Thông tin và Cuộc sống

Thông tin và Cuộc sống Thông tin và Cuộc sống

https://www.facebook.com/story.php?story_fbid=1003064058788365&id=100072543395567&mibextid=wwXIfr&rdid=RV1UEcjYRuygM2CK ...
23/05/2026

https://www.facebook.com/story.php?story_fbid=1003064058788365&id=100072543395567&mibextid=wwXIfr&rdid=RV1UEcjYRuygM2CK #

Đồng hành vì lợi ích chung, bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn các giá trị văn hóa và xây dựng, phát triển quê hương

Những ngày qua, thông tin về việc cấp phép khai thác mỏ cát NTSH.10 và NTSH.10a (cát trên sông Hậu đoạn qua xã Lục Sĩ Thành và xã An Phú Tân) nhận được nhiều ý kiến quan tâm, băn khoăn của người dân, nhất là bà con sinh sống ở ấp Tân Qui, xã An Phú Tân.

Nhiều bà con chia sẻ nỗi lo về nguy cơ sạt lở, những tác động đến cảnh quan thiên nhiên, môi trường, các giá trị văn hóa, cũng như những trăn trở liên quan đến định hướng phát triển lâu dài của địa phương. Đây là những ý kiến rất xác đáng, thể hiện trách nhiệm và tình cảm gắn bó sâu sắc của người dân đối với quê hương.

Không thể phủ nhận rằng, bãi bồi ven bờ sông cồn Tân Qui (người dân địa phương gọi cồn Tiên) trải dài hàng ngàn mét là một vẻ đẹp hiếm có mà thiên nhiên ban tặng. Đó không chỉ là tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, mà còn là ký ức, là không gian sinh kế quen thuộc của nhiều thế hệ. Bên cạnh đó, Miếu Bà Chúa Xứ – di tích lịch sử cấp tỉnh - cũng là nơi sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng, gắn liền với đời sống văn hóa tinh thần của bà con trong vùng.
Ý thức rõ các giá trị thiêng liêng của vùng đất cù lao trong đời sống của người dân cũng như những tác động của việc khai thác cát đối với môi trường của khu vực, mọi chủ trương liên quan đến việc khai thác cát, cụ thể là khai thác 2 mỏ cát NTSH.10 và NTSH.10a đều được các cấp, các ngành cân nhắc hết sức thận trọng, trên cơ sở hài hòa giữa yêu cầu phát triển chung và bảo vệ những giá trị lâu dài của địa phương.
Trước tiên, cần khẳng định mục đích của việc đưa 2 mỏ cát NTSH.10 và NTSH.10a vào khai thác hoàn toàn phục vụ các dự án, công trình an ninh quốc phòng, dự án giao thông trọng điểm quốc gia để góp phần phát triển kinh tế - xã hội đồng bằng sông Cửu Long, đảm bảo an ninh quốc gia, không có tính chất mua bán. Do đó, căn cứ Nghị quyết 66.4/2025/NQ-CP ngày 21/9/2025 của Chính phủ về việc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024, quy trình cấp phép khai thác mỏ NTSH.10 và NTSH.10a được thực hiện theo cơ chế đặc thù (Điều 2, Nghị quyết 66.4/2025/NQ-CP). Và nội dung cấp phép theo hình thức đặc thù này tiếp tục được Quốc hội quan tâm và cụ thể hóa thành Luật. Ngày 11/12/2025 Quốc hội ban hành Luật số 147/2025/QH15 để sửa đổi bổ sung một số điều của Luật địa chất và khoáng sản. Theo đó, quy định cụ thể các trường hợp giao mỏ cát theo hình thức đặc thù để kịp thời khai thác phục vụ các dự án an ninh quốc phòng, dự án giao thông trọng điểm quốc gia
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tỉnh đánh đổi môi trường, đời sống người dân hay các giá trị văn hóa - lịch sử để đổi lấy các giá trị kinh tế, mà ngược lại, việc cấp phép khai thác mỏ NTSH.10 và NTSH.10a được tiến hành rất thận trọng: Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tiến hành khảo sát, đo đạc kỹ hiện trạng lòng sông, địa hình khu vực; lấy ý kiến các cơ quan, sở ngành có liên quan; mời các chuyên gia, nhà khoa học về môi trường, khoáng sản để họp hội đồng thẩm định Phương án kỹ thuật an toàn, bảo vệ môi trường khai thác cát, trong đó xem xét đánh giá tác động của việc khai thác cát đối với ổn định đường bờ, môi trường khu vực mỏ; chạy mô hình đánh giá tác động đến xói lở bờ sông khi đưa vào khai thác… Có thể khẳng định, việc cấp phép khai thác mỏ NTSH.10 và NTSH.10a được thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về các kiến nghị cụ thể của bà con, lãnh đạo tỉnh thấu hiểu mỗi kiến nghị đều xuất phát từ tình yêu quê hương, từ mong muốn giữ gìn những gì thân thuộc và bền vững. Lãnh đạo tỉnh luôn quan tâm, lắng nghe và chia sẻ một số thông tin phản hồi đến bà con:
Thứ nhất, về giá trị sinh thái và tiềm năng du lịch
Nhiều ý kiến cho rằng các bãi bồi tự nhiên, khi nước rút tạo thành không gian cảnh quan đẹp, có thể khai thác du lịch. Thực tế, đây là những giá trị cần được trân trọng. Tuy nhiên, cần nhìn nhận đầy đủ rằng các bãi bồi trên sông là hiện tượng biến động tự nhiên, không ổn định, có thể thay đổi theo mùa, theo dòng chảy. Trong một số trường hợp, chính sự hình thành các bãi bồi này lại làm thay đổi hướng dòng nước, tạo lạch sâu áp sát bờ, tiềm ẩn nguy cơ sạt lở, ảnh hưởng đến nhà cửa, đất sản xuất của người dân. Vì vậy, việc khai thác cát tại những khu vực đã được khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng không chỉ nhằm phục vụ công trình trọng điểm, mà còn góp phần điều chỉnh dòng chảy hợp lý hơn, hạn chế nguy cơ sạt lở.
Ngoài ra, tỉnh đã tiến hành rà soát quy hoạch du lịch trên tuyến sông, có thể khẳng định, về quy hoạch, tuyến sông Trà Ôn (nhánh trái sông Hậu), đoạn có 2 mỏ, không có quy hoạch cho hoạt động du lịch và có quy hoạch khoáng sản (02 mỏ cát được cấp phép nằm trong quy hoạch khoáng sản của tỉnh Vĩnh Long cũ tại Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND ngày 10/8/2018, ký hiệu mỏ NTSH.10, NTSH.10a).
Thứ hai, về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Miếu Bà Chúa Xứ – di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh
Miếu Bà Chúa Xứ Tân Qui không chỉ là một công trình, mà là nơi gửi gắm niềm tin, đời sống tâm linh của người dân trong vùng. Lo lắng của bà con về nguy cơ ảnh hưởng là hoàn toàn chính đáng. Vì vậy, nguyên tắc đặt ra là bảo vệ tuyệt đối khu vực di tích, không để hoạt động khai thác tác động đến nền móng, không gian hay sinh hoạt tín ngưỡng. Các cơ quan chức năng đã khoanh vùng bảo vệ, đồng thời có phương án theo dõi, giám sát thường xuyên để kịp thời xử lý nếu có bất kỳ dấu hiệu ảnh hưởng.
Thứ ba, về những cam kết trước đây của lãnh đạo tỉnh
Liên quan đến những cam kết trước đây của lãnh đạo tỉnh, cần nhìn nhận trong bối cảnh cụ thể của từng thời điểm. Những chủ trương, quyết sách mới của Đảng, Nhà nước luôn được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu thực tiễn và được xem xét trên cơ sở lợi ích tổng thể, lâu dài, trong đó có các công trình trọng điểm mang tính liên vùng, quốc gia. Tuy nhiên, tinh thần nhất quán và không thay đổi là luôn đặt lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước, địa phương lên trên hết; trách nhiệm của chính quyền trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người dân. Do đó, việc đưa vào khai thác mỏ NTSH.10, NTSH.10a là vì mục tiêu chung của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời đi kèm với các giải pháp kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế tối đa tác động tiêu cực.
Thứ tư, về nguy cơ sạt lở, sụt lún do thay đổi kết cấu tự nhiên của cồn
Đây là một trong những lo ngại lớn nhất, bởi nó gắn trực tiếp với nhà cửa, vườn tược, sinh kế của người dân. Do đó, trước khi cấp phép, các cơ quan chuyên môn đã tiến hành đánh giá tác động địa chất, thủy văn. Đồng thời khẳng định 02 mỏ được cấp phép không nằm dưới chân cồn Tân Qui, vị trí mỏ từ giữa lòng sông Trà Ôn (nhánh trái sông Hậu) về phía bờ xã Lục Sĩ Thành (nằm hoàn toàn trên địa phận xã Lục Sĩ Thành). Trước khi cấp phép, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với đại diện Ủy ban nhân dân xã An Phú Tân, đại diện Ban mặt trận ấp Tân Qui khảo sát khoảng cách mỏ đến bãi bồi (cồn Tiên) và cồn Tân Qui. Đồng thời, sau cấp phép (ngày 29/4/2026), lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Nội chính, các sở, ngành, địa phương khảo sát, kiểm tra lại khoảng cách mỏ đến chân cồn. Qua khảo sát, đo đạc thực tế xác định khoảng cách từ mỏ cát NTSH.10 cách chân bãi bồi (cồn Tiên) là 190m, cách cồn Tân Qui từ 329m đến 348m và mỏ cát NTSH.10a cách chân bãi bồi là 170m - 225m, cách cồn Tân Qui từ 330m đến 350m; đối chiếu với quy định của pháp luật về khai thác khoáng sản (cát san lấp), các thành viên tham gia khảo sát khẳng định việc khai thác 02 mỏ cát trên phục vụ công trình khẩn cấp quốc phòng, an ninh và công trình giao thông trọng điểm quốc gia đảm bảo đúng quy chuẩn, quy định của pháp luật về khai thác khoáng sản, không có khả năng gây sạt lở cồn Tiên và cồn Tân Qui.
Về hình thái lòng sông: do việc hình thành cục bộ các bãi bồi giữa lòng sông dẫn đến dòng chảy, lạch sâu hình thành sát bờ xã Lục Sĩ Thành và bờ xã An Phú Tân (khu vực cấp phép khai thác mỏ cho Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn); và sát bờ xã Lục Sĩ Thành (khu vực cấp phép khai thác mỏ cho Công ty Cổ phần Đầu tư Xây lắp Miền Nam). Qua thẩm định, đánh giá của Hội đồng, kết quả chạy mô hình cho thấy, việc khai thác mỏ (độ sâu tối đa -15m), cách bờ ít nhất 120m thì đảm bảo an toàn cho đường bờ. Ngoài việc cung cấp nguồn vật liệu cung cấp cho các công trình an ninh quốc phòng, công trình trọng điểm quốc gia, còn chỉnh trị dòng chảy, đưa dòng chảy ra xa bờ xã Lục Sĩ Thành (ở cả 02 khu mỏ), xa bờ xã An Phú Tân (khu mỏ cấp cho Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn).
Về cơ sở lý thuyết khoa học đã được thẩm định, nếu các đơn vị khai thác đúng thiết kế, phương án đã được phê duyệt thì đảm bảo không gây sạt lở. Tuy nhiên, để theo dõi, giám sát hoạt động khai thác, vận chuyển cát đảm bảo đúng quy định pháp luật, trên phương tiện khai thác phải lắp đặt camera giám sát, lắp đặt thiết bị giám sát hành trình trên phương tiện khai thác để truyền dữ liệu về Sở Nông nghiệp và Môi trường, các cơ quan có liên quan. Theo quy định của Luật Địa chất và Khoáng sản, việc đo vẽ, theo dõi địa hình đáy sông thực hiện định kỳ 1 lần/năm; tuy nhiên, để giám sát chặt chẽ, không để việc khai thác vượt độ sâu cho phép (-15m), Ủy ban nhân dân tỉnh ghi rõ trong Giấy phép yêu cầu 02 công ty phải thực hiện đo vẽ địa hình đáy sông định kỳ 1 lần/tháng; thực hiện cắm cọc giám sát 02 bờ sông theo dõi giám sát khi có dấu hiệu sạt lở dừng khai thác, khắc phục (mỏ NTSH.10 cắm 33 cọc: mỗi bờ 16 cọc, đuôi cồn kênh Đào 01 cọc; mỏ NTSH.10a cắm 34 cọc, mỗi bờ 17 cọc).
Sau khi được cấp Giấy phép khai thác, 02 đơn vị được cấp phép đã thực hiện ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam (mỏ NTSH.10 là 892 triệu đồng, mỏ NTSH.10a là 899 triệu đồng). Trong quá trình khai thác, nếu xảy ra sạt lở, đơn vị khai thác sẽ dừng ngay việc khai thác, tìm nguyên nhân gây sạt lở và thực hiện bồi thường và khắc phục. Đồng thời, hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai gói thầu thi công lắp đặt camera chuyên dụng giám sát hoạt động khai thác cát, sẽ lắp 01 camera giám sát tại 02 mỏ này, dữ liệu được truyền 24/24 về Sở Nông nghiệp và Môi trường, có chia sẻ cho Ủy ban nhân dân 02 xã Lục Sĩ Thành, An Phú Tân và Tổ Công tác giám sát hoạt động khai thác mỏ cát NTSH10 và NTSH10a để giám sát.
Thứ năm, về nguy cơ ảnh hưởng đến hạ tầng đã được đầu tư
Các tuyến giao thông, bờ kè, đê bao hiện có là thành quả lâu dài của Đảng, Nhà nước và Nhân dân cùng xây dựng qua bao thế hệ nên việc bảo vệ là yêu cầu bắt buộc. Các phương án khai thác đều đã tính đến yếu tố này, với nguyên tắc không làm ảnh hưởng đến các công trình hiện hữu. Đồng thời, trách nhiệm của đơn vị thi công là phải có cam kết cụ thể; nếu để xảy ra hư hỏng, sạt lở thì phải khắc phục, bồi hoàn theo quy định như phần trên đã trình bày.
Để một chủ trương đúng, phát huy hiệu quả tích cực trong đời sống xã hội, một điều quan trọng là, quá trình thực hiện không thể thiếu sự giám sát, góp ý của chính người dân. Những phản ánh kịp thời từ cơ sở sẽ giúp các cơ quan chức năng điều chỉnh phù hợp, bảo đảm vừa thực hiện nhiệm vụ chung, vừa giữ gìn môi trường sống, sinh kế và các giá trị văn hóa của địa phương.
Phát triển luôn đi kèm với những tác động nhất định. Nhưng nếu có sự đồng thuận, minh bạch và trách nhiệm từ cả chính quyền và Nhân dân, chúng ta hoàn toàn có thể vừa thực hiện các công trình trọng điểm, vừa bảo vệ được những gì quý giá của quê hương.
Sự chia sẻ, đồng hành của bà con không chỉ góp phần vào thành công của công trình, mà còn là yếu tố quan trọng để bảo đảm mọi quyết sách đều hướng đến mục tiêu cuối cùng: phát triển bền vững, nâng cao đời sống và gìn giữ giá trị lâu dài cho các thế hệ mai sau.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Vĩnh Long
Sở Nông nghiệp và Môi trường

https://www.facebook.com/story.php?story_fbid=1001182452309859&id=100072543395567&mibextid=wwXIfr&rdid=CBczlW3dpHIyJngV ...
23/05/2026

https://www.facebook.com/story.php?story_fbid=1001182452309859&id=100072543395567&mibextid=wwXIfr&rdid=CBczlW3dpHIyJngV #

CHẤP HÀNH NGHIÊM CHỦ TRƯƠNG KHAI THÁC CÁT PHỤC VỤ CÁC CÔNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM QUỐC GIA - ĐỒNG THUẬN, TRÁCH NHIỆM, VÌ LỢI ÍCH CHUNG

Tài nguyên khoáng sản, trong đó có cát lòng sông là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý[1]. Việc quản lý, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này không chỉ là hoạt động kinh tế đơn thuần, mà còn là trách nhiệm chung nhằm phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc và phát triển bền vững đất nước.

Trong tiến trình phát triển đất nước, việc quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản luôn được Đảng và Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan trọng, gắn chặt với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, đồng thời xác định “Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức…”[2] là một trong những đột phá chiến lược thúc đẩy tăng trưởng. Cụ thể hóa Văn kiện Đại hội XIV, nhiều công trình giao thông trọng điểm quốc gia, công trình an ninh quốc phòng phục vụ phát triển nhanh và bền vững khu vực Đồng bằng sông Cửu Long được triển khai với tiến độ khẩn trương. Tuy nhiên, để đáp ứng tiến độ, hiệu quả đầu tư, các công trình đang đòi hỏi nguồn vật liệu xây dựng rất lớn, trong đó có cát san lấp.

Thực hiện nghĩa vụ địa phương đối với sự phát triển của đất nước, tỉnh Vĩnh Long đã chủ động rà soát, đánh giá trữ lượng, chất lượng cát và điều kiện khai thác cát trên địa bàn; tổ chức nghiên cứu, tham vấn ý kiến chuyên gia, tính toán kỹ lưỡng các yếu tố liên quan đến dòng chảy, môi trường và an toàn khu vực. Trên cơ sở đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã thống nhất chủ trương khai thác các mỏ cát đủ điều kiện là mỏ NTSH.10 và mỏ NTSH.10a trên sông Hậu (thuộc khu vực xã Lục Sĩ Thành và An Phú Tân).

Việc đưa các mỏ cát vào khai thác được thực hiện theo đúng quy định của Luật Địa chất và Khoáng sản, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương. Các phương án khai thác đều đã được xem xét, đánh giá tác động một cách thận trọng, với yêu cầu xuyên suốt là đảm bảo an toàn cho dòng sông, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến đời sống và tài sản của Nhân dân. Hoạt động khai thác được kiểm soát trong ngưỡng cho phép, có giám sát chặt chẽ và kịp thời điều chỉnh khi có phát sinh.

Việc khai thác 2 mỏ cát không chỉ cung cấp nguồn vật liệu cho các công trình an ninh, quốc phòng khẩn cấp, công trình trọng điểm quốc gia, mà còn góp phần điều chỉnh dòng chảy, đưa dòng chảy ra xa bờ xã Lục Sĩ Thành (ở cả 02 khu mỏ), xa bờ xã An Phú Tân (khu mỏ cấp cho Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn), hạn chế nguy cơ sạt lở bờ sông tại 2 xã Lục Sĩ Thành và An Phú Tân (vì hiện tại, đoạn sông khu vực thuộc xã Lục Sĩ Thành và xã An Phú Tân đã và đang hình thành cục bộ các bãi bồi giữa lòng sông dẫn đến dòng chảy, lạch sâu hình thành sát bờ xã Lục Sĩ Thành và bờ xã An Phú Tân, nguyên nhân gây sạt lở bờ); tăng nguồn thu ngân sách; tạo việc làm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Quan trọng hơn, khi các tuyến giao thông hoàn thành, tạo điều kiện để tỉnh mở rộng kết nối giao thương, thu hút đầu tư, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống Nhân dân, thiết thực góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 02 con số mà Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I đã đề ra.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, một bộ phận người dân còn băn khoăn, lo ngại về những tác động đến môi trường, sinh kế và đời sống. Đây là tâm lý chính đáng, cần được lắng nghe, chia sẻ và giải quyết thỏa đáng. Tỉnh đã và đang chỉ đạo triển khai đồng bộ nhiều giải pháp vừa khai thác hiệu quả các mỏ cát vừa bảo vệ cảnh quan, môi trường và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho bà con, như: chạy mô hình thủy lực để mô phỏng, đánh giá các tác động đến đường bờ, lòng sông khi khai thác, thực hiện cắm cọc giám sát 02 bờ sông để theo dõi, giám sát tình trạng sạt lở (nếu có), đo vẽ địa hình đáy sông định kỳ 01 tháng/01 lần để theo dõi độ sâu khai thác, (Luật Địa chất và Khoáng sản quy định 06 tháng/01lần), ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, lắp đặt camera chuyên dụng giám sát hoạt động khai thác cát, thiết lập các kênh thông tin để người dân tham gia giám sát…

Sự đồng thuận của Nhân dân là chìa khóa thành công của mỗi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mỗi người dân cần phát huy hiệu quả quyền và nghĩa vụ công dân đối với sự phát triển của đất nước; cần hiểu đúng bản chất của chủ trương khai thác cát phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia; đồng thời, tỉnh táo trước những thông tin chưa được kiểm chứng trên không gian mạng, tránh bị tác động bởi những thông tin chưa được kiểm chứng trên không gian mạng, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Sự đồng hành, chia sẻ và giám sát của Nhân dân chính là yếu tố quan trọng để đảm bảo quá trình triển khai được công khai, minh bạch và hiệu quả.

Với quyết tâm của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân, tin tưởng rằng, chủ trương khai thác cát phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia sẽ được triển khai đúng quy định, an toàn, hiệu quả, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của đất nước. Mỗi khối cát hôm nay không chỉ góp phần xây dựng những công trình giao thông hiện đại, mà còn là nền tảng cho tương lai phát triển bền vững, thịnh vượng của quê hương và đất nước.

Đồng thuận hôm nay - phát triển ngày mai!

Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Vĩnh Long
Sở Nông nghiệp và Môi trường

[1] Điều 53, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

https://www.facebook.com/HUONG.SEN.VIET.2018/posts/pfbid0jrWao1hM7FtHmC2BdQkNqHaZVCk3RrKgMiVcTxL9JKvc4uGCH8L1CUzYoECFLFF...
07/05/2026

https://www.facebook.com/HUONG.SEN.VIET.2018/posts/pfbid0jrWao1hM7FtHmC2BdQkNqHaZVCk3RrKgMiVcTxL9JKvc4uGCH8L1CUzYoECFLFFvl

Chính phủ Ấn Độ đặc biệt coi trọng chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Chính phủ Ấn Độ đặc biệt coi trọng chuyến thăm sắp tới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ, coi đây là yếu tố quan trọng góp phần tạo thêm động lực cho quan hệ song phương vốn đã rất mạnh mẽ và năng động, theo Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Ấn Độ tại Việt Nam Tshering W. Sherpa.

Đại sứ Tshering W. Sherpa đưa ra nhận định trên trước thềm chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 5–7/5/2026. Chuyến thăm diễn ra đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm Đối tác Chiến lược Toàn diện, hướng tới định hình khuôn khổ hợp tác song phương giai đoạn tiếp theo.

Đại sứ Tshering W. Sherpa nhấn mạnh, quan hệ Ấn Độ – Việt Nam là mối quan hệ "bầu trời không phải là giới hạn", mang tính năng động, hướng tới tương lai và có tầm nhìn dài hạn.

Hai nước không chỉ củng cố các lĩnh vực hợp tác truyền thống như chính trị, quốc phòng, an ninh, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực mới, thúc đẩy giao lưu nhân dân, tăng cường kết nối và đẩy mạnh thương mại song phương.

Theo Đại sứ, quan hệ Việt Nam-Ấn Độ là mối quan hệ đối tác "đa lĩnh vực, dựa trên nền tảng tin cậy và tôn trọng lẫn nhau".

Kể từ năm 2016, lãnh đạo hai nước đã có hơn 25 cuộc gặp cấp cao, phản ánh sự gắn kết chặt chẽ về chính trị. Hợp tác quốc phòng – an ninh được triển khai năng động ở tất cả các cấp. Trong khi đó, thương mại song phương tăng gấp đôi trong 10 năm qua, đạt khoảng 16 tỷ USD, song vẫn còn nhiều dư địa để phát triển.

Về kết nối, nếu như trước đây chưa có đường bay thẳng, thì hiện nay hai nước đã có gần 90 chuyến bay mỗi tuần, trở thành "hệ số nhân" thúc đẩy du lịch, giao lưu nhân dân và thương mại. Năm vừa qua, lượng khách trao đổi giữa hai nước đạt gần 900.000 lượt.

Hợp tác văn hóa tiếp tục là điểm sáng, với Phật giáo đóng vai trò là cầu nối tinh thần giữa hai nền văn minh lâu đời. Đặc biệt, việc tôn trí Xá lợi Đức Phật tại Việt Nam trong năm 2025 được xem là dấu mốc ý nghĩa trong quan hệ văn hóa – tâm linh giữa hai quốc gia.

Viết tiếp câu chuyện thành công Việt Nam – Ấn Độ

Đại sứ Tshering W. Sherpa bày tỏ tin tưởng mạnh mẽ vào triển vọng quan hệ hai nước, khẳng định "hành trình này chỉ mới bắt đầu".

Theo Đại sứ, quan hệ Ấn Độ – Việt Nam không chỉ được nhìn nhận trong khuôn khổ hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (từ năm 1972) hay 10 năm kể từ khi nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện (2016), mà còn bắt nguồn từ nền tảng gắn kết lâu đời giữa hai nền văn minh, trong đó Phật giáo là sợi dây kết nối xuyên suốt.

Đánh giá về triển vọng hợp tác, Đại sứ cho rằng, dù kim ngạch thương mại song phương đạt khoảng 16 tỷ USD, hai bên hoàn toàn có thể làm được nhiều hơn nữa. Cả hai quốc gia đều đang hưởng lợi từ cơ cấu dân số "giai đoạn vàng", xã hội giàu khát vọng và tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ. Đây là nền tảng quan trọng để chuyển hóa các giá trị chung và sự tin cậy thành các kết quả hợp tác cụ thể, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế.

Đại sứ Tshering W. Sherpa kỳ vọng hai nước sẽ mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới như công nghệ thông tin và truyền thông, đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ lượng tử, dược phẩm, cũng như các ngành công nghiệp như ô tô, vận tải và hạ tầng kết nối.

Về chiến lược, Việt Nam được xác định là đối tác chủ chốt của Ấn Độ trong chính sách "Hành động Hướng Đông" và trong tầm nhìn khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Hai nước cùng chia sẻ quan điểm thúc đẩy phát triển, hòa bình và ổn định, thay vì cạnh tranh.

Khẳng định vai trò trung tâm của người dân trong việc vun đắp quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Đại sứ nhấn mạnh giao lưu nhân dân chính là nền tảng bền vững nhất của quan hệ song phương. Ấn Độ cam kết tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Việt Nam nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng hợp tác, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp hai nước.

Với nền tảng vững chắc và dư địa hợp tác rộng mở, quan hệ Việt Nam – Ấn Độ được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thực chất và hiệu quả trong thời gian tới, Đại sứ Tshering W. Sherpa tin tưởng./.

Nguồn: Cổng TTĐT Chính phủ
Ảnh: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến sân bay quân sự Palam, thủ đô New Delhi (TTXVN)

https://www.facebook.com/HUONG.SEN.VIET.2018/posts/pfbid02mVrHwxKXz98GmWHyhV81zPmgKav8Ea8b7suLAfLfuZHP4vD1TFEQPwk5bApUPP...
07/05/2026

https://www.facebook.com/HUONG.SEN.VIET.2018/posts/pfbid02mVrHwxKXz98GmWHyhV81zPmgKav8Ea8b7suLAfLfuZHP4vD1TFEQPwk5bApUPP9xl

Dư luận Ấn Độ đánh giá cao chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Ngay trong ngày mở đầu chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ, truyền thông và giới chức nước chủ nhà đã đồng loạt đánh giá cao chuyến thăm, cho rằng đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt, diễn ra đúng dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.

Theo phóng viên TTXVN tại New Delhi, dư luận Ấn Độ nêu bật việc chuyến thăm diễn ra theo lời mời của Thủ tướng Narendra Modi và sau khi ông Modi ra thông điệp này 7/4 chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm được Quốc hội tín nhiệm cao bầu giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trong thông điệp, Thủ tướng Modi bày tỏ sẵn sàng "làm sâu sắc hơn nữa Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện" giữa hai nước.

Bộ Ngoại giao Ấn Độ ra thông báo cho hay, chuyến thăm được kỳ vọng sẽ tạo “động lực mới cho mối quan hệ song phương vững mạnh” và mở ra các hướng hợp tác mới giữa hai nước.

Bộ Ngoại giao nhấn mạnh Ấn Độ và Việt Nam có “mối quan hệ lịch sử và văn minh chung”, được củng cố và phát triển liên tục qua nhiều năm, trên nền tảng tin cậy chính trị cao và lợi ích chiến lược tương đồng. Chuyến thăm này đặc biệt có ý nghĩa vì diễn ra trong bối cảnh hai nước "kỷ niệm 10 năm nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện", một vị thế được thiết lập trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Modi năm 2016.

Bên cạnh New Delhi, chương trình thăm thành phố Mumbai cũng được truyền thông Ấn Độ đánh giá là điểm nhấn quan trọng về kinh tế. Tại đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự kiến thăm Sở Giao dịch chứng khoán quốc gia Ấn Độ, gặp Thủ hiến và Thống đốc bang Maharashtra, đồng thời tham dự diễn đàn doanh nghiệp nhằm thúc đẩy hợp tác thương mại và đầu tư giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước.

Nhiều hãng tin Ấn Độ nhận định Việt Nam hiện là một trong những đối tác quan trọng nhất của Ấn Độ tại Đông Nam Á, đặc biệt trong bối cảnh hai nước cùng chia sẻ lợi ích chiến lược tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Các lĩnh vực hợp tác được quan tâm gồm quốc phòng-an ninh, thương mại, đầu tư, chuyển đổi số, công nghệ cao, kết nối chuỗi cung ứng và hợp tác hàng hải.

Giới quan sát Ấn Độ cũng lưu ý rằng chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh quan hệ song phương đang có nền tảng thuận lợi để bước sang giai đoạn phát triển mới.

Theo đánh giá của truyền thông Ấn Độ, chuyến thăm lần này không chỉ mang ý nghĩa chính trị và ngoại giao, mà còn được kỳ vọng mở rộng hợp tác thực chất trên nhiều lĩnh vực mới, qua đó tiếp tục củng cố vai trò của Việt Nam như một đối tác then chốt của Ấn Độ tại khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

https://www.facebook.com/HUONG.SEN.VIET.2018/posts/pfbid02F7XUm2tBCmDYiw1oAhja8rFYWfW3XmPXS7R5kuE6dBEPMRqpU78RUV9KDu7nRC...
07/05/2026

https://www.facebook.com/HUONG.SEN.VIET.2018/posts/pfbid02F7XUm2tBCmDYiw1oAhja8rFYWfW3XmPXS7R5kuE6dBEPMRqpU78RUV9KDu7nRCyQl

Tạo đột phá, đưa quan hệ Việt Nam - Ấn Độ lên tầm cao mới

Nhận lời mời của Thủ tướng Cộng hòa Ấn Độ Narendra Modi, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp nhà nước tới Cộng hòa Ấn Độ từ ngày 5 đến 7-5.

Việt Nam và Ấn Độ có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời, tin cậy chính trị cao, trong đó, ngày 7-1-1972 là dấu mốc quan trọng khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Tiếp đó, ngày 1-5-2003, hai bên ký Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Ấn Độ bước vào thế kỷ 21; ngày 6-7-2007 nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược; ngày 3-9-2016 nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện. Ngày 21-12-2020, hai nước thông qua Tuyên bố tầm nhìn chung Việt Nam-Ấn Độ về hòa bình, thịnh vượng và người dân; ngày 1-8-2024 thông qua Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Ấn Độ.

Nhân dân hai nước vui mừng nhận thấy những điểm sáng trong quan hệ hữu nghị truyền thống được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo Ấn Độ trước đây vun đắp tiếp tục được giữ gìn và phát huy trong giai đoạn hiện nay. Sau 10 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, hai nước đã tạo dựng được nền tảng hợp tác quan trọng thông qua duy trì hiệu quả trao đổi đoàn cấp cao và các cấp, các cơ chế hợp tác, đồng thời ký kết nhiều thỏa thuận. Bên cạnh đó, hợp tác giáo dục-đào tạo giữa hai nước đạt nhiều kết quả tích cực; hợp tác quốc phòng, an ninh tiếp tục là trụ cột quan trọng và chiến lược; hợp tác du lịch và giao lưu nhân dân được tăng cường và mở rộng; hợp tác khoa học, công nghệ được thúc đẩy, tạo đà mới trong một số lĩnh vực phù hợp với nhu cầu của hai nước, nhất là đổi mới sáng tạo, robot, khởi nghiệp, năng lượng nguyên tử, công nghệ sinh học.

Về hợp tác kinh tế, Ấn Độ hiện là đối tác thương mại lớn thứ 8 của Việt Nam, Việt Nam là đối tác lớn thứ 21 của Ấn Độ và thứ 4 trong ASEAN; kim ngạch thương mại hai chiều tăng 2,5 lần từ khi thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, năm 2025 đạt 16,4 tỷ USD (tăng 10,5% so với năm 2024). Tính đến tháng 3-2026, các nhà đầu tư Ấn Độ có 503 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 1,1 tỷ USD, đứng thứ 26/154 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam; trong khi các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư sang Ấn Độ 30 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 150,5 triệu USD, đứng thứ 17/88 địa bàn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam.

Chuyến thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ là chuyến thăm nước ngoài thứ hai của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sau khi Quốc hội kiện toàn các chức danh lãnh đạo Nhà nước và là chuyến thăm đầu tiên trong lịch sử của một đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam tới Ấn Độ. Chuyến thăm nhằm đề cao vị thế, uy tín của đất nước, khẳng định đường lối đối ngoại nhất quán của Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 34-NQ/TW của Bộ Chính trị về độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, trong đó coi trọng quan hệ với Ấn Độ cũng như khu vực Nam Á và khẳng định ý nghĩa của quan hệ song phương đối với sự phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Đồng thời, góp phần thúc đẩy quan hệ giữa Đảng ta và các đảng chính trị của Ấn Độ trong bối cảnh hiện nay; thắt chặt quan hệ cá nhân và tăng cường tương tác trực tiếp, trao đổi chiến lược, thân tình, tin cậy giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam với các lãnh đạo Đảng, Nhà nước Ấn Độ.

Những thành tựu, điểm sáng trong quan hệ song phương thời gian qua, đặc biệt là những nhận thức chung mà lãnh đạo cấp cao hai nước đạt được trong khuôn khổ chuyến thăm lần này cũng tạo điều kiện để hai bên tiếp tục khai phá tiềm năng hợp tác nhiều mặt, nhất là trên các lĩnh vực trọng điểm như: Chính trị-ngoại giao, quốc phòng, an ninh, thương mại, đầu tư, công nghệ, chuyển đổi xanh-số, văn hóa, du lịch...

Chúng ta tin tưởng rằng, với ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng, chuyến thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ góp phần củng cố, tăng cường quan hệ Việt Nam-Ấn Độ, tạo đột phá và đưa quan hệ hợp tác song phương lên tầm cao mới, hiệu quả, vững chắc và có chiều sâu chiến lược hơn nữa.

Báo QĐND

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi nhân dịp tham dự Hội nghị Thượng đỉnh tương lai và Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc tại New York, Hoa Kỳ, ngày 23-9-2024 (giờ địa phương). Ảnh: PHẠM KIÊN

Address

Ấp Quy Nông A, Xã Hưng Mỹ
Vinh Long

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thông tin và Cuộc sống posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Thông tin và Cuộc sống:

Share