chí đại diện lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đại diện toàn thể đồng chí, đồng bào cùng hội tụ về Đền thờ Bác Hồ, thành kính dâng hương, dâng hoa, dâng lễ vật theo phong tục, tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của Người. Đồng thời, cũng là dịp để toàn thể đồng chí, đồng bào cùng hồi tưởng những lời Người đã dạy, những việc Người đã làm, ôn lại tấm gương đạo đức cách mạng “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” của Người.

Kỷ niệm 57 năm thực hiện Di chúc của Người, 81 năm Bác đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, bám sát những tư tưởng lớn trong Di chúc của Người, đoàn kết, thống nhất, chung sức đồng lòng xây dựng đất nước Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay, từng bước hướng tới mục tiêu xây dựng nước Việt Nam vươn tới những tầm cao mới, ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Trong không khí trang nghiêm, xúc động, toàn thể đồng chí, đồng bào có mặt tại lễ dâng hương xin hứa trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục kế thừa, phát huy mạnh mẽ truyền thống vẻ vang, những bài học quý báu của Đảng; khắc phục mọi khó khăn, đẩy lùi nguy cơ; tăng cường đoàn kết, thống nhất, chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, phát huy cao nhất mọi nguồn lực; ra sức học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách của Người thường xuyên, thực chất, xây dựng mỗi gia đình, mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi doanh nghiệp, mỗi bộ, ngành, mỗi địa phương ngày càng phát triển, góp phần xây dựng “… Một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh…” như điều mong muốn của Bác trong Di chúc./.

Báo QĐND

Khoa CMKTDI CHÚC CỦA BÁC VÀ SỨC MẠNH LÒNG DÂN TRONG KỶ NGUYÊN MỚI Hôm nay, ngày 2-9 (tức ngày 21 - 7 năm Bính Ngọ) là ng...
03/09/2026

Khoa CMKT
DI CHÚC CỦA BÁC VÀ SỨC MẠNH LÒNG DÂN TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Hôm nay, ngày 2-9 (tức ngày 21 - 7 năm Bính Ngọ) là ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa. 57 năm đã qua, đọc lại Di chúc của Bác trong thời điểm đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, chúng ta càng thấm thía một chân lý xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước: Sức mạnh bền vững của Việt Nam bắt nguồn từ nhân dân, từ đại đoàn kết toàn dân tộc và từ niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội. Trong một thế giới biến động nhanh, khó lường, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc vừa là yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, vừa là điều kiện quy tụ nguồn lực cho khát vọng Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Từ lời Bác dặn về đoàn kết đến sức mạnh của lòng dân

Có những văn kiện được viết cho một thời điểm lịch sử, nhưng sức sống lại vượt qua thời gian. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện như vậy.

Những dòng Bác viết trong những năm cuối đời không dài, ngôn từ giản dị, nhưng chứa đựng một tầm nhìn rất xa về Đảng, về nhân dân, về đoàn kết, về con người và về tương lai đất nước sau ngày toàn thắng. Đọc Di chúc hôm nay, điều khiến chúng ta xúc động không chỉ là tình cảm sâu nặng của Bác dành cho đồng bào, chiến sĩ, mà còn là niềm tin đặc biệt của Người vào sức mạnh của nhân dân và vào khả năng dân tộc ta vượt qua mọi thử thách khi giữ được sự đoàn kết, thống nhất.

Bác căn dặn phải "giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình". Điều ấy không chỉ nói về nguyên tắc tổ chức của một Đảng cầm quyền. Sâu xa hơn, đó là lời nhắc rằng muốn quy tụ được sức mạnh của toàn dân thì trước hết Đảng phải trong sạch, gương mẫu, thống nhất về ý chí và hành động, phải thật sự xứng đáng với niềm tin của nhân dân. Đoàn kết trong Đảng tạo nên cơ sở cho đoàn kết trong xã hội; niềm tin của nhân dân tạo nên nền tảng để mọi chủ trương lớn trở thành hành động tự giác của hàng triệu con người.

Điều đặc biệt trong Di chúc là Bác không nhìn nhân dân như một khái niệm chung chung. Người nghĩ đến từng số phận cụ thể sau chiến tranh. Bác viết: “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Trong suy nghĩ của Người có thương binh, gia đình liệt sĩ, thanh niên, phụ nữ, những người đã đóng góp cho cách mạng và cả những người cần được giúp đỡ để trở thành công dân tốt. Chính từ cách nhìn ấy, chúng ta hiểu sâu sắc hơn tư tưởng “dân là gốc”: Nhân dân không chỉ là lực lượng làm nên lịch sử, mà còn là mục tiêu của mọi sự hy sinh, mọi cố gắng và mọi thành quả phát triển.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh chân lý đó bằng những trải nghiệm rất cụ thể. Không có lòng dân, không thể có những đoàn dân công mở đường, những bà mẹ che chở bộ đội, những làng quê trở thành hậu phương, những đoàn thuyền không số vượt biển, những tuyến đường ở Trường Sơn nối tiền tuyến với hậu phương. Không có lòng dân, một dân tộc nhỏ bé khó có thể vượt qua những cuộc chiến tranh khốc liệt để giành và giữ độc lập. Chính sự gắn bó máu thịt giữa quân với dân đã tạo nên một kiểu sức mạnh rất Việt Nam: Sức mạnh mà ở đó người lính chiến đấu trong tình yêu thương, đùm bọc của nhân dân; nhân dân nhìn thấy trong người lính hình ảnh của con em mình và niềm tin vào Tổ quốc.

Vì thế, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ không chỉ được tạo nên trên thao trường hay trong chiến đấu. Phẩm chất ấy được bồi đắp trong mối quan hệ với nhân dân. Những lúc thiên tai, bão lũ, dịch bệnh, ở biên giới, hải đảo xa xôi, hình ảnh người lính có mặt ở nơi gian khó nhất, giúp dân dựng lại mái nhà, cứu người, chuyển lương thực, thuốc men... chính là cách thiết thực để củng cố lòng tin. “Thế trận lòng dân” vì vậy không phải một khái niệm trừu tượng; nó được tạo nên từ vô vàn hành động cụ thể, từ sự gần dân, hiểu dân, trọng dân, giúp dân và bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân.

Nhìn theo chiều sâu đó, Di chúc của Bác không chỉ để lại những bài học về xây dựng Đảng hay chăm lo con người, mà còn gợi mở một nguyên lý căn bản của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:

Sức mạnh quốc gia trước hết phải được xây dựng trên nền tảng đồng thuận xã hội. Vũ khí có thể hiện đại hơn, công nghệ có thể thay đổi rất nhanh, phương thức tác chiến có thể khác trước, nhưng nhân tố con người và lòng dân vẫn giữ vai trò quyết định. Bởi một đất nước chỉ thật sự vững mạnh khi người dân thấy mình là chủ nhân của đất nước, tin vào con đường phát triển, sẵn sàng đóng góp trí tuệ, công sức và cùng chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng, với Tổ quốc.

Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong kỷ nguyên mới

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với những mục tiêu rất cao cho năm 2030 và 2045. Cùng với cơ hội lớn từ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, ch.uyển đ.ổi s.ố và hội nhập quốc tế, chúng ta cũng phải đối diện với một môi trường an ninh ngày càng phức tạp.

Những thách thức đối với một quốc gia hôm nay không chỉ đến từ nguy cơ xung đột vũ trang, mà còn từ an ninh mạng, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, tội phạm xuyên quốc gia, thông tin sai lệch, sự phân hóa xã hội và những tác động có thể làm suy giảm niềm tin. Chính vì vậy, bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới phải được hiểu rộng hơn: Bảo vệ chủ quyền, chế độ, lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời bảo vệ môi trường hòa bình, sự ổn định xã hội và niềm tin của nhân dân.

Trong bối cảnh ấy, tư tưởng của Bác về nhân dân càng cho thấy giá trị thời sự sâu sắc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”, phát huy vai trò chủ thể và sức mạnh của nhân dân. Một thông điệp rất đáng suy ngẫm là: “Mục tiêu cao nhất, đích đến cuối cùng là nhân dân được thụ hưởng thành quả của phát triển”. Đó cũng chính là nền tảng sâu xa để củng cố lòng dân. Khi người dân được thụ hưởng thành quả phát triển một cách công bằng, cảm nhận rõ sự tiến bộ trong đời sống, thấy quyền và lợi ích chính đáng của mình được tôn trọng, bảo vệ, thì niềm tin xã hội được bồi đắp và sức mạnh quốc gia được nhân lên.

Với Quân đội nhân dân Việt Nam, xây dựng “thế trận lòng dân” là một nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt. Quân đội càng tiến lên hiện đại, càng phải giữ gìn nguồn sức mạnh làm nên bản chất của mình: Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Hiện đại hóa Quân đội không bao giờ đồng nghĩa với xa dân. Trái lại, trong điều kiện mới, yêu cầu đặt ra là phải đồng thời hiện đại về vũ khí, trang bị, khoa học quân sự và sâu sắc hơn trong công tác dân vận, trong khả năng nắm bắt đời sống xã hội, dự báo những vấn đề tác động đến lòng dân và chủ động tham gia giải quyết những khó khăn của nhân dân.

Tại Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ ba của Quân chủng Hải quân ngày 28-2-2026, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) yêu cầu Hải quân phải “là lực lượng nòng cốt, là điểm tựa vững chắc cho ngư dân vươn khơi, bám biển”.

Có thể thấy rõ, hình ảnh “điểm tựa” ấy có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi biển, đảo. Người lính ở bất kỳ nơi đâu cũng luôn là điểm tựa của nhân dân: Điểm tựa về an ninh, an toàn; điểm tựa khi thiên tai, hoạn nạn; điểm tựa về niềm tin và kỷ cương; điểm tựa để người dân yên tâm lao động, sản xuất, xây dựng cuộc sống và cùng tham gia bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng “thế trận lòng dân” trong kỷ nguyên số còn đòi hỏi một năng lực mới. Trên không gian mạng, ranh giới địa lý trở nên mờ hơn, thông tin có thể lan truyền chỉ trong vài giây, và những tác động đến tâm lý xã hội có thể diễn ra trước khi chúng ta kịp nhận diện đầy đủ. Bởi vậy, củng cố lòng dân không thể chỉ dựa vào tuyên truyền một chiều. Điều quan trọng hơn là cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch, thuyết phục; nâng cao năng lực truyền thông chính sách; tôn trọng những ý kiến xây dựng; tăng sức đề kháng của xã hội trước tin giả, luận điệu xuyên tạc; đồng thời, tạo ra những nội dung tích cực có khả năng khơi dậy niềm tự hào, trách nhiệm công dân và tình yêu Tổ quốc.

Ở phương diện này, văn hóa có một vai trò rất quan trọng. Một “thế trận lòng dân” bền vững cần được xây dựng trên nền tảng văn hóa: Lòng yêu nước, nghĩa đồng bào, tinh thần đoàn kết, ý thức kỷ luật, trách nhiệm với cộng đồng, sự tôn trọng và niềm tin giữa con người với con người.

Trong chiến tranh, văn hóa giúp dân tộc chúng ta tạo nên sức mạnh tinh thần để vượt qua hy sinh, gian khổ. Trong hòa bình, văn hóa phải tiếp tục tạo ra sức mạnh để xã hội không bị chia cắt bởi ích kỷ, vô cảm, tin giả hay những giá trị lệch chuẩn. Một xã hội có nền tảng văn hóa vững vàng chính là một xã hội có khả năng tự bảo vệ tốt hơn trước những tác động từ bên ngoài và những nguy cơ suy yếu từ bên trong.

Củng cố lòng dân cũng đòi hỏi mỗi chính sách phát triển phải thật sự hướng tới người dân. Không thể có “thế trận lòng dân” vững chắc nếu những bức xúc chính đáng kéo dài không được giải quyết; nếu cán bộ xa dân; nếu quyền lợi hợp pháp của người dân không được lắng nghe và bảo vệ. Vì vậy, xây dựng quốc phòng toàn dân phải gắn chặt với xây dựng một Nhà nước phục vụ, một nền hành chính hiệu quả, một xã hội công bằng và một môi trường phát triển, trong đó mỗi người đều có cơ hội vươn lên. Chăm lo đời sống nhân dân chính là một phương thức xây dựng tiềm lực quốc phòng từ gốc.

Kỷ nguyên mới cũng đặt ra trách nhiệm lớn đối với thế hệ trẻ. Trong Di chúc, Bác căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Hôm nay, bồi dưỡng thế hệ trẻ không chỉ là trao truyền lý tưởng, mà còn phải giúp họ có năng lực làm chủ khoa học - công nghệ, có bản lĩnh trước những luồng thông tin phức tạp, có khả năng hội nhập mà không đánh mất căn cước, có ý chí lập thân, lập nghiệp gắn với khát vọng phụng sự đất nước. Một thế hệ trẻ tự tin, yêu nước, sáng tạo và có trách nhiệm sẽ là nguồn lực đặc biệt quan trọng của cả xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày 2-9, nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nhớ đến Người đã đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam mới, đồng thời nhớ ngày Người đi xa và để lại bản Di chúc thiêng liêng. Hai dấu mốc ấy gặp nhau trong một ý nghĩa sâu xa: Độc lập phải được giữ gìn bằng sức mạnh của toàn dân; và thành quả của độc lập cuối cùng phải trở thành cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó cũng là sợi chỉ đỏ nối tư tưởng Hồ Chí Minh với yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới hôm nay.

57 năm thực hiện Di chúc của Bác, đất nước đã đi một chặng đường dài. Nhưng những lời Người căn dặn vẫn như đang nhắc nhở mỗi chúng ta về điều căn bản nhất: Muốn đi xa phải dựa vào dân, muốn giữ nước phải giữ lòng dân, muốn đất nước mạnh phải làm cho nhân dân tin tưởng và cùng chung khát vọng. Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc vì thế không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang hay của riêng lĩnh vực quốc phòng, mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Khi lòng dân quy tụ, khi ý Đảng hòa cùng lòng dân, khi Quân đội luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, chúng ta sẽ có một nguồn sức mạnh đủ lớn để vừa giữ vững hòa bình, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, vừa đưa Việt Nam vững vàng tiến bước trong kỷ nguyên mới./.

Báo QĐND

Khoa CMKTCHỦ TỊCH QUỐC HỘI TRẦN THANH MẪN DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NHỚ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH Trong không khí cả nước kỷ niệm 81 n...
03/09/2026

Khoa CMKT
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI TRẦN THANH MẪN DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NHỚ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Trong không khí cả nước kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 và 57 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiều 2-9, tại Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã tới dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nhà 67, Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.

Trong không khí trang nghiêm, xúc động, thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn thành kính thắp nén hương thơm bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhà lãnh đạo thiên tài, Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta. Người đã cống hiến, hy sinh trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đấu tranh cho hòa bình và hạnh phúc của dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới. Người đã đặt nền móng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trò chuyện với cán bộ, nhân viên Khu di tích, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn ghi nhận và biểu dương tập thể cán bộ, công nhân viên Khu di tích đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giữ gìn, bảo vệ nguyên vẹn các hiện vật gắn với cuộc đời của Bác; mong muốn cán bộ, công nhân viên Khu di tích tiếp tục nỗ lực trong việc giữ gìn, bảo quản các kỷ vật, tư liệu về Bác cho các thế hệ mai sau; làm tốt việc giới thiệu với nhân dân và bạn bè, du khách quốc tế về cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Báo QĐND

Khoa CMKTTHIÊNG LIÊNG LÁ CỜ TỔ QUỐCNgày Quốc khánh 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, trong gió thu lồng lộng,...
03/09/2026

Khoa CMKT
THIÊNG LIÊNG LÁ CỜ TỔ QUỐC

Ngày Quốc khánh 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, trong gió thu lồng lộng, trên kỳ đài phấp phới tung bay lá cờ Tổ quốc với sắc đỏ tươi và ngôi sao vàng năm cánh rực rỡ. Hình ảnh ấy đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của đất nước.

Một đất nước hình chữ S mà nhà thơ Huy Cận đã đúc kết rất hay, hội tụ hào khí thiêng liêng của trầm tích lịch sử và sự mềm mại, uyển chuyển, nhân văn của trầm tích văn hóa: “Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững/ Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa/ Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng/ Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa”.

Trước ngày Nam Kỳ khởi nghĩa, tác giả Nguyễn Hữu Tiến, một chiến sĩ cách mạng đã vẽ một lá cờ đỏ, đính ngôi sao vàng năm cánh ở giữa, ý nghĩa của lá cờ được ông viết trong thơ: "Hỡi những ai máu đỏ da vàng/ Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc/ Nền cờ thắm máu đào vì nước/ Sao vàng tươi da của giống nòi". Ngôi sao năm cánh tượng trưng cho các tầng lớp nhân dân: sĩ, nông, công, thương, binh, ông hy vọng người Việt Nam sẽ "đoàn kết lại như sao vàng năm cánh". Ông cho in cờ ra nhiều bản và chuyển xuống các cơ sở bí mật. Mẫu cờ được Xứ ủy Nam Kỳ nhất trí và xuất hiện lần đầu trong khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23/11/1940.

Tại Kỳ họp thứ II, Quốc hội khóa I, ngày 31/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ Việt Nam ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn, bây giờ trừ khi cả 25 triệu đồng bào còn ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó”. Sau đó, Quốc kỳ Việt Nam nền đỏ sao vàng đã được Quốc hội Việt Nam chính thức công nhận trong bản Hiến pháp nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa thông qua ngày 9/11/1946: “Cờ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh”. Kể từ đó, cờ đỏ sao vàng năm cánh được sử dụng trang trọng trong tất cả các nghi lễ, các sự kiện quan trọng của nhà nước, trở thành biểu tượng thiêng liêng, đại diện cho sức mạnh tinh thần của dân tộc, thành niềm tự hào của nhân dân Việt Nam.

Trong niềm vui bất tận của ngày Quốc khánh 2/9/1945, với cảm hứng dâng trào, nhà thơ Xuân Diệu đã viết bài thơ dài “Ngọn quốc kỳ”: "Gió bay đi, mà nhạc cũng bay theo/ Đưa tin mới khắp trên trời nước Việt/ Hoa cỏ đón, mà núi sông cũng biết/ Cờ Việt Nam oanh liệt gió mừng bay".. Có thể nói, hình ảnh lá cờ Tổ quốc tung bay trên Quảng trường Ba Đình ngày ấy là biểu tượng kết tinh cho một nền độc lập, thống nhất, tỏa rạng non sông. Cùng với hình ảnh Bác Hồ: “Người đứng trên đài, lặng phút giây/ Trông đàn con đó, vẫy hai tay/ Cao cao vầng trán ngời đôi mắt/ Độc lập bây giờ mới thấy đây” (Tố Hữu), Người đã long trọng công bố với quốc dân và toàn thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

81 năm trôi qua, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, mỗi sáng lại vang lên bài hát “Tiến quân ca”: “Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc/ Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa/ Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước”... cùng lễ thượng cờ bên Lăng Bác dưới nắng thu Ba Đình lịch sử.

Lá cờ-hồn thiêng sông núi tung bay dưới bầu trời hòa bình hôm nay, rực sáng niềm tự hào về dân tộc anh hùng suốt 4.000 năm lịch sử, với ý chí quật cường, lòng yêu nước và tinh thần đại đoàn kết để giành độc lập, tự chủ. Tôi đã đến Lũng Cú, vùng cực Bắc của Tổ quốc, nơi có cột cờ cao lồng lộng với lá cờ rộng 54m², tượng trưng cho 54 dân tộc anh em cùng kề vai, sát cánh với các chiến sĩ Biên phòng canh giữ biên cương Tổ quốc. Tôi đã ra đảo Trường Sa và chứng kiến buổi lễ chào cờ trang trọng mà lòng trào dâng cảm xúc khi lá cờ Tổ quốc bay lên trong gió khơi mặn mòi vị biển. Tôi đã qua cầu Hiền Lương, vĩ tuyến 17 và hình dung lá cờ đỏ sao vàng trong những năm đất nước bị chia cắt bay lên với khát vọng hòa bình, thống nhất. Lá cờ như một biểu tượng của niềm tin, của lòng son sắt Bắc-Nam, của một dải thống nhất trọn vẹn non sông. Tôi đã đến Đất Mũi Cà Mau, nơi nhà thơ Xuân Diệu đã ví: “Tổ quốc tôi như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau”. Giữa bạt ngàn rừng đước là hình ảnh con thuyền có lá cờ đỏ sao vàng tung bay, khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Thật xúc động biết bao khi những ngư dân bám biển mang theo lá cờ như hồn thiêng non nước, treo lên đỉnh cột buồm như vươn tầm khát vọng vươn xa.

Một kỷ nguyên mới mở ra với bao khát vọng mới, cơ hội và tiềm lực mới, với một dáng hình đất nước mang thế rồng bay từ cội nguồn “Con Lạc, cháu Hồng”, bay lên cùng thiêng liêng lá cờ Tổ quốc./.

Báo Biên Phòng

Khoa CMKTVĂN HOÁ KẾT NỐI CỘNG ĐỒNG, TIẾP NỐI MẠCH NGUỒN CÁCH MẠNGNhững ngày cuối tháng Tám, từ Thủ đô Hà Nội ngàn năm vă...
03/09/2026

Khoa CMKT
VĂN HOÁ KẾT NỐI CỘNG ĐỒNG, TIẾP NỐI MẠCH NGUỒN CÁCH MẠNG

Những ngày cuối tháng Tám, từ Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, từ thành phố Hồ Chí Minh mang tên Người đến những bản làng xa xôi nơi biên cương Tổ quốc, sắc đỏ của lá cờ Tổ quốc cùng những giai điệu cách mạng được vang lên đang lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống văn hóa tinh thần. Hàng loạt chương trình nghệ thuật, triển lãm, phim ảnh, hoạt động cộng đồng được tổ chức nhân kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026) đã góp phần khơi dậy lòng yêu nước, hun đúc cội nguồn cách mạng, bồi đắp niềm tự hào dân tộc và ý chí xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời đại mới.

Khi lịch sử được kể bằng ngôn ngữ truyền thống và hiện đại

Hằng năm, mỗi dịp Quốc khánh, đời sống văn hóa nghệ thuật lại trở thành một dòng chảy đặc biệt kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai. Năm nay, chuỗi hoạt động văn hóa nghệ thuật được triển khai rộng khắp trên cả nước với quy mô và hình thức phong phú, đa dạng, mang đến cho công chúng nhiều không gian thưởng thức nghệ thuật giàu giá trị lịch sử và nhân văn.

Tại Hà Nội, chuỗi hoạt động văn hóa nghệ thuật chào mừng Quốc khánh được triển khai từ giữa tháng 8 với nhiều chương trình nghệ thuật đặc sắc do thành phố tổ chức. Các chương trình hòa nhạc, biểu diễn sân khấu, nghệ thuật truyền thống và đương đại cùng hướng tới chủ đề ca ngợi Đảng, Bác Hồ, quê hương đất nước và khát vọng phát triển của dân tộc. Đáng chú ý là triển lãm chuyên đề “Ký ức những năm tháng không quên” tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, khai mạc ngày 25/8 và kéo dài đến ngày 8/9, giới thiệu nhiều tác phẩm hội họa, điêu khắc phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và công cuộc kiến thiết đất nước. Mỗi tác phẩm là một lát cắt của lịch sử, nhắc nhở thế hệ hôm nay về những hy sinh to lớn của các thế hệ cha anh đã làm nên bản hùng ca vang dội, mang lại nền độc lập, tự do của dân tộc.

Tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Hà Nội), chuỗi hoạt động “Vui Tết Độc lập” năm 2026 diễn ra từ ngày 29/8 đến 2/9, với điểm nhấn là không gian chợ phiên vùng cao cùng sắc màu thổ cẩm và những sản vật đặc trưng miền núi. Chuỗi hoạt động quy tụ đồng bào thuộc 16 dân tộc cùng các nghệ nhân đến từ nhiều địa phương tham gia trình diễn dân ca, dân vũ, tái hiện lễ hội truyền thống và giới thiệu những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Không gian ấy đã trở thành biểu tượng sinh động của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nguồn sức mạnh to lớn làm nên thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam; đồng thời là động lực cho sự phát triển của đất nước hôm nay.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ quốc trong tim 2026” diễn ra tối 23/8 đã thu hút đông đảo khán giả. Bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại kết hợp các yếu tố lịch sử, chương trình tái hiện hành trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, công cuộc xây dựng đất nước và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Những tiết mục nghệ thuật được dàn dựng công phu không chỉ mang đến không gian hùng tráng, mà còn truyền tải thông điệp sâu sắc về lòng yêu nước và trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cũng tại thành phố mang tên Bác, từ ngày 19/8 đến 5/9 đã diễn ra nhiều cuộc triển lãm chuyên đề tại các địa điểm trung tâm, giới thiệu hàng nghìn hình ảnh, tư liệu về Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 và những thành tựu phát triển của đất nước sau 40 năm đổi mới. Những không gian trưng bày ấy đã trở thành “bảo tàng ký ức” sống động, giúp người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ tiếp cận lịch sử bằng những hình ảnh trực quan và giàu cảm xúc.

Điểm nổi bật trong các hoạt động tuyên truyền về lịch sử là sự kết hợp hài hòa giữa các hình thức truyền thống như sách, báo, triển lãm, sân khấu hóa hoặc những buổi sinh hoạt truyền thống với các sản phẩm sáng tạo thông qua không gian số. Nhiều MV ca nhạc, nghệ thuật, phim tài liệu, phim ngắn và sản phẩm truyền thông số được thực hiện một cách mới lạ, hấp dẫn đã góp phần đưa lịch sử đến gần hơn với công chúng, nhất là giới trẻ. Những ca khúc mới về Tổ quốc, về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về quê hương đất nước tiếp tục được giới thiệu rộng rãi trên mạng xã hội cũng đã tạo nên sức lan tỏa tích cực trong cộng đồng.

Điểm hẹn văn hóa nơi bản làng biên giới

Các hoạt động văn hóa nghệ thuật chào mừng Quốc khánh không chỉ được tổ chức ở các đô thị, trung tâm kinh tế - xã hội của đất nước mà đang lan tỏa mạnh mẽ tới những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tại nhiều địa bàn ở khu vực biên giới, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền về lịch sử cách mạng và truyền thống yêu nước. Những đêm giao lưu, những buổi sinh hoạt cộng đồng ở nhà văn hóa thôn bản hay sân đồn Biên phòng đã trở thành điểm hẹn văn hóa của người dân vùng biên mỗi dịp lễ lớn của đất nước.

Ở nơi địa đầu Tổ quốc hay dọc các tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng cùng đồng bào các dân tộc hát vang Quốc ca dưới lá cờ đỏ sao vàng tại các địa danh lịch sử luôn mang đến sức lay động đặc biệt. Đó không chỉ là hoạt động văn hóa, mà còn là biểu hiện sinh động của “thế trận lòng dân” nơi biên cương. Các đồn Biên phòng còn phối hợp tổ chức các cuộc thi tìm hiểu lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương, triển lãm ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về biên giới quốc gia và truyền thống Bộ đội Biên phòng. Qua những hoạt động ấy, nhận thức của đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới về chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia và trách nhiệm công dân ngày càng được nâng lên và trở thành những việc làm cụ thể để góp sức bảo vệ biên cương.

Đối với người dân trên mọi miền Tổ quốc, Quốc khánh không chỉ là ngày lễ lớn của đất nước, mà còn là dịp để bày tỏ lòng biết ơn đối với Đảng, Bác Hồ và những thế hệ cha anh đã hy sinh vì độc lập, tự do cho dân tộc. Nhiều địa phương vùng cao vẫn duy trì nét đẹp treo cờ Tổ quốc, tổ chức các hoạt động cộng đồng và gặp mặt truyền thống trong những ngày mùa Thu lịch sử. Ở một số tỉnh phía Bắc, ngày Tết Độc lập là ngày hội văn hóa được đồng bào các dân tộc mong đợi nhất trong năm. Đồng bào Mông, Thái, Dao, Mường từ khắp các bản làng khoác lên mình những bộ trang phục truyền thống rực rỡ sắc màu, nô nức xuống phố tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và các phiên chợ vùng cao. Tết Độc lập không chỉ là dịp gặp gỡ, giao lưu cộng đồng, mà còn là không gian gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số.

Không chỉ ở Tây Bắc, trên dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Bru - Vân Kiều cũng coi Quốc khánh 2/9 là ngày hội lớn của bản làng. Trong tiếng cồng chiêng, điệu múa truyền thống và những bữa cơm đoàn kết cộng đồng, đồng bào cùng ôn lại lịch sử truyền thống, nhớ ơn Đảng, Bác Hồ, bày tỏ niềm tin sắt son đối với với sự nghiệp cách mạng. Qua nhiều thế hệ, Tết Độc lập đã trở thành biểu tượng sinh động của tinh thần đoàn kết. Chính từ ngày hội đậm đà bản sắc ấy, tình yêu quê hương, đất nước được bồi đắp một cách tự nhiên, bền bỉ.

Các hoạt động văn hóa nghệ thuật chào mừng Quốc khánh không đơn thuần là những sự kiện mang tính lễ hội, đó còn là một bộ phận quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia, góp phần bồi đắp nền tảng tinh thần xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Văn hóa trở thành chất keo kết nối cộng đồng, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng vững chắc trên hành trình phát triển và hội nhập của đất nước./.

Báo Biên Phòng

Address

Vinh Yen

Telephone

+84866702358

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TAM ĐẢO XANH posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share