Phan Nhơn's Reading Room

Phan Nhơn's Reading Room Tủ sách cá nhân

Bạn tác giả U30 này đang là Nghiên cứu sinh ngành Lịch sử, USSH.
24/01/2026

Bạn tác giả U30 này đang là Nghiên cứu sinh ngành Lịch sử, USSH.

Sách tác giả tặng. Tác phẩm thứ 7 của người bạn chưa đầy 30 tuổi. Đáng nể.
23/01/2026

Sách tác giả tặng. Tác phẩm thứ 7 của người bạn chưa đầy 30 tuổi. Đáng nể.

Bài học 40 năm từ Đại hội VI: "Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo"Phan NhơnKhởi nguồn từ mộ...
23/01/2026

Bài học 40 năm từ Đại hội VI: "Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo"

Phan Nhơn

Khởi nguồn từ một lời thề “Nhìn thẳng vào sự thật”

Cách nay tròn bốn thập kỷ, Việt Nam đứng trước ngưỡng cửa sinh tử của vận mệnh dân tộc. Nhìn lại thời điểm năm 1986, có một thực tế lịch sử đầy xúc động: Những người chèo lái con thuyền đất nước khi ấy phần lớn là những bậc lão thành bước ra từ khói lửa chiến tranh. Họ là những vị tướng trận, những nhà hoạt động cách mạng đầy bản lĩnh, nhưng lại là những người "tập tễnh" khi bước vào địa hạt quản lý kinh tế.

Trong suốt 10 năm đầu sau thống nhất (1975-1986), khi tiếng súng vẫn chưa hoàn toàn dứt ở hai đầu biên giới, thế hệ lãnh đạo ấy đã phải đối mặt với một thực tế khắc nghiệt: những tư duy quản trị cũ, duy ý chí đã dẫn đến sai lầm và thất bại nhiều hơn thành công. Thế nhưng, chính trong bối cảnh bi tráng đó, một phép màu của bản lĩnh chính trị đã xảy đến. Có lẽ, vì họ đã đi qua cuộc chiến tranh giải phóng với một tâm thế yêu nước trong sáng và vô tư, nên khi đối diện với thất bại của chính mình trong quản lý kinh tế, họ đã giữ nguyên cái tâm thế "vì dân vì nước" ấy để soi xét lại mình. Khi thấy dân đói, nước kiệt, những người lính năm xưa đã chọn đối diện với sự thật, chọn cách "tự phẫu thuật" chính tư duy của mình.

Sự sáng suốt và dũng cảm của họ không đến từ các học vị kinh tế hàn lâm, mà đến từ lòng trắc ẩn và trách nhiệm của người lính trước vận mệnh dân tộc. Khi mục tiêu duy nhất là cứu dân, họ sẵn sàng gạt bỏ cái tôi, gạt bỏ những tự ái, gạt bỏ sự vị kỷ, gạt bỏ những lớp bảo vệ lợi ích đặc quyền cho giai cấp lãnh đạo, và cách mạng nhất, gạt bỏ cả những giáo điều đã gắn bó cả đời để chọn lấy "Đại nghĩa". Đây chính là di sản, là bài học đạo đức lớn nhất của Đổi mới: Khi cái tâm trong sáng, hành động sẽ tự khắc hướng về phía nhân dân, và mọi sự chuyển đổi chỉ có thể thành công khi người cầm lái có một tâm thế phụng sự vô tư.

Văn kiện Đại hội VI đã khắc vào lịch sử một lời thề danh dự: “Vì Tổ quốc, vì Nhân dân, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”.

Đứng trước những ngã rẽ của lịch sử

Để hiểu hết giá trị của Đại hội VI, cần đặt Việt Nam trong bức tranh toàn cảnh của thế giới XHCN giai đoạn 1983-1987. Đó là thời điểm của những sự lựa chọn mang tính định mệnh, khi mà mỗi quốc gia trong khối đều phải đối diện với khủng hoảng bằng những cách khác nhau.

Liên Xô cải tổ chính trị một cách nôn nóng, những tư tưởng perestroika và glasnost của Gorbachev hướng đến thay đổi cấu trúc chính trị nhanh trong khi nền kinh tế chưa có bệ đỡ vững chắc, và sự lãng mạn hoá tiến trình dân chủ đã dẫn đến hệ quả là sự mất kiểm soát dẫn đến sụp đổ liên bang.

Trung Quốc kiêu hãnh đề cao chủ thuyết thực dụng “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình, thoạt xem có vẻ cấp tiến, nhưng sâu xa chứa đựng một căn tính “bất cận nhân tình” mà di căn xã hội đến tận ngày nay đã dần bộc lộ trong cả quốc nội và đối ngoại. Họ đã ưu tiên kinh tế tuyệt đối và giữ vững ổn định chính trị. Mô hình này cũng dẫn đến nhiều mặt trái về bất bình đẳng và tập trung quyền lực.

Cuba và Bắc Triều Tiên: Hai quốc gia này chọn cách "chỉnh đốn" và thắt chặt kiểm soát để bảo vệ tính lý tưởng của chế độ. Điều này giúp họ ổn định về chính trị tạm thời nhưng phải trả giá bằng sự trì trệ kinh tế kéo dài cho đến tận ngày nay. “Vật chất quyết định ý thức”, Marx đã chỉ ra, nhưng có những người tự xưng là học trò của Marx lại cố tình không muốn hiểu.

Đông Âu lại là một sự phân hóa sâu sắc. Trong khi Hungary nỗ lực cải cách kinh tế thì Romania lại chọn lối mòn bảo thủ, củng cố quyền lực cá nhân giữa lúc lòng dân dậy sóng. Hệ quả dẫn đến đầy khốc liệt cho những người cầm quyền như chúng ta đã thấy.

Với Đại hội Đảng lần thứ VI, Việt Nam vào năm 1986 đã chắt lọc được tinh túy của thời đại: Tinh thần dũng cảm nhìn vào sự thật của Liên Xô, sự thực dụng kinh tế của Trung Quốc, nhưng quan trọng nhất là giữ được bản sắc "Chí nhân" của dân tộc. Chúng ta không chọn cách kiểm soát cực đoan để tự cô lập, cũng không chọn cách dân chủ hóa vội vàng để tan rã. Việt Nam đã chọn con đường "Đổi mới dựa trên lòng dân".

Nói một cách không thể sai, Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1986 đã tìm thấy con đường thoát hiểm nhờ thấm nhuần một triết lý nhân sinh đã ăn sâu vào huyết quản dân tộc từ sáu thế kỷ trước: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”, triết lý mà Nguyễn Trãi đã chỉ rõ ra chỉ trong mười bốn chữ.

Trong bối cảnh năm 1986, đại diện cho khái niệm "hung tàn" chính là những định kiến cũ kỹ, là cơ chế quan liêu đang bóp nghẹt sức sống nhân dân. Đại hội VI chính là sự trỗi dậy của “đại nghĩa” - nghĩa lớn vì dân - và “chí nhân” - lòng nhân nghĩa biết lắng nghe nỗi đau của đồng bào để tự thay đổi. Tầng lớp lãnh đạo Việt Nam đã không dùng quyền lực để thao túng bộ máy Nhà nước, để cưỡng bách dân chúng tin vào những điều không còn phù hợp, để khuất phục đồng bào của mình trong một nỗi sợ hãi thường trực, mà dùng chính sự chuyển mình thực sự từ tư tưởng đến hành động, sự thay đổi trong hoạch định và thực thi chính sách để thuyết phục nhân dân.

"Đại nghĩa" và "Chí nhân" trong từng trang văn kiện

Khi soi chiếu tư tưởng của Nguyễn Trãi vào Văn kiện Đại hội VI, chúng ta thấy một sự gặp gỡ kỳ diệu giữa đạo lý dân tộc và tư duy chính trị hiện đại:

Sự minh bạch là gốc của "Đại nghĩa": Đảng cam kết “nói rõ sự thật”. Sự thật chính là "Đại nghĩa" được viết hoa.

Tôn trọng nhân dân, tôn trọng quyền công dân là biểu hiện thời đại của khái niệm “Chí nhân” mà những Nguyễn Trãi, Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh hằng tâm niệm.

Nghị quyết Đại hội VI bao hàm đầy đủ hai phạm trù đó khi nêu rõ:

“Khẳng định những thành tựu đã đạt được, chúng ta đồng thời nhận rõ tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt: sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng.

“Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân.

“Không đánh giá thấp những khó khăn khách quan, Đại hội nghiêm khắc chỉ ra rằng nguyên nhân chủ quan của tình hình trên đây là những sai lầm, khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước.

Chúng ta có khuyết điểm trong việc đánh giá tình hình cụ thể của đất nước, trong việc xác định mục tiêu và bước đi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong 5 năm 1976-1980, trên thực tế đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp. Trong 5 năm 1981-1985, đã không nghiêm chỉnh thực hiện những kết luận đúng đắn của Đại hội lần thứ V của Đảng về cụ thể hoá đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên, chưa kiên quyết khắc phục chủ quan nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông…

“Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện.

“Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng.

“Những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực kinh tế, xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng…”

Những dòng chữ thẳng thắn của những con người cộng sản thực thụ.

Những dòng chữ trên trang giấy văn kiện của bốn thập kỷ trước không hề cũ đi, trái lại, chúng đang trở thành tấm gương soi chiếu các thế hệ tiếp nối, nhắc nhở rằng: Nếu xa rời tính nhân bản của sự thật, thiếu tôn trọng ý nguyện của nhân dân, xem nhẹ “Đại nghĩa” và “Chí nhân”, mọi mô hình quản lý đều có nguy cơ bị đào thải.

Giữ và phát huy di sản Đổi mới trước những thử thách thời đại

Nhìn lại chặng đường gần nửa thế kỷ, chúng ta không thể phủ nhận những thành quả to lớn: Việt Nam từ nước thiếu ăn đã trở thành một nền kinh tế năng động và có vị thế quốc tế chưa từng có. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn 2026, việc bảo vệ thành quả ấy đòi hỏi một sự tỉnh táo để tránh những lệch lạc có thể làm xói mòn nền tảng đạo lý của đất nước, của dân tộc.

Sự ổn định bền vững nhất luôn là sự ổn định dựa trên niềm tin xã hội. Trong thế giới số hóa, nếu các biện pháp quản lý công dân thiếu đi sự minh bạch và tính tương tác nhân văn, chúng dễ trở thành "vòng kim cô" kìm hãm sức sáng tạo. Bên cạnh đó, bài học về "Đại nghĩa" hôm nay chính là cuộc đấu tranh đẩy lùi xu hướng "tập đoàn trị" hay sự khuynh loát nguồn lực bởi các nhóm lợi ích thân hữu. Phát triển bền vững là phải tạo điều kiện bình đẳng cho mọi công dân, thay vì để tài sản quốc gia chảy vào những "túi nhỏ" của các lợi ích cục bộ. Phát huy trí tuệ tạo thành sức mạnh dân tộc chưa bao giờ đồng nghĩa với việc một “nhóm nhỏ tinh hoa” nghĩ thay cho cả xã hội, và “sắp đặt xã hội” trong không gian suy nghĩ đó.

Dư ba – con sóng để lại

Sau bốn mươi năm, những người lính cầm lái con thuyền đất nước vào năm 1986 hầu hết đã về với tổ tiên, nhưng ngọn lửa “nhìn thẳng vào sự thật" mà họ nhen nhóm vẫn cần được giữ ấm, bát cơm “no đói cùng nhân dân” họ xới lên vẫn cần được đơm đầy . Lịch sử không phán xét bất cứ ai qua những huân chương tự trao nhau, mà phán xét qua việc mỗi người đã đối đãi với niềm tin của tiền nhân, của nhân dân mình như thế nào trong những khúc quanh của thời đại. "Đại nghĩa" hay "cường bạo", câu trả lời không nằm ở những quyết định hành chính, mà nằm ở nhịp đập của trái tim mỗi người cầm lái.

Nằm ở phẩm giá của họ.

Tựa sách gốc: THE COMING WAVE Technology, Power, and the Twenty-first Century’s Greatest Dilemma. 2023. Tác giả: Mustafa...
31/05/2024

Tựa sách gốc: THE COMING WAVE Technology, Power, and the Twenty-first Century’s Greatest Dilemma. 2023. Tác giả: Mustafa Suleyman. Bản dịch tiếng Việt của CTCP Xuất bản Khoa học và Giáo dục Thời đại.

Qua 14 chương sách, tác giả nêu lên các ý chính:

- Công nghệ AI, cùng với Sinh học tổng hợp, chính là cuộc cách mạng mới mang tính đột phá đối với xã hội loài người.
- Cũng như những cuộc cách mạng trước, con người không thể hình dung ra nổi những hiệu quả to lớn sẽ được mang lại.
- Cùng với những tác động tích cực luôn có sự song hành của các tác động nguy hiểm mà chúng ta phải hợp sức kiềm toả.
- Các định chế nhà nước trở nên lung lay trước các làn sóng công nghệ này, và rơi vào một thế lưỡng nan.

Sách được tác giả tặng.
15/07/2023

Sách được tác giả tặng.

Quốc tế chính trị, và Việt Nam trong thế kẹt.Việt Chiến xuất bản 1966, trong hình là bản remake.Tác giả Vũ Tài Lục.
15/07/2023

Quốc tế chính trị, và Việt Nam trong thế kẹt.

Việt Chiến xuất bản 1966, trong hình là bản remake.

Tác giả Vũ Tài Lục.

Sách tác giả tặng.
15/07/2023

Sách tác giả tặng.

Sách in đẹp.
15/07/2023

Sách in đẹp.

Sách dày 200 trang trong đó có đến 100 trang là các bài học kinh nghiệm và kết luận. Hôm nay chắc nhiều người rất cần đọ...
08/07/2023

Sách dày 200 trang trong đó có đến 100 trang là các bài học kinh nghiệm và kết luận.

Hôm nay chắc nhiều người rất cần đọc lại những bài học này.

NHÂN QUYỀN CỦA NGƯỜI VIỆTTỪ BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC ĐẾN BỘ LUẬT GIA LONG Trà Điêu Việc tìm hiểu, nghiên cứu và đưa ra đánh gía ...
08/07/2023

NHÂN QUYỀN CỦA NGƯỜI VIỆT
TỪ BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC ĐẾN BỘ LUẬT GIA LONG

Trà Điêu

Việc tìm hiểu, nghiên cứu và đưa ra đánh gía đối với hai bộ luật thành văn của các nhà nước quân chủ Việt Nam, Quốc triều hình luật (tên gọi thông dụng là “Luật Hồng Đức”) của Nhà Lê và Hoàng Việt luật lệ (“Luật Gia Long”) của nhà Nguyễn được thực hiện từ khá lâu. Trước cả các bản dịch ra chữ quốc ngữ, các học giả Pháp trong thời kỳ thuộc địa đã lần lượt dịch các công trình luật này ra chữ Pháp: L.G. Aubaret dịch Hoàng Việt luật lệ thành Code Annamite vào năm 1865 và R. Deloustal dịch Quốc triều hình luật thành La Justice dans l’Ancien Annam công bố từ năm 1919 đến năm 1922 trên các số Tập san nghiên cứu của Trường Viễn Đông Bác Cổ. Bản dịch ra chữ Quốc ngữ được thực hiện rất lâu sau đó, năm 1956 cho bộ Quốc triều hình luật và 1994 cho bộ Hoàng Việt luật lệ.

Những thông tin vừa nêu được giới thiệu trong công trình nghiên cứu của hai tác giả Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hoà, Nhân quyền của người Việt từ bộ Luật Hồng Đức đến bộ Luật Gia Long. Kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trước, hai tác giả Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hoà đã giúp người đọc hệ thống hoá lại khá nhiều vấn đề liên quan đến hai bộ luật: bối cảnh lịch sử đưa đến hoàn cảnh hình thành, việc tổ chức biên soạn, tư tưởng chủ đạo, cấu trúc nội dung, các bản in cổ còn lưu giữ, công tác dịch thuật, giá trị nội dung, đánh giá qua các thời kỳ.

Tuy nhiên, tất cả những nội dung âý chưa phải là phần đắt giá nhất của công trình bốn trăm trang của hai tác giả. Vốn đều là những nhà thực hành luật dày dạn thực tiễn, hai tác giả Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hoà đã sử dụng thế mạnh này để đi sâu phân tích nội dung của từng bộ luật, chắt lọc ra những nội dung tiêu biểu, độc đáo và tiến bộ nhất của hai bộ luật để phân tích, đối chiếu và đưa ra những nhận xét đánh giá trên góc độ cố gắng khách quan nhất. Hai mươi bốn điểm phân tích đối với Quốc triều hình luật và hai mươi ba điểm phân tích đối với Hoàng Việt luật lệ đã được xây dựng như thế, trở thành nội dung cốt lõi của quyển sách.

Gần năm mươi phần phân tích này xoay quanh một trục chủ đạo chung được hai tác giả xác định từ đầu: vấn đề nhân quyền. Đó cũng là giá trị thật sự mới mà các tác giả đem đóng góp vào chuỗi quá trình nghiên cứu hai bộ cổ luật của Việt Nam. Đưa vào hệ quy chiếu của phạm trù nhân quyền, cả hai bộ luật nổi lên như những văn kiện mang tính nhân bản cao hơn so với mặt bằng quan niệm của thời điểm mà chúng được hình thành và được vận dụng. Từ góc độ lập pháp và hành pháp, phát hiện này có thể xem như một luận điểm hỗ trợ cho việc nghiên cứu rộng hơn đối với các khía cạnh khác của hai triều đại Lê và Nguyễn trong tiến trình lịch sử dân tộc.

Thành công lớn nhất của quyển sách chính là ở đó, và tên gọi của sách đã rất nhất quán với ý đồ của các tác giả.

Trong phần phân tích của mình, các tác giả đưa ra những đối chiếu giữa hai bộ luật với nhau, đối chiếu giữa các bộ luật của nhà nước quân chủ Việt Nam và các bộ luật của các nhà nước quân chủ Trung Hoa đồng thời, mà có luồng quan điểm cho rằng luật Việt Nam căn cứ khá nhiều vào đấy. Thẳng thắn đề cập đến luồng quan điểm ấy một cách khách quan, các tác giả đã khéo léo phản biện lại luồng quan điểm ấy qua việc đưa ra những khác biệt cơ bản giữa luật Việt Nam và luật Trung Hoa về cấu trúc, về ý tứ, về hướng dẫn vận dụng luật, bằng cả việc tìm những cơ sở chứng minh trong các trước tác có giá trị bổ trợ thông tin như Đại Nam điển lệ toát yếu của Nguyễn Sĩ Giác, như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ của Nội các triều Nguyễn… Các tác giả đã dành nguyên một chương, Chương Năm – Cần công bằng với bộ Luật Gia Long để bảo vệ quan điểm riêng của mình.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã viết trong Ý kiến nhận xét được in ở đầu sách như sau: “ Đây là kết quả nghiên cứu nghiêm túc, mà các tác giả thu hoạch được sau quá trình làm việc cẩn trọng của mình”. Đúng vậy, tác phẩm này không thể hình thành mà không trải qua một tiến trình thu thập, sắp xếp, xử lý một khối lượng thông tin rất lớn. Danh mục hơn một trăm tài liệu tham khảo mà các tác giả viện dẫn, chắc chắn các tác giả trên thực tế đã phải mất rất nhiều thời gian để xem xét trên từng đầu sách, đầu báo được đề cập, để hình thành một tác phẩm rất chặt chẽ về nội dung.

Vào ngày 15 tháng 7 năm 2023, Tạp chí Xưa và Nay sẽ tổ chức buổi toạ đàm gặp gỡ với hai tác giả Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hoà, xoay quanh nội dung của tác phẩm, tại trụ sở phía Nam của Tạp chí. Các bạn đọc, nhà nghiên cứu quan tâm có thể cùng tham dự.

Address

Ninh Thới, Cầu Kè
Trà Vinh
87316

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phan Nhơn's Reading Room posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Phan Nhơn's Reading Room:

Share

Category