Như Thanh vùng đất - con người

Như Thanh vùng đất - con người giới thiệu đất nước con người huyện Như Thanh

02/02/2024
Phú Nhuận - Như Thanh
24/07/2019

Phú Nhuận - Như Thanh

27/07/2015

Phong trào đấu tranh cách mạng giành chính quyền tháng 8 năm 1945 tại huyện Như Xuân (Như Thanh).
Năm 1909, Pháp tấn công lên Như Xuân để khai thác gỗ, trung bình mỗi năm khai thác và mang đi hàng nghìn tấn gỗ quý, chúng thiết lập nên nhiều đồn điền để khai thác lâm sản, trồng cây cao su, trẩu, cà phê…Năm 1911, Giăngôchiê thành lập đồn điền Yên Mỹ sau đó mở rộng xuống vùng Phát Vinh, Quảng Dạ (Thanh Tân, Xuân Thái, Xuân Bình ngày nay); Năm 1914, Cơ-răng thành lập nên đồn điền Như Xuân, cuối năm 1918 chúng mở rộng lên vùng Bình Lương, Vĩnh Khang.
Cùng với khai thác tài nguyên đất rừng, chúng đã khảo sát và khai thác mỏ chì ở Thanh Sơn, Quảng Dạ.
Để dễ bề cai trị, bóc lột, thực dân Pháp đã áp đặt bộ máy chính quyền phong kiến tay sai, chế độ thổ ty lang đạo tại vùng đất Như Xuân. Người dân phải chịu vô vàn khổ cực, hàng loạt thứ thuế như thuế đinh, thuế ruộng rẫy, thuế lâm sản,…
Khi các đồn điền ra đời, mở rộng, giai cấp công nhân Như Xuân cũng hình thành và nhanh chóng trở thành lực lượng nòng cốt trong phong trào đấu tranh cách mạng tại địa phương. Năm 1926, số công nhân ở đồn điền Yên Mỹ của hai anh em người Pháp lên đến 150 gia đình. Việc khai thác gỗ ngày càng được đẩy mạnh, số công nhân đốn gỗ, xẻ gỗ, khuân vác gỗ…thường xuyên lên tới 200 người. Sự xuất hiện của lực lượng công nhân tại các đồn điền là một trong những tiền đề quan trọng cho quá trình chuẩn bị vận động cách mạng tại địa phương lúc bấy giờ.
Năm 1929, thực hiện chủ trương của Tỉnh bộ, các thành viên của Hội Việt Nam thanh niên hăm hở đi vào phong trào “vô sản hoá”, hướng tới các đồn điền tuyên truyền giáo dục ý thức cách mạng cho lực lượng công nhân. Đồng chí Võ Danh Thuỳ được giao nhiệm vụ chỉ đạo xây dựng phong trào ở khu vực Nông Cống, Như Xuân. Những tiểu tổ ghép của Việt Nam Thanh niên được xây dựng và phát triển ở các đồn điền Yên Mỹ và một số nơi như Yên Lạc, Xuân Hoà, Mậu Lâm,…Lần đầu tiên, nhân dân Như Xuân được ánh sáng cách mạng rọi tới. Nhất là sau sự kiện thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (ngày 29/7/1930), với việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động cách mạng của Đảng, nhân dân càng tăng thêm niềm tin, ý chí và sức mạnh để tham gia các phong trào đấu tranh.
Ở Như Xuân, tại các đồn điền, công nhân bị thực dân Pháp tăng cường bóc lột sức lao động một cách thậm tệ, làm việc không có chủ nhật, ngày làm từ 14-16 giờ, tiền nhân công rẻ mạt, đàn ông 14 xu/ngày, phụ nữ 10 xu/ngày, trẻ con 8 xu/ngày, lương công nhân Thanh Hoá đứng hàng thứ 14 trong 17 tỉnh Trung Kỳ. “Tức nước, vỡ bờ”, không cam chịu sự bóc lột đến cùng cực như vậy, vào tháng 8/1930, tại các đồn điền Như Xuân, bắt đầu từ Yên Mỹ, sau đó lan ra các đồn khác đã nổ ra các cuộc đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm.
Cuối năm 1930, khi phong trào cách mạng vừa được gây dựng và phát triển ở đồn điền Yên Mỹ thì Đảng bộ Thanh Hoá bị thực dân Pháp khủng bố, một số cán bộ hoạt động ở Như Xuân bị địch lùng bắt, phong trào cách mạng ở Huyện tạm thời ngưng lại. Tuy nhiên, chỉ thời gian ngắn sau đó, Đảng bộ Thanh Hoá được củng cố bắt đầu liên lạc, khôi phục lại phong trào cách mạng huyện nhà. Những năm sau đó, các cuộc đấu tranh biểu tình của công nhân và nông dân tiếp tục diễn ra trong đồn điền Yên Mỹ và lan rộng ra khắp các vùng thôn quê lân cận, tạo tiền đề cho việc xây dựng các căn cứ cách mạng, phát triển chiến tranh du kích.
Tháng 12/1940, nhân dân xã Phú Nhuận đã nổi dậy quyết liệt chống lại tri phủ Bảo Phu, ngăn chặn thành công việc chiếm đất, lập ấp của vị tri phủ tàn ác, tham lam này.
Tháng 7/1941, Thanh Hoá chủ trương xây dựng Như Xuân trở thành căn cứ cách mạng của Tỉnh, bắt đầu từ đồn điền Yên Lạc, bãi Ba Cồn trở thành trung tâm chỉ huy căn cứ, từ đó mở rộng, chắp nối liên lạc với các đồn điền Yên Mỹ, Mỹ Cái ….Nhân dân trong vùng đã hết lòng ủng hộ lương thực thực phẩm để đón đoàn cán bộ về căn cứ hoạt động. Tuy liền sau đó, các căn cứ bị khủng bố, nhưng bước đầu đã gây dựng và tạo cơ sở về tư tưởng tổ chức, khơi dậy tinh thần cách mạng trong công nhân và nhân dân lao động.
Năm 1942, phong trào cách mạng được phục hồi, nhưng cũng là lúc phát xít Nhật chen lấn thực dân Pháp. Tháng 3/1942, phát xít Nhật cử bọn chủ mỏ và chuyên viên khai thác rừng đến Như Xuân khảo sát khai thác quặng và tài nguyên rừng. Phát xít Nhật vào cũng đồng nghĩa với việc bắt phu bắt lính và phong trào chống Nhật, chống lại việc bắt phu đã diễn ra. Để tăng cường củng cố phát triển phong trào cách mạng đồng chí Lê Tất Đắc đã phát động nhân dân treo cờ tại gò Đình (xóm Phúc Toàn, xã Xuân Phúc ngày nay), vận động nhân dân chống lại phát xít. Cuộc treo cờ đã có ảnh hưởng lớn trong nhân dân vì sự kiện đó diễn ra ngay tại làng quê của tri châu (châu Cối). Đó là một thách thức lớn đối với kẻ thù của dân tộc, của giai cấp, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng huyện nhà, góp phần thúc đẩy quá trình chuẩn bị lực lượng cách mạng cho phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật.

Đầu năm 1945, mâu thuẫn dân tộc với bọn phát xít đã lên tới cực điểm, khí thế cách mạng sục sôi trong đông đảo nhân dân các dân tộc huyện nhà. Các xã Yên Thọ, Xuân Du, Cán Khê, Xuân Hoà, Phú Nhuận và Thanh Kỳ đã sẵn sàng đứng lên đánh đổ ách thống trị của Lang đạo, tay sai của thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành lấy chính quyền về tay nhân dân.
Bắt đầu từ 19/8/1945, phong trào đấu tranh giành chính quyền đã nhất loạt nổ ra ở các huyện Thọ Xuân, Nông Cống, Tĩnh Gia…. Nhân dân Như Xuân như được tiếp thêm sức mạnh bởi tinh thần sục sôi ấy của nhân dân các vùng lân cận. Tại khu vực phía Bắc (xã Cán Khê, Xuân Du, Phượng Nghi), ngày 20/8/1945, nhân dân đã liên kết, hợp lực với nhau, tiến hành khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền ở Cán Khê chỉ trong một buổi sáng. Tại xã Xuân Du, tuy thế lực lang đạo ở đây khá mạnh, chưa thể nổi dậy đồng loạt được, nhưng trước khí thế áp đảo của phong trào khởi nghĩa, nhân dân làng Chùa, làng Trung, làng Vạo đã nổi dậy giải tán chính quyền phong kiến thành lập Ủỷ ban lâm thời kháng chiến. Sau khi giành chính quyền, nhân dân Cán Khê đã cùng với nhân dân Xuân Du tiến vào châu lỵ Bến Sung. Trước khí thế phong trào phía Bắc, lang đạo chống trả quyết liệt, đưa quân vây hãm dốc Nổ Đó, xã Phượng Nghi, nơi có địa thế hiểm trở biến thành ranh giới ngăn chặn quân khởi nghĩa tiến vào trung tâm châu lỵ.
Khu vực phía nam, ngày 21/8, nhân dân Thanh Kỳ, Yên Lạc đã kết hợp với lực lượng khởi nghĩa Nông Cống nổi dậy đánh chiếm đồn điền Yên Mỹ.
Cũng trong ngày 21/8, tại khu vực trung tâm, tin thắng lợi dồn dập từ các nơi đưa về, nhân dân các xã Xuân Hoà, Yên Thọ, Thuần Trung, Vĩnh Khang đã tập hợp lực lượng, được sự hỗ trợ của lực lượng phía nam Nông Cống, đã bao vây và làm chủ Châu lỵ Bến Sung, trung tâm đầu não của chế độ lang đạo. Trước sức mạnh của phong trào cách mạng, bọn quan lại hoảng hốt bỏ chạy, một cuộc mít tinh lớn tại trung tâm châu được tổ chức với hàng ngàn người tham gia. Nhiệm vụ cấp bách của cách mạng lúc này là kêu gọi nhân dân đoàn kết giành lấy chính quyền một cách toàn diện.
Cùng với việc đánh chiếm các đồn điền ở Dốc Đỏ, Đồng Kênh, đại diện cách mạng đã trực tiếp thuyết phục quan lại, lang đạo nhằm hạn chế sự phản ứng và tê liệt hoạt động chống đối của chúng, thu hút quần chúng về với cách mạng. Tuy nhiên, với bản chất ngoan cố, không dễ từ bỏ quyền lợi thống trị, bọn quan lại đã ra sức chống đối, quần chúng nhân dân lúc này trình độ nhận thức có hạn, nhiều người chưa được giác ngộ cách mạng, vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi uy tín và tiếng nói, sự dẫn dắt của lang đạo. Chính vậy, việc giành chính quyền ở Như Xuân lúc này không diễn ra đồng loạt, bọn lang đạo vẫn còn nắm quyền hành ở một số nơi. Trước tình hình đó, cuối tháng 9/1945, Tỉnh đã cử đồng chí Lê Hồng Quế về chỉ đạo xây dựng chính quyền ở Như Xuân, theo phương châm mềm dẻo, tranh thủ thành phần lang đạo, bước đầu vẫn tiếp tục sử dụng, bố trí họ vào nắm cương vị chủ chốt trong Chính quyền lâm thời, đồng thời đưa cán bộ của Đảng vào giám sát, chỉ đạo họ thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, dần từng bước gạt bỏ thành phần lang đạo ra khỏi Chính quyền dân chủ nhân dân. Với phương châm như vậy, Hội nghị hiệp thương giữa đại biểu của các tổng, mường được triệu tập tại Mậu Lâm, tại Hội nghị, Uỷ ban lâm thời Như Xuân được thành lập, ông Qúach Văn Tôn – vốn là tri châu của châu Như Xuân được cử làm Chủ tịch, ông Quách Văn Hưng (lang đạo xã Phú Nhuận) làm phó Chủ tịch, ông Mai Xuân Đình làm thư ký, ông Quách Văn Kiện (lang đạo Mậu Lâm) và ông Quách Văn Viêm (lang đạo Xuân Hoà) là uỷ viên.
Kết quả của quá trình vận động cách mạng, mà đỉnh cao là khởi nghĩa giành chính quyền, thành lập UB lâm thời tháng 9/1945 là thắng lợi của sự vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng, có chính quyền, nhân dân Như Xuân phấn khởi và tự hào đoàn kết một lòng cùng nhân dân cả nước tiếp tục con đường đấu tranh để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

CÓ THÊM NIỀM VUI MỚI NHÉ CÁC BẠN NHƯ THANH!Huyện Như Thanh long trọng tổ chức lễ công bố quyết định xếp hạng di tích lịc...
29/06/2015

CÓ THÊM NIỀM VUI MỚI NHÉ CÁC BẠN NHƯ THANH!
Huyện Như Thanh long trọng tổ chức lễ công bố quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia và quyết định phê duyệt dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử Lò cao kháng chiến Hải Vân

Sáng 28-6, huyện Như Thanh long trọng tổ chức lễ công bố quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia và quyết định phê duyệt dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử Lò cao kháng chiến Hải Vân (lò cao NX3).

Về dự buổi lễ có đồng chí Phạm Đăng Quyền - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo Tổng cục Công nghiệp, Bộ Quốc phòng; Ông Dương Trung Quốc đại diện cho Hội Khoa học lịch sử Việt Nam; các sở, ban, ngành cấp tỉnh; các nhân chứng lịch sử; Đồng chí Trần Văn Tuấn – TUV, Bí thư Huyện ủy, CTHĐND huyện; các đồng chí trong BTV Huyện ủy, lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể cấp huyện; lãnh đạo xã Hải Vân, cùng đông đảo nhân dân xã Hải Vân và huyện Như Thanh.

(Đồng chí: Lương Văn Hoàn - UVBTV, Phó Chủ tịch UBND huyện khai mạc buổi lễ)

(Đồng chí: Lê Văn Hùng - Phó Bí thư CT UBND huyện đọc diễn văn,
lịch sử Lò Cao Hải Vân)
Năm 1948, dưới sự chỉ đạo của Cục Quân giới, Bộ Quốc phòng, xưởng kim khí kháng chiến 3KC được giao nhiệm vụ thiết kế và thi công lò cao luyện gang nhỏ thí nghiệm 3KC1 ở Cầu Đất, huyện Con Cuông (Nghệ An), phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau nhiều lần không thành công và bị địch phát hiện bắn phá, lò được chuyển về huyện Như Xuân (Thanh Hóa) với quy mô xây dựng lò lớn hơn để nấu quặng gang, đáp ứng nhu cầu mới của cuộc kháng chiến. Tháng 5 - 1950, hai lò cao ở làng Đồng Mười, huyện Như Xuân với ký hiệu NX1, NX2 được xây dựng. Đến ngày 19-12-1951, mẻ gang đầu tiên ra lò đánh dấu bước ngoặt lịch sử của ngành công nghiệp luyện kim Việt Nam.
Năm 1952, 1953, lò cao NX1 và NX2 bị địch phát hiện và cho máy bay ngày đêm bắn phá. Trước tình hình ấy, cấp trên đã quyết định chuyển toàn bộ xưởng sản xuất vào trong hang Đồng Mười cách địa điểm cũ chừng 1 km. Cuối năm 1953, lò cao NX3 hoàn thành, trùng với dịp chiến thắng oanh liệt của quân ta tại đèo Hải Vân, do đó lò cao NX3 được đổi tên thành lò cao Hải Vân. Trong 3 năm xây dựng và sản xuất, lò cao kháng chiến NX3 đã cung cấp trên 500 tấn gang phục vụ quân sự, góp phần làm nên chiến thắng thần thánh của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, tháng 12-1954, Lò cao ngừng hoạt động. Trong hang hiện vẫn còn dấu tích của những lò gang và chiếc ống khói dã chiến để che mắt kẻ thù. Một công trình thể hiện lòng quyết tâm, sự dũng cảm và ý chí sáng tạo của cha ông trong 9 năm kháng chiến trường kỳ.

Ông Lê Xuân Cang, nguyên công nhân của Lò cao kháng chiến Hải Vân phát biểu.

(Ông: Dương Trung Quốc - Tổng thư ký Hội KH Lịch sử Việt Nam)

Thừa ủy quyền của Bộ Trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đồng chí Phạm Đăng Quyền, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã trao Bằng công nhận xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia đối với di tích lịch sử Lò cao kháng chiến Hải Vân.

Phát biểu tại buổi lễ, sau khi khẳng định ý nghĩa to lớn của di tích lịch sử Lò cao kháng chiến xã Hải Vân, đồng chí Phạm Đăng Quyền yêu cầu các cấp, các ngành có liên quan, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Như Thanh cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý Nhà nước đối với di tích, nghiên cứu, lập quy hoạch tổng thể hệ thống di tích cách mạng, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử văn hóa và các danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và nhân dân trong việc phát huy giá trị khu di tích lịch sử quốc gia Lò cao kháng chiến Hải Vân và các di tích, danh thắng khác trên địa bàn huyện; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm phối hợp với huyện Như Thanh triển khai công tác nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu, hiện vật có liên quan đến di tích; tập trung khai thác các nguồn lực để đầu tư tu bổ, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích này thành một trung tâm văn hóa, du lịch có sức hút đối với du khách; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân khảo sát, đầu tư tại các điểm du lịch trên địa bàn huyện, xây dựng cơ chế ưu đãi đầu tư phát triển du lịch, đưa Như Thanh trở thành điểm nhấn du lịch của tỉnh Thanh.
Tại buổi lễ, UBND tỉnh đã trao quyết địnhphê duyệt dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử Lò cao kháng chiến Hải Vân. Dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử Lò cao kháng chiến Hải Vân có tổng mức đầu tư khoảng 22 tỷ đồng do huyện Như Thanh làm chủ đầu tư, bao gồm các hạng mục như: phục dựng hệ thống lò cao (lò chính, ống khói, lò ủ gang, xưởng sản xuất, đường goòng), cầu đá, hệ thống đường giao thông, bãi đỗ xe, khuôn viên cây xanh, nhà dịch vụ đón tiếp, lầu bát giác, chòi nghỉ,...

Tin ảnh: Hoàng Thủy

07/11/2014

Xin cảm ơn mọi người thời gian qua đã quan tâm, nghé thăm Vùng đất - con người Như Thanh. Nếu các bạn muốn cập nhật đầy đủ thông tin, các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của huyện Như Thanh, mời các bạn đến với Website nhuthanh.thanhhoa.gov.vn ở đó chúng tôi luôn cập nhật đầy đủ tất cả các thông tin một cách nhanh nhất, đầy đủ nhất. xin cám ơn!

04/11/2014

Quá trình hình thành đơn vị hành chính huyện Như Thanh
Thời thuộc Hán, năm 111 (T.CN) đất Như Thanh thuộc huyện Cư Phong
Thời Tam Quốc- Lưỡng Tấn là vùng đất thuộc huyện Tùng Nguyên (huyện Tùng Nguyên: nhà Tấn tách từ huyện Cư Phong mà lập ra, tương đương với huyện Nông Cống, Như Xuân, Như Thanh)
Nhà Tuỳ đặt Thanh Hoá là quận Cửu Chân và chia làm bảy huyện
1- Huyện Cửu Chân 5- Huyện Quân An
2- Huyện Di Phong 6- Huyện Thuận An.
3- Huyện Tứ Phố 7- Huyện Nhật Nam.
4- Huyện Long An.
Đất Như Thanh thuộc huyện Cửu Chân, huyện Cửu Chân là một huyện lớn bao gồm cả đất huyện Đông Sơn, Triệu Sơn, Nông Cống, Như Xuân và một phần huyện Thường Xuân (tức hai huyện Đông Sơn và Nông Cống cũ)
Nhà Đường diệt nhà Tuỳ, cai trị nước ta, đặt đô hộ phủ, quản lý nước ta trong chế độ hành chính “Quận, Huyện” khá chặt chẽ, đất Như Thanh vẫn thuộc huyện Cửu Chân như thời nhà Tuỳ.
Thời Đinh, Lê, Lý vẫn là phần đất huyện Cửu Chân như cũ.
Đến thời Trần- Hồ thì huyện Nông Cống được tách riêng và lúc này đất Như Thanh thuộc huyện Nông Cống. Theo Dư địa chí Nông cống, Thanh Hóa lúc này được đổi là trấn Thanh Đô. Trấn Thanh Đô thời nhà Trần gồm bảy huyện và ba châu, trong đó châu Cửu Chân bao gồm bốn huyện Cổ Chiến, Duyên Giác, huyện Kết Thế và Huyện Nông Cống (trong đó có Như Thanh).
Thời Lê - Nguyễn là tổng Xuân Du, Lãng Lăng và Như Lăng thuộc huyện Nông Cống. Năm 1837, khi thành lập châu Thường Xuân, tổng Như Lăng được cắt về châu Thường Xuân, sau này khi thành lập châu Như Xuân, Như Lăng lại được cắt về châu Như Xuân (theo Đồng Khánh địa dư chí).
Năm 1894 (đời Thành Thái thứ 6), cắt hai tổng Xuân Du, Lãng Lăng và một phần đất thuộc các tổng La Miết (gồm xã Thanh Bôi, thôn Vũ Yên xã Lê Xá, thôn Cự Thịnh xã Cự Lăng, thôn Cự Thắng xã Phú Chẩm, thôn Quần Ngọc xã Quảng Lăng), tổng Lạc Thiện (gồm xã Thanh Đồng, thôn Đồng Kỳ và thôn Đồng Môn xã Tứ Ti Tinh Mễ) thuộc huyện Nông Cống; cùng với tổng Như Lăng thuộc châu Thường Xuân đặt ra châu Như Xuân. Châu Như Xuân lúc này có bốn tổng là Xuân Du, Như Lăng, Lãng Lăng và Hạ Thưởng (theo Đồng Khánh địa dư chí và Đại Nam nhất thống chí).
Tổng Xuân Du (trước vốn tên là Lân Du) ngày đó có bảy xã: Lân Du, Phượng Nghi, Thuần Trung, Mậu Lâm, Yên Cư, Vĩnh Khang và Xuân Hoà, nay là phần đất của các xã sau:
1. Xuân Thọ 5.Cán Khê
2. Xuân Du 6. Phượng Nghi
3.Mậu Lâm 7. Xuân Khang
4. Hải Vân 8. Hải Long.
9. TT Bến Sung và một phần đất của xã Phú Nhuận, Xuân Phúc
Tổng Như Lăng ngày đó có tám xã là Quỳ Thành (trước là sách Hoá Quỳ), Tú Thịnh, An Cư (có tài liệu viết là Cư Yên), Cát Dân, Hữu Lễ, Cứ Đức, Thượng Cốc và Bát Vân, nay là phần đất của các xã thuộc huyện Như Xuân.
Tổng Hạ Thưởng ngày đó có 11 xã là Phú Nhuận, Hạ Bồng, Hạ Thưởng, Yên Trung, Quần Thọ, Cự Thịnh, Chẩm Khê, Yên Lạc, Thanh Kỳ, Phát Vinh và Giải Trại, nay là phần đất của các xã sau:
1. Phú Nhuận 2. Yên Thọ
3. Yên Lạc 4. Thanh Kỳ.
5. Thanh Tân
Tổng Lãng Lăng ngày đó có năm xã là Mi Dã, Trại Sơn, Đôn Cáo, Lương Dụ và Yên Thái, nay là phần đất của các xã sau:
1. Xuân Thái 2. Phúc Đường
3. Xuân Phúc và một số xã thuộc huyện Như Xuân.
Cách mạng tháng Tám thành công, châu Như Xuân được đổi thành huyện Như Xuân, các xã được sát nhập gọn lại thành 12 xã: Vĩnh Hòa, Mậu Lâm, Phượng Nghi, Xuân Du, Cán Khê, Phú Nhuận, Yên Thọ, Thanh Kỳ, Quảng Dạ, Bình Lương, Yên Cát và Thượng Ninh. Năm 1949, xã Thanh Quân thuộc tổng Quân Nhân của Thường Xuân cắt về đất Như Xuân. Đến năm 1964, hàng loạt các xã lớn được chia ra: Quảng Dạ chia thành hai xã Xuân Bình và Xuân Thái; Yên Cát chia thành ba xã Yên Lễ, Hóa Quỳ và Cát Vân; Thanh Quân chia thành ba xã Thanh Quân, Thanh Lâm và Thanh Phong; Vĩnh Hòa chia thành ba xã Hải Vân, Xuân Phúc và Xuân Khang. Từ 1964 đến 1975, Như Xuân ổn định với 20 xã, từ 1976 đến 1995, Như Xuân có nhiều thay đổi, đến 1996, Như Xuân có 30 xã và hai thị trấn (Yên Cát và Bãi Trành).
Ngày 18/11/1996 huyện Như Thanh được tách ra từ huyện Như Xuân theo Nghị định 72/CP của Chính Phủ, lúc này Như Thanh có 16 xã và 171 thôn, bao gồm: Hải Vân, Hải Long, Xuân Khang, Xuân Du, Cán Khê, Phượng Nghi, Phú Nhuận, Yên Thọ, Xuân Phúc, Phúc Đường, Mậu Lâm, Thanh Tân, Thanh Kỳ, Xuân Thọ, Xuân Thái và Yên Lạc. Năm 2002, thị trấn Bến Sung được thành lập trên cơ sở ba thôn của xã Hải Vân (Xuân Điền, Bến Sung 1, Bến Sung 2) và ba thôn của xã Hải Long (Vĩnh Long, Hải Ninh và Hải Tiến) sát nhập lại theo Nghị định số 44/NĐ-CP ngày 11/4/2002 của Chính phủ. Đến nay, Như Thanh có 17 xã, thị trấn và 195 thôn.

Phủ NaPhủ Na nằm trên địa bàn xã Xuân Du, đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá và thắng cảnh ngày 28/01...
04/11/2014

Phủ Na
Phủ Na nằm trên địa bàn xã Xuân Du, đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá và thắng cảnh ngày 28/01/1993.
Theo kết luận tại Hội thảo khoa học về Di tích danh thắng Phủ Na tháng 9/2003, Phủ Na ra đời vào năm 1909 (dấu tích còn ghi lại thượng lương của đền Mẫu Nghi Thiên Hạ), được xây dựng theo kiến trúc thời Nguyễn. Tín ngưỡng thờ ở Phủ Na là thờ Mẫu. Tuy nhiên, điều đặc biệt ở đây là, khi tín ngưỡng của đạo Mẫu- Liễu Hạnh du nhập về Xuân Du thì tại đây đã có tín ngưỡng thờ Tản Viên, mẹ Âu Cơ và Chúa Cửa Rừng (chúa Thượng Ngàn) - tín ngưỡng nguyên thủy của người Mường Hòa Bình. Nơi thờ của người Mường ban đầu là ở ngoài trời (lộ thiên). Vì vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu đã hòa phối cùng tín ngưỡng của người Mường cùng tồn tại, phát triển, được thể hiện ở hệ thống thờ tại Phủ Na: tại chính tẩm của đền Mẫu, việc thờ Mẹ Âu Cơ và Chúa Liễu Hạnh vẫn song hành tồn tại ở khu vực tối linh của Tam Tòa Thánh Mẫu. Ngoài ra, những khu vực thờ khác như Eo En- nơi thờ Tản Viên và bờ thác nước – nơi thờ Chúa Thượng Ngàn vẫn tồn tại trong cùng hệ thống điện thờ Mẫu Nghi Thiên Hạ. Du khách đến với Phủ Na – núi Nưa còn cảm nhận được từ trong tâm linh của mình vong hồn của người nữ anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh qua việc phối thờ Bà tại đền thờ Thánh Mẫu. Chính điều đặc biệt trong tín ngưỡng cùng với phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, và hệ thống đền, miếu quy tụ ở một vùng thung lũng tạo nên một quần thể di tích độc đáo mang tính nguyên sơ, đã thu hút hàng trăm ngàn khách thập phương về với Phủ Na trong những ngày xuân.
Na Sơn là đỉnh cao nhất trong dãy núi Nưa. Từ trên đỉnh núi cao ấy, có một mạch nước ngầm trào tuôn lên và chảy mãi không ngừng, không bao giờ cạn. Du khách đến Na Sơn có thể nhìn thấy mạch nước trong vắt, mát rượi chảy xuống núi từ phía sau đền Thượng, các cụ từ thường lấy nước làm cơm, đồ xôi, pha trà trong việc cúng thần, du khách thường lấy nước về nhà xem đây là nước lộc. Trữ lượng của mạch nước này rất lớn, nước từ vũng ao đền Thượng ngàn công chúa chảy xuôi tới đền Mẫu (đền Trung) ở phía phải, qua đền Quan Hoàng về phía trái, tới trước đền Hạ rồi vòng tới phía hữu đền Cô Ba Đón tạo thành khe sâu. Ngày nay xã Xuân Du đã xây cầu bắc qua, vừa tạo cảnh đẹp vừa để khách du lịch đi lại thuận lợi. Mạch nước ngầm lại chảy tiếp xuống làng Sen qua cánh đồng Kè về đập Lai Mường về Bồng Sách, về làng Mỹ ra cầu Khe Chùa về làng Vạo, đồng Phủ rồi đưa nước ra Cống Nứa qua Văn Sơn.
Hàng năm, cứ độ xuân về và các ngày lễ tiết tháng Hai, tháng Tám âm lịch, Na Sơn tổ chức lễ hội, du khách lại nườm nượp về thăm di tích, thắp nhang cầu tiền nhân và người anh hùng xưa phù trợ với tâm linh thiện cảm.
(dòng nười trẩy hội đầu xuân, lấy nước lộc ở Phủ Na)

Đền thờ Bạch Y Công chúa Là ngôi đền nằm tại xã Hạ Bồng, tổng Hạ Thưởng, châu Như Xuân, nay là làng Phú Sơn, xã Phú Nhuậ...
04/11/2014

Đền thờ Bạch Y Công chúa
Là ngôi đền nằm tại xã Hạ Bồng, tổng Hạ Thưởng, châu Như Xuân, nay là làng Phú Sơn, xã Phú Nhuận và được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh cấp Tỉnh vào tháng 01/2010.
Căn cứ vào các đạo sắc phong được các đời vua nhà Nguyễn phong cho vị thần ở làng Hạ Bồng, huyện Như Thanh thì đền ở đây thờ Bạch Y Công chúa - một biến thể khác của đạo Mẫu. Việc bài trí thờ cúng trong đền Hạ Bồng chính là thờ Tứ phủ công đồng, là hệ thống sáng tạo ra vũ trụ, trong đó vị chủ thần chính là thờ Bạch Y Công chúa, một phân thể của chúa Thượng Ngàn - người cai quản ở vùng cửa rừng núi phía Tây của huyện Nông Cống trước đây. Vì thế đền Hạ Bồng cũng được gọi là phủ Mẫu. Vị thần Bạch Y Công chúa là con gái của thần núi Tản Viên và Mỵ Nương, được cộng đồng cư dân Hạ Bồng hư cấu tưởng tượng cho một phẩm cách anh hùng, coi giữ một vùng rừng núi rộng lớn ở phía tây nam Thanh Hoá trong công cuộc bảo vệ giữ gìn vùng đất ấy.
Đền thờ đã bị huỷ hoại trong những năm kháng chiến chống Pháp, nhưng căn cứ vào các đạo sắc phong cho thần Bạch Y Công chúa sớm nhất còn lưu giữ ở đền vào đời vua Thành Thái thứ 17 (ngày 12/5/1905) cho biết đền được dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Ngôi đền đã được nhân dân tôn tạo lại vào năm 2002 nhưng hiện vẫn còn rất sơ sài và nghèo nàn. Căn cứ vào những gì còn lại ở di tích như đại tự, long ngai Bạch Y, chuông đồng, kiếm thờ…đặc biệt là các đạo sắc phong chứng tỏ sự tồn tại của ngôi đền từ xưa đến nay vẫn còn có ý nghĩa lớn lao về mặt tín ngưỡng.

(Bốn sắc phong đền thờ Bạch Y Công chúa và lễ rước bằng di tích)

Đám cưới người Thái       Đám cưới của đồng bào dân tộc Thái ở Như Thanh cho đến hôm nay vẫn được  xem như một lễ hội tr...
03/07/2014

Đám cưới người Thái
Đám cưới của đồng bào dân tộc Thái ở Như Thanh cho đến hôm nay vẫn được xem như một lễ hội trong sinh hoạt của bản làng. Một đôi nam nữ để tiến tới hôn nhân phải qua những thủ tục bắt buộc theo tập quán, tương tự ở miền xuôi như chạm ngõ, ăn hỏi, nạp tài trước ngày cưới...trong đó, với người Thái, các thủ tục chủ yếu được tập trung thể hiện trong lễ cưới, đặc biệt được coi trọng nhất vẫn là lễ chàng rể ra mắt ma nhà gái và nàng dâu ra mắt ma nhà trai (làm lễ cáo với tổ tiên hai họ). Cũng như người Mường, vai trò của ông Mối trong đám cưới người Thái là hết sức quan trọng.
Khi trong bản có lễ cưới, mọi nhà đều thấy như mình đều có việc, không khí sôi động khác hẳn so với những ngày thường, họ phân công nhau những công việc cần thiết, xem như là nghĩa vụ trách nhiệm của chính gia đình mình. Việc quan trọng đầu tiên của chủ nhà là chọn ông Mối, phải là người tuổi cao trong làng, có sức khoẻ tốt, gia đình hoà thuận, con cháu hiếu thảo, bản thân ông mối phải là người mẫu mực...sau đó mới lo đến việc chuẩn bị gạo nếp, lợn, rượu cần... những điều kiện vật chất khác phục vụ cho đám cưới.
Chuan bi le vat nguoi Thai Thanh Ky
(Chuẩn bị lễ vật dẫn cưới của người Thái Thanh Kỳ))
Việc lo nhất nhưng cũng là niềm hạnh phúc nhất của cô gái ngay sau khi được hai gia đình đồng ý là làm gối, đệm cho các thành viên trong gia đình nhà chồng tương lai của mình
Với việc chuẩn bị lễ vật dẫn cưới, ngoài những lễ vật cần thiết như trầu cau được đựng riêng trong hai chiếc lồng đan bằng tre rất đẹp, một chum rượu cần, gạo nếp được đựng trong chiếc sọt, bánh chưng, nhà trai còn phải chuẩn bị những lễ vật mà nhà gái thách cưới, thường là tiền và một con lợn, phải là lợn đen (to hay nhỏ do nhà gái thách), đặc biệt vật không thể thiếu trong lễ dẫn cưới là đôi vòng bạc trắng, để chàng rể sẽ trân trọng trao cho mẹ vợ trước sự chứng kiến của mọi người, kèm theo câu nói: Cảm ơn mẹ đã sinh ra cho con một người vợ hiền, con xin gửi mẹ một chút quà nhỏ gọi là tấm lòng của con, và người mẹ nhận quà với một vẻ tự hào hãnh diện.
Ông Mối dẫn đầu đoàn nạp tài (cũng là đoàn đón dâu), tới các vị đại diện cho nhà trai sau đó là đến chú rể và cuối cùng là đoàn khênh lễ vật.
Khi nhà trai vào tới cổng nhà gái thì bị một số ả gái bạn của cô dâu té nước, các ả gái này không cho nhà trai tới rước bạn mình đi, lúc này gia đình nhà trai phải có một chút lễ vật để lấy lòng các ả gái mới được qua cổng vào nhà. Hai bên gia đình chào nhau xong, chú rể và phù rể lạy gia đình nhà gái, lạy bố mẹ vợ. Lúc này nhà trai mới đưa sính lễ ra bày lên mâm, nhà gái đáp lễ cũng bằng một mâm trầu rượu. Nhà gái nhận và kiểm tra lại những lễ vật mà họ thách cưới, khi thấy đầy đủ họ cảm ơn gia đình nhà trai và gửi lại nhà trai một phần lễ.
Nhà trai phải tự lo việc làm thịt con lợn là lễ vật mình mang đến để cúng ma nhà gái, họ cắt phần thủ, đùi, đuôi, bụng bầy lên một mâm, các phần còn lại của con lợn cộng với gà làm bốm mâm cỗ cúng, chiếc áo của chú rể được đặt lên bàn thờ tổ tiên nhà gái, với nghĩa xin cho chú rể ra mắt ma nhà gái để trở thành người trong nhà. Lễ cúng diễn ra trong thời gian rất dài, nội dung bài cúng xoay quanh việc xin tổ tiên nhà gái che chở cho đôi vợ chồng gặp nhiều may mắn trong cuộc sống và xin được đưa cô dâu về nhà trai, cũng nói với tổ tiên nhà gái rằng từ nay hai nhà là một, vui buồn đều có nhau. Công việc cuối cùng trong lễ cúng là ông Mối bê chum rượu cần ra mời tổ tiên nhà gái.
Kết thúc ngày nạp tài với nhiều thủ tục mang nhiều ý nghĩa, hầu hết các thủ tục đều là cầu phúc cho đôi vợ chồng mới và cầu chúc sức khoẻ cho hai bên gia đình, mong muốn hai bên sống vui vẻ hạnh phúc, đoàn kết với nhau. Làm lễ nạp tài xong gia đình nhà trai ở lại ăn cơm và ở lại đấy cho tới khi rước dâu về.
Lúc này nhà gái bắt đầu tiếp đón bà con trong làng trong bản tới chung vui. Mọi người đến dự đám cưới đều mang một thứ gì đó đến mừng cùng gia chủ, thường là chai rựu hay đôi gà (một con trống một con mái). Cả bản tập trung tại nhà cô dâu để chung vui bên hủ rựu cần. Cuộc vui kéo dài thâu đêm... những điệu dân ca đặc sắc Thái được mọi người thể hiện hết mình, họ say sưa trong điệu hát đối.
Theo giờ đã định, lễ rước dâu bắt đầu, trước khi về nhà chồng, cô dâu lạy bố mẹ sau đó ông bố dẫn cô dâu ra khỏi cổng trao cho gia đình nhà trai. Cô dâu về nhà chồng mang theo đồ dùng cho hai vợ chồng, cho bố mẹ chồng, các anh em bên chồng. Một điểm rất dễ nhận thấy trong đám rước dâu Thái đó là những tấm đệm bông lau (Xựa boọc lau) được những người trong đám rước dâu khênh gánh theo sau cùng với những vật dụng kèm theo của nhà gái làm của hồi môn. Theo tập quán, nhà trai có bao nhiêu đàn ông, tính từ ông bố đến anh em trai... thì nàng dâu phải có đủ chừng ấy tấm đệm (xựa boọc lau) cùng những chiếc gối (mãn) và những tấm đệm ngồi (pha) tặng cho nhà chồng. Qua số tấm đệm đã, người ta dễ dàng nhận biết chàng rể có bao nhiêu anh em trai....
hanh trang co dau
(Hành trang cô dâu ở Thanh Kỳ mang về nhà chồng)
Đám rước đượcu khởi hành, dẫn đầu là ông Mối, tiếp đến là cô dâu chú rể cùng những phù dâu, phù rể mặc những bộ xống áo đẹp của dân tộc mình. Đoàn dẫn dâu đi trong không khí náo nhiệt. Quan viên hai họ mời cho được những nghệ nhân thuộc và hát hay nhất những bài hát giao duyên của dân tộc mình...họ vừa đi vừa cất lên những câu nhuộm, câu Xuối với nội dung chủ đề về tình yêu, về hạnh phúc lứa đôi....Suốt cả quảng đường đi xa hay gần, cả đoàn rước dâu cũng thong thả vừa đi vừa trò chuyện chen lẫn những câu hát giao duyên.

Đám rước dâu gần về đến nhà trai thì cồng chiêng, khua luống cùng với điệu sặp bắt đầu nổi lên rộn rã. Trước khi bước vào nhà, cô dâu chú rể được ông Mối rót cho cốc rựu uống chung trước khi thực hiện lễ rử chân. Dưới bậc nhà đã chuẩn bị một ống nước trong đó có những đồng bạc trắng với ý nghĩa đây là nước vàng, nước bạc để cô dâu chú rể làm lễ rửa chân. Sau thủ tục này, cô dâu chú rể cùng nhau bước lên nhà. Ở nghi thức này, cô dâu bao giờ cũng nhường chú rể bước lên trước một bậc với ý nghĩa từ nay trong cuộc sống vợ chồng, người chồng là người có uy quyền và là chỗ dựa cho gia đình.
Vào tới nhà cô dâu cúi lạy bố mẹ chồng và anh em gia tộc bên chồng. Lúc này cũng có một lễ cúng nhà trai bầy cỗ trước ban thờ gia tiên và lấy một cái áo của cô dâu để lên bàn thờ với ý cô dâu ra mắt tổ tiên nhà chồng. Làm lễ ra mắt gia tiên xong, nhà trai đã chuẩn bị một hủ rựu cần, cùng một mâm lễ hết sức đơn giản nhưng cực kỳ quan trọng đối với một đám cưới, đã là lễ "cầm vía" gồm có Cau Trầu, một đĩa xôi, hai chiếc cần rượu, mỗi chiếc được buộc một tóm sợi đay cắm sẵn vào hủ rượu. Cô dâu chú rể ngồi ngay ngắn trước mâm lễ và được ông môid làm thủ tục. Sau những lời khấn mang nội dung cáo yết tổ tiên, ông Mỏ nhóm một ít xôi dém chặt đưa cho cô dâu chú rể với nghi thứccháo tay, tay phải để lên tay trái đưa cho chàng rể, tay trái đưa cho cô dâu, cũng làm như vậy ông Mơ lấy hai miếng trầu đưa cho cô dâu và chú rể với mong muốn họ sẻ gắn kết với nhau, Ăn xong mỗi người vít một cần rựu có buộc sợi đay để uống, sợi đay buộc vào đó với ý nghĩa sống bên nhau đến khi bạc đầu râu...
Chính từ lúc này tổ tiên mới chính thức công nhận họ là vợ chồng, bởi đã " cầm vía - Nãn choãng huồm hong", nghĩa là đã " ăn chung đĩa xôi - nằm chung một giường". Hai chiếc cần rượu sau đã được đưa cất nơi đầu giường của đôi vợ chồng và từ đã mãi mãi về sau không dùng đến nữa.
Cũng trong lễ "cầm vía", một phụ nữ bên chồng mà có cuộc sống no đủ, có con ngoan, vợ chồng hòa thuận sẻ buối tóc cho cháu dâu với cách buôi tóc lệch về phía bên trái theo tập quán, nhằm phân biệt giữa người phụ nữ có chồng với người phụ nữ chưa chồng. Sau lễ cầm vía là lễ "Ế nẳn po mơ" (mừng dâu mới) hai bên nội ngoại buộc chỉ cổ tay chúc phúc cho đôi vợ chồng trẻ.
Từ lúc này, cả bản thực sự vào cuộc vui, mừng cho cặp vợ chồng trẻ. Rượu cần chảy không ngớt, câu nhuộm, câu xuôi, điệu lăm, điệu khắp vang lên sôi động cả nói rừng...sẽ là mét may mắn nếu chóng ta bắt gặp và được dự một đám cưới dân tộc Thái trên đất Như Thanh. Lòng hiêu khách, tình cảm chân thành mộc mạc và hào phãng của những người dân nơi đây sẽ làm cho bất cứ ai cũng phải ngất ngây trong men rượu cần và ánh mắt long lanh của cô thiếu nữ phù dâu Thái.

Address

Bến Sung, Huyện Như Thanh
Thanh Hóa

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Như Thanh vùng đất - con người posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share