Công an xã Long Toàn - thị xã Duyên hải

Công an xã Long Toàn - thị xã Duyên hải Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ.

04/05/2025

ĐỒNG BÀO KHMER TRÀ VINH - TỰ HÀO HÀNH TRÌNH 50 NĂM CÙNG ĐẤT NƯỚC, 125 NĂM GẮN BÓ VÀ PHÁT TRIỂN CÙNG QUÊ HƯƠNG

Năm 2025, đất nước Việt Nam long trọng kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975 - 30/4/2025); cùng thời điểm đó, tỉnh Trà Vinh tự hào đánh dấu chặng đường 125 năm hình thành và phát triển (1900 - 2025). Trải qua những thăng trầm của lịch sử, đồng bào Khmer Trà Vinh luôn là một bộ phận máu thịt không thể tách rời, đồng hành bền bỉ cùng sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, bảo vệ quê hương. Với truyền thống đoàn kết, lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cần cù, sáng tạo, đồng bào Khmer đã góp phần quan trọng làm rạng rỡ trang sử vẻ vang của đất nước và quê hương Trà Vinh.

Gắn bó máu thịt với quê hương

Trà Vinh là vùng đất hội tụ đa dạng các sắc tộc, hiện có dân số khoảng 1.012.880 người, trong đó đồng bào Khmer chiếm gần 32%, tập trung chủ yếu tại các huyện Trà Cú, Cầu Ngang, Châu Thành, Tiểu Cần... Trải qua hàng trăm năm gắn bó, đồng bào Khmer đã không chỉ khai phá, định cư mà còn hun đúc nên mối liên kết bền chặt với đất đai, thiên nhiên, đóng góp quan trọng vào việc hình thành nên bản sắc văn hóa phong phú, đa sắc màu của vùng đất Trà Vinh.

Bản sắc văn hóa Khmer ở Trà Vinh được thể hiện sinh động qua tiếng nói, chữ viết, lễ hội, tập quán sinh hoạt và hơn 140 ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer - những trung tâm tinh thần, tín ngưỡng, văn hóa đặc trưng của cộng đồng. Các giá trị truyền thống như Lễ hội Ok Om Bok, Lễ Sêne Đôlta, nghệ thuật Chầm Riêng Chà Pây, nghệ thuật múa Rô Băm... tiếp tục được bảo tồn, phát huy và lan tỏa trong đời sống hiện đại, vừa thể hiện bản sắc dân tộc, vừa đóng góp vào sự đa dạng văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

Một lòng vì độc lập dân tộc

Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào Khmer Trà Vinh luôn một lòng son sắt, kề vai sát cánh cùng các dân tộc anh em, đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Hàng ngàn lượt người Khmer tham gia lực lượng vũ trang, du kích địa phương, đảm nhận nhiệm vụ vận tải, hậu cần, phục vụ tiền tuyến. Nhiều vị sư sãi, Phật tử đã đóng vai trò nòng cốt trong phong trào yêu nước, sử dụng chùa chiền làm cơ sở cách mạng, tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia kháng chiến.

Năm 1966, tại Trà Vinh, hơn 20.000 người Kinh - Khmer - Hoa đã xuống đường biểu tình chống bắt sư sãi đi lính, chống luật tổng động viên, phản đối việc dùng vũ lực bắt 75 sư sãi lột áo cà sa mặc áo lính. Nhiều ngôi chùa Khmer tại Trà Vinh đã trở thành cơ sở cách mạng, nơi nuôi chứa, bảo vệ cán bộ cách mạng. Các vị sư sãi đã đóng vai trò nòng cốt trong phong trào yêu nước, tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia kháng chiến.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tỉnh Trà Vinh đã huy động trên 180.000 lực lượng quần chúng Kinh - Khmer - Hoa nổi dậy đấu tranh chính trị và tham gia phục vụ chiến đấu. Trong đó, có trên 25.000 người ở thị xã Trà Vinh và 3.000 sư sãi. Ngày 29/11/1972, hơn 11.200 sư sãi và đồng bào Trà Vinh đã biểu tình đòi Mỹ - Ngụy ký hiệp định đã thỏa thuận với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong kháng chiến chống Mỹ, toàn tỉnh Trà Vinh có trên 17.000 liệt sĩ, gần 8.000 thương binh; trên 3.300 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, hàng trăm nghìn gia đình có công với cách mạng.

Sau ngày đất nước thống nhất, đồng bào Khmer tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, đồng hành cùng chính quyền địa phương trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế và xây dựng quê hương Trà Vinh ngày càng phát triển, đổi mới.

Những bước tiến vững chắc trên mọi lĩnh vực

Nhờ sự quan tâm, đầu tư kịp thời cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, diện mạo nông thôn Trà Vinh không ngừng đổi thay. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm còn 0,87%; trong đó, hộ nghèo Khmer giảm xuống còn 1,46% (năm 2024). 100% xã được phủ điện lưới quốc gia; 99,42% hộ dân có điện sử dụng. Các mô hình kinh tế nông nghiệp bền vững, hợp tác xã, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ, giúp hàng chục nghìn hộ dân Khmer nâng cao đời sống, vươn lên làm giàu.

Công tác giáo dục - đào tạo trong đồng bào Khmer đạt nhiều thành tựu nổi bật. Toàn tỉnh có trên 75.000 học sinh Khmer, chiếm 35,33% tổng số học sinh. Mỗi năm, khoảng 2.500 sinh viên Khmer theo học tại các trường đại học, cao đẳng. Duy trì việc dạy tiếng Khmer cho hơn 19.000 học sinh tại 121 điểm trường và 134 ngôi chùa Khmer. Xây dựng 08 trường phổ thông dân tộc nội trú và Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ, tạo tiền đề vững chắc để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho tương lai.

Đời sống y tế trong đồng bào Khmer không ngừng được nâng cao. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế toàn tỉnh đạt 99,44%; riêng trong đồng bào Khmer là 57,9%. Mạng lưới chăm sóc sức khỏe được mở rộng với 129 cơ sở y tế, 100% trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia, đảm bảo tốt nhu cầu khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân.

Các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Trà Vinh tiếp tục được gìn giữ, phát huy mạnh mẽ. Tỉnh có 16 di tích cấp quốc gia và 32 di tích cấp tỉnh được công nhận. Ba di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia gồm: Lễ hội Ok Om Bok, Nghệ thuật Chầm Riêng Chà Pây và Nghệ thuật Rô Băm. Dự án xây dựng Làng văn hóa dân tộc Khmer gắn với cụm di tích Ao Bà Om - Chùa Âng - Chùa Lò Gạch đang được triển khai, hứa hẹn trở thành điểm nhấn đặc sắc trong phát triển du lịch văn hóa.

Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc Khmer luôn được quan tâm sâu sắc. Ngày càng nhiều cán bộ, đảng viên người Khmer đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo, quản lý chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng quê hương Trà Vinh ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Tự tin vươn mình trong thời đại mới

Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập sâu rộng, thế hệ trẻ người Khmer Trà Vinh đang từng bước khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng vươn lên. Lực lượng thanh niên Khmer ngày càng năng động, chủ động tiếp cận công nghệ mới, khởi nghiệp sáng tạo, tham gia mạnh mẽ vào xây dựng kinh tế số, phát triển du lịch, thương mại điện tử, dịch vụ hiện đại. Văn hóa Khmer không chỉ được bảo tồn nguyên vẹn mà còn được phát huy trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, quảng bá hình ảnh Trà Vinh ra khắp cả nước và bạn bè quốc tế. Cộng đồng Khmer Trà Vinh hôm nay ngày càng tự tin khẳng định vị thế, bản sắc riêng, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng tỉnh nhà phát triển nhanh, bền vững, giàu đẹp, văn minh.

Khẳng định bản sắc, chung tay xây dựng quê hương

Hành trình 125 năm hình thành và phát triển của tỉnh Trà Vinh, cùng 50 năm đồng hành với sự nghiệp thống nhất, xây dựng đất nước, đã chứng minh rằng: đồng bào Khmer Trà Vinh luôn là bộ phận máu thịt không thể tách rời, bền bỉ sát cánh cùng những thăng trầm và bước tiến của quê hương.

Phát huy truyền thống vẻ vang và những thành tựu to lớn đã đạt được, đồng bào Khmer Trà Vinh hôm nay đang tiếp tục vững vàng bước vào thời kỳ mới: vừa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vừa phát huy mạnh mẽ nội lực, khẳng định vai trò, vị thế của mình trong cộng đồng, cùng chung tay xây dựng quê hương Trà Vinh phát triển nhanh, bền vững, thịnh vượng và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

KIẾN QUỐC
Báo Trà Vinh

04/05/2025

THĂM VÙNG CĂN CỨ CÁCH MẠNG SONG LỘC

Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng của quân và dân ta, mùa Xuân 1975, là điển hình về hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, các binh chủng, quân chủng, sự kết hợp trên quy mô lớn giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng; đòn quyết chiến chiến lược táo bạo, kịp thời, chính xác, kết thúc chiến tranh... Trong thời điểm lịch sử đó, ấp Khánh Lộc, xã Song Lộc, huyện Châu Thành là một trong những điểm tập kết của quân giải phóng, dốc toàn lực đánh vào Vĩnh Bình (nay là thành phố Trà Vinh), góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong những ngày Tháng 4 lịch sử, hào hùng của dân tộc - kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, thăm Song Lộc, ghi nhận đầu tiên là sự đổi thay toàn diện - đó là kết quả nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân xã Song Lộc trong suốt 05 thập kỷ qua.

Xã Song Lộc cách trung tâm huyện Châu Thành khoảng 10km, trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 05km; diện tích tự nhiên khoảng 3.454ha, có 3.421 hộ, dân số 13.096 người; có 03 dân tộc Kinh - Khmer - Hoa cùng sống, toàn xã có 08 ấp: Phú Khánh, Khánh Lộc, Lò Ngò, Trà Nóc, Láng Khoét, Trà Uông, Nê Có và Phú Lân.

Tại ấp Khánh Lộc, tiếp chúng tôi, ông Hồ Huy Linh, hội viên Hội Cựu chiến binh, thời điểm lịch sử 30/4/1975, ông công tác tại Văn phòng Đảng ủy xã Song Lộc bộc bạch: Song Lộc là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng; trong 02 cuộc trường kỳ kháng chiến, Nhân dân Song Lộc đấu tranh kiên cường, nêu cao sức mạnh đoàn kết và lòng yêu nước...

Người dân Song Lộc luôn sẵn sàng bảo vệ và che chở, tạo mọi điều kiện thuận lợi để lãnh đạo, cán bộ Khu ủy, Quân khu và cấp tỉnh làm việc, hoạt động và thực hiện nhiệm vụ. Tiêu biểu như đồng chí Phạm Thái Bường, Nguyễn Hoài Pho (Ba Mai hoặc Sáu Hiến), Nguyễn Thành Thi, Nguyễn Văn Trí (Hai Trí), Lê Xã Hội... cùng nhiều lãnh đạo khác. Trong suốt thời gian chống Mỹ cứu nước, xã Song Lộc đã trở thành nơi đóng quân của các đơn vị lực lượng vũ trang từ cấp đại đội trở lên như Đại đội 931, Đại đội 933, Đại đội 935, Đại đội 509...

Đồng chí Trần Văn Huyện, Chủ tịch UBND xã Song Lộc cho biết: Song Lộc đang đề nghị công nhận xã An toàn khu. Bởi không riêng trong kháng chiến chống Mỹ, mà còn trong chống Pháp, thành tích của Song Lộc lẫy lừng. Cuối năm 1949, các Đại đội 931, 933 và 935 về đóng quân tại ấp Trà Nóc, xã Song Lộc xây dựng căn cứ chiến đấu và hoạt động cách mạng.

Tháng 5/1968, Đại đội 509 do đồng chí Trần Văn Nga (Bảy Căng) làm Đại đội trưởng, nhận lệnh của Ban Chỉ huy Tỉnh đội về đóng quân tại ấp Khánh Lộc, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng lực lượng tại địa phương.

Giai đoạn 1968 - 1970, tại ấp Khánh Lộc, xã Song Lộc, huyện và tỉnh đã bố trí kho lương thực tại nhà ông Nguyễn Văn Vọng (Hai Rề) và ông Nguyễn Văn Như (Chín Như); kho vũ khí, đạn dược được chôn giấu bí mật tại vườn nhà các ông Hai Huê, Hai Sơ và Bảy Sanh, phục vụ kịp thời cho lực lượng kháng chiến.

Trong suốt thời gian chống Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân xã Song Lộc với tinh thần đoàn kết Kinh - Khmer, lương và giáo, vượt qua muôn vàn khó khăn, xây dựng căn cứ, kiên cường bám đất, bảo vệ quê hương, anh dũng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc.

Nổi bật là giai đoạn chống Mỹ, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Tám Biện, Bí thư Đảng ủy xã, lực lượng vũ trang cùng 20 du kích đào công sự, bao vây công sở xã tại ấp Ô Chát và tiến đánh dữ dội từ phía Nam lộ 34. Phía Bắc lộ, đồng chí Năm Hùng chỉ đạo vây ép đồn Phú Khánh, kêu gọi địch đầu hàng, đồng thời phát loa kêu gọi tề xã buông súng. Các đồn: Đội Hường, Lò Ngò, Trà Nóc… cũng bị bao vây và gọi hàng đồng loạt.

Khi quân giải phóng chủ lực đóng quân tại Phú Khánh tấn công toàn lực vào Vĩnh Bình, thì tại xã, sử dụng hai cơ sở nội tuyến trong phân chi khu tạo sức ép mạnh với địch. Sáng 30/4, đồn Phú Khánh rút chạy về tề xã; đến 14 giờ, chỉ huy phân chi khu Song Lộc cùng các sĩ quan và đại diện xã xin ta cho phát tín hiệu PRC25 kêu gọi các đồn nộp vũ khí. Kết quả, toàn xã có 12 đồn cùng phân chi khu giao nộp hơn 200 khẩu súng các loại.

Ngày 22/8/1998, Nhân dân và lực lượng vũ trang Nhân dân xã Song Lộc được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Qua chặng đường 50 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; gần 15 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM, bộ mặt nông thôn xã Song Lộc nói chung, ấp Khánh Lộc nói riêng đã thay đổi vượt bậc. Đường liên xã, Song Lộc hiện có 04 tuyến, dài 18,3km được nhựa hóa và chiếu sáng công cộng 100%; đường ấp và đường liên ấp được nhựa hóa dài 20,8/20,8km đạt 100%; trong đó, có hệ thống chiếu sáng công cộng 08 tuyến, dài 18,8km đạt 90,38%; đường ngõ, xóm nhựa hóa 20,9/22,3km đạt 93,72%; đường trục chính nội đồng dài 30,2km, được cứng hóa đáp ứng yêu cầu sản xuất và vận chuyển hàng hóa.

Đồng chí Trần Vũ Phương, Phó Chủ tịch UBND xã Song Lộc cho biết: thực hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, với nhiều nguồn vốn, trên địa bàn xã có nhà ở đạt chuẩn của Bộ Xây dựng 3.339/3.421 hộ, đạt 97,6%. Thu nhập bình quân đầu người cuối năm 2024 đạt 72,684 triệu đồng/người/năm. Hiện toàn xã có 27 hộ nghèo (trong này có 22 hộ không có khả năng lao động) chiếm 0,15%/tổng số hộ và 61 hộ cận nghèo (trong này có 16 hộ cận nghèo không có khả năng lao động) chiếm 1,31%/tổng số hộ.




Tổng kết 02 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, xã Song Lộc có nhiều đóng góp vào thắng lợi chung của dân tộc.

Nhân dân xã Song Lộc đã được khen thưởng, phong tặng nhiều danh hiệu cao quý cho tập thể và cá nhân: 52 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; 59 Huân chương Kháng chiến hạng Nhì; 219 Huân chương Kháng chiến hạng Ba; 75 Huy chương Kháng chiến hạng Nhất; 113 Huy chương Kháng chiến hạng Nhì; 47 kỷ niệm chương cho 47 chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày; 40 bằng khen của Chính phủ, Hội đồng Bộ trưởng và 32 bằng khen của UBND tỉnh; 43 Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Quân khu tặng 04 danh hiệu chiến sĩ thi đua, 07 danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng; 301 liệt sĩ; 194 thương binh, bệnh binh. Xã được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.





Đồng chí Hồ Đức Kiều, Bí thư Chi bộ ấp Khánh Lộc cho biết: ấp Khánh Lộc có 460 hộ, với 1.579 nhân khẩu. Hiện còn 05 hộ nghèo, 09 hộ cận nghèo. Phát huy truyền thống cách mạng của nơi được quân giải phóng chọn làm điểm xuất phát tổng tiến công vào Vĩnh Bình vào Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, trong xây dựng, Nhân dân Song Lộc quyết không để đói nghèo. Hiện Khánh Lộc có 80/460 hộ giàu, 240/460 hộ khá, 120 hộ có mức thu nhập trung bình.

Bài, ảnh: TRƯỜNG NGUYÊN
Báo Trà Vinh

04/05/2025
04/05/2025

ĐỘT PHÁ THỂ CHẾ, PHÁP LUẬT ĐỂ ĐẤT NƯỚC VƯƠN MÌNH

Fanpage trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết "Đột phá thể chế, pháp luật để đất nước vươn mình" của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Đột phá thể chế, pháp luật để đất nước vươn mình
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc vai trò của thể chế, pháp luật đối với sự phát triển của đất nước. Đồng thời, Đảng đưa ra nhiều chủ trương, chính sách về hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Tư duy, nhận thức lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không ngừng được hoàn thiện.

Nước ta đã hình thành hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, cơ bản điều chỉnh tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó phải kể tới các bản Hiến pháp, các Luật, Bộ luật lớn về dân sự, kinh doanh, thương mại, hành chính, hình sự, tố tụng, giải quyết tranh chấp và khoảng 300 luật, bộ luật khác đang còn hiệu lực; tạo nền tảng pháp lý để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.

Có thể khẳng định, trong 80 năm qua, kể từ khi ra đời của nhà nước Công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta giành được độc lập, thống nhất, tự do, dân chủ, hòa bình, ổn định và phát triển vì chúng ta có Hiến pháp và thực thi thành công Hiến pháp và pháp luật.

Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn nhận, công tác xây dựng và thi hành pháp luật vẫn còn không ít hạn chế, bất cập.

Một số chủ trương, định hướng của Đảng chưa được thể chế hóa kịp thời, đầy đủ. Tư duy xây dựng pháp luật trong một số lĩnh vực còn thiên về quản lý. Chất lượng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn.

Còn có những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, chưa rõ ràng, cản trở việc thực thi, không thuận lợi cho việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thu hút và khơi thông nguồn lực đầu tư.

Việc phân cấp, phân quyền chưa đủ mạnh; thủ tục hành chính còn rườm rà, "nhiều khúc quanh"; chi phí tuân thủ pháp luật còn cao. Tổ chức thực thi pháp luật vẫn là khâu yếu; thiếu cơ chế phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả. Chậm nghiên cứu, ban hành chính sách, pháp luật điều chỉnh những vấn đề mới, chưa tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới.

Hiện nay, thế giới đang đứng trước những thay đổi mang tính thời đại với những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, khó dự báo.

Cùng với đó, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang mở ra không gian phát triển vô tận dựa trên tri thức và tiềm năng con người. Ở trong nước, sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử.

Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành hình mẫu phát triển của nhiều nước trên thế giới, "nhân dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành". Quy mô nền kinh tế năm 2024 đứng thứ 32 thế giới.

Tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố. Quan hệ đối ngoại được mở rộng; vị thế, uy tín của đất nước không ngừng được nâng cao.

Để hiện thực hóa khát vọng vươn mình của dân tộc, chúng ta phải giải quyết nhiều việc, trong đó, một nhiệm vụ rất trọng tâm là phải tiếp tục quan tâm hoàn thiện thể chế, pháp luật để giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước, tận dụng mọi cơ hội phát triển.

Chính vì thế, cùng với việc thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, phấn đấu tăng trưởng kinh tế "hai con số", công tác xây dựng và thi hành pháp luật phải được đổi mới căn bản.

Đáp ứng đòi hỏi đó, ngày 30/4/2025, trong không khí thiêng liêng và hào hùng của dịp kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về "Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới" - một Nghị quyết chuyên đề đặc biệt quan trọng với nhiều quyết sách chiến lược.

Mục tiêu chính của Nghị quyết là tạo ra một xã hội thực sự dân chủ, bình đẳng, an toàn, minh bạch; nhân dân thực sự làm chủ; quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước; quản lý, quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo sự phát triển; nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu, đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi với cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, nhất quán, bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động bình thường, liên tục, thông suốt của các cơ quan sau sắp xếp tổ chức bộ máy, tháo gỡ vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, mở đường cho kiến tạo phát triển, huy động mọi người dân và doanh nghiệp tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội để đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Năm 2025, cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những "điểm nghẽn" do quy định pháp luật. Năm 2027, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền 3 cấp. Năm 2028, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, góp phần đưa môi trường đầu tư của Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.

Đến năm 2045, Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến và phù hợp với thực tiễn đất nước, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội; quản trị quốc gia hiện đại với bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

Theo Nghị quyết số 66-NQ/TW, việc đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong thời gian tới cần bám sát 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó, quan điểm quan trọng hàng đầu là phải "bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi hành pháp luật".

Nghị quyết cũng xác định "công tác xây dựng và thi hành pháp luật là "đột phá của đột phá" trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; là một nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng".

Nghị quyết yêu cầu: Xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn, "đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam", tiếp thu có chọn lọc giá trị tinh hoa của nhân loại, đảm bảo tính hệ thống, nắm bắt mọi cơ hội, mở đường, khơi thông mọi nguồn lực; đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế "hai con số", nâng cao đời sống của Nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước. Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghị quyết xác định: Đầu tư cho công tác xây dựng chính sách, pháp luật là đầu tư cho phát triển.

Để đưa Nghị quyết số 66-NQ/TW vào cuộc sống, mang lại những kết quả thiết thực, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần quán triệt, thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết, nhất là những nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật, phát huy cao độ tính Đảng trong xây dựng và thi hành pháp luật.

Các cấp ủy Đảng phải lãnh đạo toàn diện, trực tiếp việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật và tăng cường kiểm tra, giám sát công tác này. Mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, đi đầu trong chấp hành và tuân thủ pháp luật, lan tỏa tinh thần thượng tôn Hiến pháp, pháp luật.

Xác định xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật và kiểm tra, giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, thường xuyên của các bộ, ngành Trung ương.

Người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật, chịu trách nhiệm chính về chất lượng chính sách, pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý của bộ, ngành mình.

Thứ hai, đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển.

Công tác xây dựng pháp luật phải thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng; xuất phát từ lợi ích toàn cục của đất nước; dứt khoát từ bỏ tư duy "không quản được thì cấm"; phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được. Các quy định của luật phải mang tính ổn định, đơn giản, dễ thực hiện, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Coi trọng, chủ động nghiên cứu chiến lược, chính sách từ sớm, từ thực tiễn, từ kinh nghiệm của thế giới, góp phần tăng cường tính dự báo và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật.

Bên cạnh một số bộ luật, luật quy định về quyền con người, quyền công dân, tố tụng tư pháp cần cụ thể, về cơ bản các luật khác, nhất là luật điều chỉnh các nội dung về kiến tạo phát triển chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn những vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động thì giao Chính phủ, bộ, ngành, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn.

Trong thời gian trước mắt, cần tập trung xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn, chi phí tuân thủ thấp; triệt để cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư, kinh doanh, hành nghề, thủ tục hành chính bất hợp lý; thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Bảo đảm thực chất quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và quyền tự do hợp đồng; sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.

Tập trung xây dựng pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khẩn trương sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, gắn với phân cấp, phân quyền tối đa theo phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm" và việc cơ cấu lại không gian phát triển mới ở từng địa bàn. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng cải cách tư pháp.

Thứ ba, tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật.

Phát huy cao độ tinh thần phục vụ Nhân dân, tư duy kiến tạo phát triển, hành động vì lợi ích chung của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Ưu tiên bảo đảm hiệu quả thi hành pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trong các lĩnh vực dân sinh quan trọng khác.

Tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội. Chú trọng công tác giải thích pháp luật và hướng dẫn áp dụng pháp luật.

Tăng cường đối thoại, tiếp nhận, lắng nghe phản ánh, kiến nghị, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc về pháp lý của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, địa phương. Thường xuyên đánh giá hiệu quả của pháp luật sau ban hành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và xây dựng cơ chế kịp thời nhận diện, xử lý tổng thể, đồng bộ, tháo gỡ nhanh nhất những "điểm nghẽn" có nguyên nhân từ quy định của pháp luật.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả công tác hợp tác quốc tế, pháp luật quốc tế.

Nâng cao năng lực của các cơ quan, tổ chức Việt Nam để đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý quốc tế; tham gia hiệu quả vào việc xây dựng thể chế và pháp luật quốc tế, định hình trật tự pháp lý quốc tế. Xử lý hiệu quả các vấn đề pháp lý quốc tế phát sinh, nhất là tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế.

Thực hiện cơ chế đặc biệt thu hút, xét tuyển, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao, có kinh nghiệm thực tiễn về pháp luật quốc tế và hợp tác quốc tế về pháp luật, giải quyết tranh chấp quốc tế; xây dựng chiến lược tăng cường sự hiện diện của các chuyên gia Việt Nam trong các tổ chức pháp lý quốc tế và cơ quan tài phán quốc tế. Mở rộng hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp.

Thứ năm, thực hiện các giải pháp đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật; tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, cùng cơ chế tài chính đặc biệt cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật.

Thực hiện chính sách đặc thù, vượt trội, áp dụng chế độ thù lao, thuê khoán tương xứng để thu hút, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia các nhiệm vụ, hoạt động xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật.

Quan tâm đầu tư nâng cao chất lượng của các cơ sở nghiên cứu chiến lược, chính sách, các cơ sở nghiên cứu pháp luật của các cơ quan Trung ương. Ưu tiên nguồn lực xây dựng, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu lớn, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ đổi mới, hiện đại hóa công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật.

Triển khai ngay Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và Đề án ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Đổi mới cơ chế phân bổ, quản lý, sử dụng ngân sách dành cho công tác xây dựng pháp luật trên nguyên tắc kịp thời, đúng, đủ và gắn với khoán chi theo kết quả, sản phẩm của từng nhiệm vụ, hoạt động. Thành lập Quỹ hỗ trợ xây dựng chính sách, pháp luật.

Thể chế, pháp luật có chất lượng, phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn và nguyện vọng của Nhân dân là yếu tố hàng đầu quyết định thành công của mỗi quốc gia. Do đó, để đất nước vươn mình phát triển mạnh mẽ, chúng ta dứt khoát nói "không" với bất cứ hạn chế, bất cập nào trong thể chế, pháp luật; không thỏa hiệp với bất kỳ yếu kém nào trong thiết kế chính sách, soạn thảo pháp luật, hay tổ chức thực thi.

Với bản lĩnh cùng kinh nghiệm quý báu mà Đảng ta đã tích lũy được trong 95 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc, kinh nghiệm của 80 năm lãnh đạo Nhà nước xây dựng thể chế, pháp luật, nhất là kinh nghiệm trong 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của toàn dân, nhất định chúng ta sẽ thành công trong đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng, phát triển. Xây dựng đất nước ta "bằng mười ngày nay" như tâm nguyện của Bác Hồ từng mong mỏi.

TÔ LÂM
Tổng Bí thư Ban Chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam

04/05/2025
29/04/2025

TIẾP TỤC VIẾT NÊN MỘT BẢN HÙNG CA MỚI

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có bài viết: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một". Trong bài viết, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Cách đây 50 năm, dân tộc Việt Nam đã viết nên một bản anh hùng ca chói lọi bằng ý chí sắt đá và bản lĩnh kiên cường - đó là bản hòa ca của ý chí, quyết tâm, thống nhất và hòa bình. Nửa thế kỷ sau, chính dân tộc ấy đang tiếp tục viết nên một bản hùng ca mới - bản hòa ca của đổi mới, hội nhập, phát triển và ý chí vươn lên mạnh mẽ trong thế kỷ XXI.

29/04/2025

CHIẾN THẮNG 30/4/1975: THẮNG LỢI CỦA DÂN TỘC ANH HÙNG

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có bài viết: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một". Trong bài viết, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Thời khắc lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một sự kiện trọng đại - ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Đó không chỉ là chiến thắng vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy khó khăn gian khổ, mà còn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của ý chí độc lập, tự cường và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

29/04/2025

CUỐN PHĂNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SÁNG BỪNG HÀO KHÍ ĐẠI LỄ - BÀI 2: BẰNG CHỨNG SỐNG ĐỘNG TỪ HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG (TIẾP THEO VÀ HẾT)

Để đất nước được thống nhất, non sông liền một dải vào ngày 30-4-1975, cả dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian khổ, hy sinh. Mục tiêu cách mạng “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào...” như lời chúc Tết Kỷ Dậu 1969 của Bác Hồ là khát vọng cháy bỏng của toàn dân tộc. Âm mưu xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, dù được ngụy trang dưới bất cứ hình thức nào, cũng cần phải lật tẩy, lên án...

Cảnh giác với thủ đoạn “dương Đông kích Tây”

Có một kiểu lập luận ngụy biện, ngụy hàn lâm dưới chiêu bài dân túy được các tổ chức phản động rêu rao trên không gian mạng, chúng ta phải hết sức cảnh giác và tỉnh táo nhận diện để đấu tranh. Đó là kiểu tư duy lập lờ, kiểu lập ngôn “cắt khúc”, “hớt ngọn”. Sự thật lịch sử là ngụy quyền Sài Gòn trước thời điểm 30-4-1975 là một chính quyền tay sai do Mỹ dựng lên để thực hiện âm mưu xâm lược, thôn tính Việt Nam. Việc ký kết Hiệp định Paris vào ngày 27-1-1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam buộc Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam là thành quả kháng chiến của cả dân tộc trên tất cả các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao... Sau khi “đánh cho Mỹ cút”, việc “đánh cho ngụy nhào” là bước phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến để đi đến mục tiêu “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.

Đó là sự thật lịch sử, không ai, không thế lực nào, không có bất cứ lý do gì có thể thay đổi, xuyên tạc, phủ nhận. Thế nhưng, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc, đất nước, các thế lực thù địch đã sử dụng chiêu bài dân túy, ngụy biện, ngụy hàn lâm... để tẩy sử, lật sử. Chúng đánh tráo khái niệm, coi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, là một cuộc “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc. Thành quả cách mạng lật đổ ngụy quân, ngụy quyền tay sai bán nước bị chúng cố tình đánh tráo bản chất, thay bằng “nồi da xáo thịt”, “huynh đệ tương tàn”... Thậm chí, chúng đòi viết lại lịch sử, công nhận ngụy quyền Sài Gòn là một “chính thể” để hợp thức hóa âm mưu biến cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân tộc thành cuộc “nội chiến”.

Khi những thứ ngụy hàn lâm này bị lật tẩy, bởi nó là những luận điệu đã lỗi thời, lạc lõng, các thế lực thù địch liền thay đổi phương thức tiếp cận bằng chiêu bài dân túy, lấy cớ thúc đẩy hòa hợp dân tộc, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai bằng kiểu lập ngôn “cắt khúc”, “hớt ngọn”, “lập lờ đánh lận con đen”... Theo đó, chúng cho rằng, chỉ cần nói “thống nhất đất nước” là đủ, bỏ cụm từ “giải phóng miền Nam” cho ngắn gọn, súc tích. Thoạt nghe, không ít người tưởng là có lý. Tuy nhiên, bằng tư duy biện chứng, chúng ta thấy rõ, nếu không có “giải phóng miền Nam” thì làm gì có “thống nhất đất nước”? Cách nói “cắt khúc”, “hớt ngọn” này chính là một kiểu thao túng tâm lý, đánh lừa nhận thức. Nếu nhận thức chính trị, lập trường tư tưởng thiếu vững vàng sẽ dễ sa vào cái bẫy ngôn từ trong chiến dịch truyền thông chống phá của các thế lực thù địch, dẫn đến nhận thức lệch lạc, sai lầm về Đại thắng mùa Xuân 1975 và ý nghĩa của Đại lễ 30-4.

Trên không gian mạng những ngày gần đây xuất hiện nhiều bài viết, dòng trạng thái của các tổ chức, cá nhân thù địch, phản động như: “Việt Tân”, Lê Trung Khoa... tuyên truyền xuyên tạc về ngoại giao Việt Nam trong khuôn khổ Đại lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chúng lộng ngôn, lớn tiếng quy chụp, chỉ trích, bỉ bai... mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng, lèo lái dư luận, kích động hận thù dân tộc, phá hoại đường lối đối ngoại của Đảng...

Nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện, chúng ta dễ dàng lật tẩy chiêu trò truyền thông “bẩn” này. Lại là những kiểu “cắt khúc”, “hớt ngọn” thông tin, thấy hiện tượng mà không thấy bản chất, “thầy bói mù xem voi”... Đường lối đối ngoại của Đảng ta nhất quán mục tiêu độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc... Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Những thông tin lèo lái dư luận, đòi Việt Nam phải dựa vào nước này để chống nước khác là kiểu lập luận ngụy biện, hoàn toàn không có giá trị “phản biện”, “hiến kế”, mà thực chất là mưu đồ phá hoại. Việc tuyên truyền, kích động hận thù kiểu “dương Đông kích Tây” trong bối cảnh hiện nay chính là âm mưu xuyên tạc, phá hoại, hòng làm mất đi ý nghĩa thiêng liêng của ngày đại lễ toàn dân tộc.

Hiện thực đời sống là bằng chứng thuyết phục nhất

Các thế lực thù địch đã và đang áp dụng đủ chiêu trò, mở chiến dịch truyền thông quy mô rầm rộ để kích động, xuyên tạc, chống phá ngày hội non sông của đất nước ta. Nhưng, hiện thực đời sống xã hội ở Việt Nam đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ chính là bằng chứng sống động, thuyết phục nhất, cuốn phăng luận điệu xuyên tạc, khẳng định giá trị trường tồn của thành quả cách mạng. Chỉ cần thông qua những góc nhìn cận cảnh đời sống xã hội ở TP Hồ Chí Minh những ngày này, ai ai cũng thấy rõ điều đó. Hàng vạn người từ khắp nơi đổ về thành phố đón chào những đoàn quân làm nhiệm vụ diễu binh, diễu hành. Trong các buổi hợp luyện, tổng hợp luyện, sơ duyệt, tổng duyệt diễu binh, diễu hành, dòng người chen kín các trục đường, các địa điểm công cộng. Tất cả đều rạng rỡ thần thái, cờ hoa, biểu ngữ rực rỡ đón chào các khối diễu binh, diễu hành, tự hào chiêm ngưỡng những cánh bay mang khát vọng hòa bình, hưng thịnh trên bầu trời rực rỡ nắng vàng. Từ những góc nhỏ trong các quán cà phê, không gian giải trí đến những khu vực sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đâu đâu cũng ngập tràn sắc âm mừng Đại lễ 30-4. Ngập trên các nền tảng mạng xã hội là hào khí, hình ảnh thể hiện tinh thần yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Đặc biệt, mặc dù lượng người đổ về khu vực trung tâm thành phố đông nghịt, nhưng tất cả đều diễn ra trong trật tự, hòa chung bầu không khí tự hào Việt Nam...

Nguồn năng lượng tích cực mang hào khí, khát vọng dân tộc như dòng nước mát lành giữa mùa khô nắng nóng, như những đợt sóng trào từ đại dương, lan tỏa, bừng lên, kết nối triệu cánh tay, triệu trái tim về một mối. Đó là bản sắc, là khí chất, là bản lĩnh, là ý chí, là khát vọng Việt Nam, thấm sâu vào nếp nghĩ, vào huyết quản, vào trái tim mỗi người dân đất Việt, trở thành nhu cầu tự thân. Tất cả tạo nên bầu không khí mừng đại lễ của dân tộc, trang trọng, ấm áp, nghĩa tình, hưng vận...

Chính hưng khí ấy, hào khí ấy, nhịp sống xã hội tươi đẹp và hào sảng ấy đã tạo thành dòng thác, xóa tan, cuốn phăng đi những thứ rác rưởi độc hại, dù nó đang cố tình đu bám, ký sinh trên các nền tảng mạng xã hội.

“Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Hào khí Đại thắng 30-4, nửa thế kỷ bừng lên, rực sáng, củng cố niềm tin, tạo thế và lực để đất nước vươn mình mạnh mẽ vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khát vọng hưng thịnh, phồn vinh. Đó là ý nguyện, là khát vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và kiều bào yêu nước. Và, khi lòng dân đã thuận, ý Đảng đã quyết, thì không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phá hoại được thành quả cách mạng, thành trì tư tưởng của chúng ta.

Được sống, được hòa mình trong bầu không khí ấy, nguồn hưng khí, hưng vận ấy, là hạnh phúc của mọi cán bộ, đảng viên, những "công bộc" của dân. Hưng khí giang sơn, hưng vận dân tộc được kết tinh từ linh khí của xương máu ông cha. Tổ chức Đại lễ 30-4 một cách trang trọng, thiêng liêng không chỉ là cách khẳng định vị thế, uy tín, niềm tự hào, tự tôn dân tộc mà còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tri ân sự hy sinh, công lao cống hiến của thế hệ cha anh và ông bà, tiên tổ. Hồn thiêng của các anh hùng liệt sĩ, các thế hệ hiền nhân sẽ hiển linh hội tụ trong sắc nắng, màu mây; trong màu cờ, sắc áo đại lễ. Biết như thế, hiểu như thế, ngẫm như thế để mỗi chúng ta biết cách mà nâng niu, trân quý giá trị của hòa bình, độc lập, tự do; tiếp thêm niềm tin và nhiệt huyết chiến đấu, góp phần đập tan, cuốn phăng những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng.

PHAN NGUYỄN HÀ THANH
QĐND

Address

ấp Bào Sen, Xã Long Toàn, Thị Xã Duyên Hải
Trà Vinh

Telephone

+842943733360

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công an xã Long Toàn - thị xã Duyên hải posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Công an xã Long Toàn - thị xã Duyên hải:

Share

Category