23/01/2026
Bài học 40 năm từ Đại hội VI: "Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo"
Phan Nhơn
Khởi nguồn từ một lời thề “Nhìn thẳng vào sự thật”
Cách nay tròn bốn thập kỷ, Việt Nam đứng trước ngưỡng cửa sinh tử của vận mệnh dân tộc. Nhìn lại thời điểm năm 1986, có một thực tế lịch sử đầy xúc động: Những người chèo lái con thuyền đất nước khi ấy phần lớn là những bậc lão thành bước ra từ khói lửa chiến tranh. Họ là những vị tướng trận, những nhà hoạt động cách mạng đầy bản lĩnh, nhưng lại là những người "tập tễnh" khi bước vào địa hạt quản lý kinh tế.
Trong suốt 10 năm đầu sau thống nhất (1975-1986), khi tiếng súng vẫn chưa hoàn toàn dứt ở hai đầu biên giới, thế hệ lãnh đạo ấy đã phải đối mặt với một thực tế khắc nghiệt: những tư duy quản trị cũ, duy ý chí đã dẫn đến sai lầm và thất bại nhiều hơn thành công. Thế nhưng, chính trong bối cảnh bi tráng đó, một phép màu của bản lĩnh chính trị đã xảy đến. Có lẽ, vì họ đã đi qua cuộc chiến tranh giải phóng với một tâm thế yêu nước trong sáng và vô tư, nên khi đối diện với thất bại của chính mình trong quản lý kinh tế, họ đã giữ nguyên cái tâm thế "vì dân vì nước" ấy để soi xét lại mình. Khi thấy dân đói, nước kiệt, những người lính năm xưa đã chọn đối diện với sự thật, chọn cách "tự phẫu thuật" chính tư duy của mình.
Sự sáng suốt và dũng cảm của họ không đến từ các học vị kinh tế hàn lâm, mà đến từ lòng trắc ẩn và trách nhiệm của người lính trước vận mệnh dân tộc. Khi mục tiêu duy nhất là cứu dân, họ sẵn sàng gạt bỏ cái tôi, gạt bỏ những tự ái, gạt bỏ sự vị kỷ, gạt bỏ những lớp bảo vệ lợi ích đặc quyền cho giai cấp lãnh đạo, và cách mạng nhất, gạt bỏ cả những giáo điều đã gắn bó cả đời để chọn lấy "Đại nghĩa". Đây chính là di sản, là bài học đạo đức lớn nhất của Đổi mới: Khi cái tâm trong sáng, hành động sẽ tự khắc hướng về phía nhân dân, và mọi sự chuyển đổi chỉ có thể thành công khi người cầm lái có một tâm thế phụng sự vô tư.
Văn kiện Đại hội VI đã khắc vào lịch sử một lời thề danh dự: “Vì Tổ quốc, vì Nhân dân, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”.
Đứng trước những ngã rẽ của lịch sử
Để hiểu hết giá trị của Đại hội VI, cần đặt Việt Nam trong bức tranh toàn cảnh của thế giới XHCN giai đoạn 1983-1987. Đó là thời điểm của những sự lựa chọn mang tính định mệnh, khi mà mỗi quốc gia trong khối đều phải đối diện với khủng hoảng bằng những cách khác nhau.
Liên Xô cải tổ chính trị một cách nôn nóng, những tư tưởng perestroika và glasnost của Gorbachev hướng đến thay đổi cấu trúc chính trị nhanh trong khi nền kinh tế chưa có bệ đỡ vững chắc, và sự lãng mạn hoá tiến trình dân chủ đã dẫn đến hệ quả là sự mất kiểm soát dẫn đến sụp đổ liên bang.
Trung Quốc kiêu hãnh đề cao chủ thuyết thực dụng “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình, thoạt xem có vẻ cấp tiến, nhưng sâu xa chứa đựng một căn tính “bất cận nhân tình” mà di căn xã hội đến tận ngày nay đã dần bộc lộ trong cả quốc nội và đối ngoại. Họ đã ưu tiên kinh tế tuyệt đối và giữ vững ổn định chính trị. Mô hình này cũng dẫn đến nhiều mặt trái về bất bình đẳng và tập trung quyền lực.
Cuba và Bắc Triều Tiên: Hai quốc gia này chọn cách "chỉnh đốn" và thắt chặt kiểm soát để bảo vệ tính lý tưởng của chế độ. Điều này giúp họ ổn định về chính trị tạm thời nhưng phải trả giá bằng sự trì trệ kinh tế kéo dài cho đến tận ngày nay. “Vật chất quyết định ý thức”, Marx đã chỉ ra, nhưng có những người tự xưng là học trò của Marx lại cố tình không muốn hiểu.
Đông Âu lại là một sự phân hóa sâu sắc. Trong khi Hungary nỗ lực cải cách kinh tế thì Romania lại chọn lối mòn bảo thủ, củng cố quyền lực cá nhân giữa lúc lòng dân dậy sóng. Hệ quả dẫn đến đầy khốc liệt cho những người cầm quyền như chúng ta đã thấy.
Với Đại hội Đảng lần thứ VI, Việt Nam vào năm 1986 đã chắt lọc được tinh túy của thời đại: Tinh thần dũng cảm nhìn vào sự thật của Liên Xô, sự thực dụng kinh tế của Trung Quốc, nhưng quan trọng nhất là giữ được bản sắc "Chí nhân" của dân tộc. Chúng ta không chọn cách kiểm soát cực đoan để tự cô lập, cũng không chọn cách dân chủ hóa vội vàng để tan rã. Việt Nam đã chọn con đường "Đổi mới dựa trên lòng dân".
Nói một cách không thể sai, Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1986 đã tìm thấy con đường thoát hiểm nhờ thấm nhuần một triết lý nhân sinh đã ăn sâu vào huyết quản dân tộc từ sáu thế kỷ trước: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”, triết lý mà Nguyễn Trãi đã chỉ rõ ra chỉ trong mười bốn chữ.
Trong bối cảnh năm 1986, đại diện cho khái niệm "hung tàn" chính là những định kiến cũ kỹ, là cơ chế quan liêu đang bóp nghẹt sức sống nhân dân. Đại hội VI chính là sự trỗi dậy của “đại nghĩa” - nghĩa lớn vì dân - và “chí nhân” - lòng nhân nghĩa biết lắng nghe nỗi đau của đồng bào để tự thay đổi. Tầng lớp lãnh đạo Việt Nam đã không dùng quyền lực để thao túng bộ máy Nhà nước, để cưỡng bách dân chúng tin vào những điều không còn phù hợp, để khuất phục đồng bào của mình trong một nỗi sợ hãi thường trực, mà dùng chính sự chuyển mình thực sự từ tư tưởng đến hành động, sự thay đổi trong hoạch định và thực thi chính sách để thuyết phục nhân dân.
"Đại nghĩa" và "Chí nhân" trong từng trang văn kiện
Khi soi chiếu tư tưởng của Nguyễn Trãi vào Văn kiện Đại hội VI, chúng ta thấy một sự gặp gỡ kỳ diệu giữa đạo lý dân tộc và tư duy chính trị hiện đại:
Sự minh bạch là gốc của "Đại nghĩa": Đảng cam kết “nói rõ sự thật”. Sự thật chính là "Đại nghĩa" được viết hoa.
Tôn trọng nhân dân, tôn trọng quyền công dân là biểu hiện thời đại của khái niệm “Chí nhân” mà những Nguyễn Trãi, Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh hằng tâm niệm.
Nghị quyết Đại hội VI bao hàm đầy đủ hai phạm trù đó khi nêu rõ:
“Khẳng định những thành tựu đã đạt được, chúng ta đồng thời nhận rõ tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt: sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng.
“Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân.
“Không đánh giá thấp những khó khăn khách quan, Đại hội nghiêm khắc chỉ ra rằng nguyên nhân chủ quan của tình hình trên đây là những sai lầm, khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước.
Chúng ta có khuyết điểm trong việc đánh giá tình hình cụ thể của đất nước, trong việc xác định mục tiêu và bước đi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong 5 năm 1976-1980, trên thực tế đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp. Trong 5 năm 1981-1985, đã không nghiêm chỉnh thực hiện những kết luận đúng đắn của Đại hội lần thứ V của Đảng về cụ thể hoá đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên, chưa kiên quyết khắc phục chủ quan nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông…
“Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện.
“Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng.
“Những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực kinh tế, xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng…”
Những dòng chữ thẳng thắn của những con người cộng sản thực thụ.
Những dòng chữ trên trang giấy văn kiện của bốn thập kỷ trước không hề cũ đi, trái lại, chúng đang trở thành tấm gương soi chiếu các thế hệ tiếp nối, nhắc nhở rằng: Nếu xa rời tính nhân bản của sự thật, thiếu tôn trọng ý nguyện của nhân dân, xem nhẹ “Đại nghĩa” và “Chí nhân”, mọi mô hình quản lý đều có nguy cơ bị đào thải.
Giữ và phát huy di sản Đổi mới trước những thử thách thời đại
Nhìn lại chặng đường gần nửa thế kỷ, chúng ta không thể phủ nhận những thành quả to lớn: Việt Nam từ nước thiếu ăn đã trở thành một nền kinh tế năng động và có vị thế quốc tế chưa từng có. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn 2026, việc bảo vệ thành quả ấy đòi hỏi một sự tỉnh táo để tránh những lệch lạc có thể làm xói mòn nền tảng đạo lý của đất nước, của dân tộc.
Sự ổn định bền vững nhất luôn là sự ổn định dựa trên niềm tin xã hội. Trong thế giới số hóa, nếu các biện pháp quản lý công dân thiếu đi sự minh bạch và tính tương tác nhân văn, chúng dễ trở thành "vòng kim cô" kìm hãm sức sáng tạo. Bên cạnh đó, bài học về "Đại nghĩa" hôm nay chính là cuộc đấu tranh đẩy lùi xu hướng "tập đoàn trị" hay sự khuynh loát nguồn lực bởi các nhóm lợi ích thân hữu. Phát triển bền vững là phải tạo điều kiện bình đẳng cho mọi công dân, thay vì để tài sản quốc gia chảy vào những "túi nhỏ" của các lợi ích cục bộ. Phát huy trí tuệ tạo thành sức mạnh dân tộc chưa bao giờ đồng nghĩa với việc một “nhóm nhỏ tinh hoa” nghĩ thay cho cả xã hội, và “sắp đặt xã hội” trong không gian suy nghĩ đó.
Dư ba – con sóng để lại
Sau bốn mươi năm, những người lính cầm lái con thuyền đất nước vào năm 1986 hầu hết đã về với tổ tiên, nhưng ngọn lửa “nhìn thẳng vào sự thật" mà họ nhen nhóm vẫn cần được giữ ấm, bát cơm “no đói cùng nhân dân” họ xới lên vẫn cần được đơm đầy . Lịch sử không phán xét bất cứ ai qua những huân chương tự trao nhau, mà phán xét qua việc mỗi người đã đối đãi với niềm tin của tiền nhân, của nhân dân mình như thế nào trong những khúc quanh của thời đại. "Đại nghĩa" hay "cường bạo", câu trả lời không nằm ở những quyết định hành chính, mà nằm ở nhịp đập của trái tim mỗi người cầm lái.
Nằm ở phẩm giá của họ.