28/02/2016
2. Ba Đình căn cứ kháng chiến chiến lược
Ba Đình là một xã đồng chiêm trũng thuộc huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hóa. Phía Bắc giáp Nga Vịnh, phía Nam giáp Nga Thắng, phía Đông giáp Nga Văn, phía Tây giáp huyện Hà Trung. Cách Ba Đình 3km về phía Đông Nam là núi Sa Liễn (núi Sến), xa hơn chút nữa là núi Chiêm Ba, Tam Linh, Vân Hoàn nằm bên bờ sông Lèn và bến Thắm, phía Tây có núi Giao Thụy... phía Đông Bắc là dẫy núi Tam Điệp hiểm trở như bức tường thành.
Căn cứ Ba Đình được xây dựng trên địa bàn ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh. Vào mùa mưa, căn cứ này trông như một hòn đảo nổi giữa cánh đồng nước mênh mông, tách biệt với các làng khác. Căn cứ này gọi là Ba Đình vì mỗi làng có một cái đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia. Mỗi làng đều có một con đường đi vào.
Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công Tráng đã họp các tướng lĩnh, trình bầy kế hoạch xây dựng căn cứ Ba Đình. Việc xây thành ông giao cho Đốc Khế chỉ huy. Việc huy động dân phu và nguyên liệu giao cho các tướng khác. Nhân dân ở các làng quanh Ba Đình bao gồm cả hai huyện Nga Sơn và Tống Sơn đã hết lòng ủng hộ nghĩa quân. Mỗi làng góp 30 cái rọ lớn cao 2m, 100 cây tre tươi còn nguyên cả cành và 10 gánh rơm để nghĩa quân xây dựng công sự. Nhân dân ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh đã nhường lại nhà cửa, vườn tược, chuyển đi ở nơi khác để nghĩa quân xây dựng căn cứ. Nhờ tinh thần yêu nước và sự đóng góp to lớn của nhân dân, chỉ trong vòng một tháng, căn cứ Ba Đình đã được xây dựng thành một cụm cứ điểm chiến đấu hết sức kiên cố, bằng cách triệt để lợi dụng địa hình, địa vật, với một hệ thống công sự hầm, hào, thế trận chặt chẽ, liên hoàn, tập trung hỏa lực, phân tán binh lực, bí mật, bất ngờ. Điều đáng lưu ý là ý thức được tính chất gay go, ác liệt của cuộc chiến đấu sắp tới, nghĩa quân đã tổ chức cho người già và trẻ em đi sơ tán ở những vùng phụ cận, nhằm tránh cho nhân dân những tổn thất không cần thiết.
Bao bọc xung quanh căn cứ là luỹ tre dày đặc và một hệ thống hào rộng, rồi đến một lớp thành đất cao 3m, chân rộng từ 8-10m, mặt thành có thể đi lại được. Trên mặt thành, nghĩa quân đặt các rọ tre đựng bùn trộn rơm. Phía trong thành có hệ thống giao thông hào dùng để vận chuyển lương thực và vận động khi không chiến đấu. Ngoài thành là 3 vòng hào lũy, vòng trong rộng khoảng 50m cắm chông ngầm bằng tre tươi đẽo vát, xiên về phía ngoài, làm vật cản sát thương địch. Vòng giữa là lũy tre xanh dầy đặc g*i góc, rậm rạp. Vòng ngoài cùng là một tầng cọc tre ngầm, đẽo nhọn và thả những cành tre, ngọn tre bùng nhùng như dàn mướp. Ở những nơi xung yếu đều có công sự vững chắc. Các hầm chiến đấu được xây dựng theo hình chữ "chi", nhằm hạn chế thương vong.
Đầu mỗi làng đều xây dựng chốt gác kiên cố, có bãi chông mìn cẩn mật và súng thần công. Chốt một: Án ngữ con đường phía tây từ Thạch Lễ vào Mỹ Khê. Chốt hai: Chặn đường từ Sa Liễn, Nga Thôn, vào Mậu Thịnh. Chốt ba: Ngăn chặn từ Tuân Đạo, Điền Hộ từ phía đông và phía đông bắc vào. Các ngọn núi cao ở bên ngoài căn cứ được đặt các trạm gác và đồn tiền tiêu như: Trạm viễn vọng Nga Châu, trạm gác ở Xa Loan, Thổ trung ở phía đông, trạm Thanh Đồn, Tuân Đạo ở phía bắc, trạm Hang Giơi, núi Tam Điệp phía đông. Để đánh lạc hướng địch, Nghĩa quân ở các nơi đã tiến đánh, gây rối thu hút lực lượng quân Pháp, tạo điều kiện giữ bí mật cho nghĩa quân Ba Đình xây dựng căn cứ. Xây dựng xong thành lũy, Đinh Công Tráng cho mở cống Hói Cái. Nước thủy triều dâng cao thì lấp cống lại. Ba Đình thành một pháo đài nổi lềnh bềnh giữa biển nước mênh mông. Có thể nói, Ba Đình là căn cứ tiêu biểu nhất, một chiến tuyến phòng ngự quy mô nhất thời kỳ Cần Vương cuối thế kỷ XIX.
Trong chiến đấu nghĩa quân Ba Đình không bị cô lập. Gần Ba Đình có các đội quân của Nguyễn Kiên đóng ở Bồ Giông, Mậu Yên, Trường Phi Lai. Tống Duy Tân đóng ở Bồng Trung; Cao Điển đóng ở Sơn Thôn; Thanh Xá; Cầm Bá Thước đóng ở Thường Xuân; Trần Xuân Soạn đóng ở Thạch Đằng; căn cứ Mã Cao của Hà Văn Mao; từ Ba Đình nghĩa quân có thể tỏa đi các nơi, chặn đánh các đoàn xe vận tải của địch và tập kích các toán lính hành quân đi qua gần căn cứ.