Hội đồng hương Thanh Hóa

Hội đồng hương Thanh Hóa Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Hội đồng hương Thanh Hóa, Public & Government Service, facebook. com/thanhhoa. gov. vn, Thanh Hóa.

17/11/2016

S Việt Nam- Làng nghề nước mắm Ba Làng xứ Thanh

16/11/2016

S Việt Nam- Tập 1392 Làng nghề nước mắm Ba Làng xứ Thanh

14/11/2016

Quà ngon xứ Thanh

12/11/2016

ĐẶC SẢN VỊT CỔ LŨNG THANH HÓA

11/11/2016

S Việt Nam- Tập 1391 Lễ hội Chá Chiêng của người Thái xứ Thanh

10/11/2016

Đặc sản bưởi tiến vua làng Luận Văn, Thanh Hóa

09/11/2016

S Việt Nam - Làng nghề đúc đồng xứ Thanh Hóa

09/11/2016

Chuyến đi ngọt ngào ở xứ Thanh

Chiếu cói Nga SơnNói đến Thanh Hoá, không ai là không biết chiếu cói Nga Sơn, một sản phẩm nổi tiếng của vùng đất ven bi...
15/07/2016

Chiếu cói Nga Sơn
Nói đến Thanh Hoá, không ai là không biết chiếu cói Nga Sơn, một sản phẩm nổi tiếng của vùng đất ven biển này, vật biểu trưng cho niềm hạnh phúc của những đôi lứa yêu nhau... Chiếc chiếu nổi tiếng đã được lưu truyền qua bao đời, bao thế hệ trên khắp mọi miền của đất nước. Nó đã đi vào ca dao, tục ngữ của người Việt Nam:
Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng
Vải tơ Nam Ðịnh, lụa hàng Hà Ðông
Nga Sơn là vùng đất nằm sát biển, cách thành phố Thanh Hoá 40km về hướng Ðông Bắc. Với 8 xã nằm dọc bờ biển là một vùng triều mầu mỡ, ngoài trồng sú vẹt, mảnh đất này chỉ trồng được một loại cây duy nhất là cói, dệt nên chiếu Nga Sơn - niềm kiêu hãnh của vùng quê này.
Theo lời các vị cao niên kể lại thì ngày xưa, chiếu cói Nga Sơn cùng chiếu cói của Kim Sơn (Ninh Bình) là một trong những vật cống tiến triều đình, được các bậc vua chúa, quý tộc ưa dùng. Cói Nga Sơn nổi tiếng là sợi nhỏ, dai, óng mượt. Ðiều đặc biệt ít có nơi nào có thể trồng được loại cói dài như ở vùng này, loại cói chuyên dùng để dệt nên những tấm chiếu vừa đẹp lại vừa bền. Trải qua hơn 150 năm tồn tại với bao thăng trầm, giờ đây, người dân Nga Sơn không đơn thuần chỉ dệt chiếu cói, nhiều sản phẩm từ cói đã được đôi bàn tay tài hoa, khối óc giàu tính sáng tạo của những người thợ đã "nâng đời" trở thành những mặt hàng thủ công mỹ nghệ với những nét hoạ tiết, văn hoa khác nhau dành cho xuất khẩu. Những tấm thảm lót sàn, chiếu xe đan, làn, dép đi trong nhà, đồ dùng trang trí,... đã có mặt tại thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Tuy hiện nay trên thị trường có rất nhiều sản phẩm cùng loại bằng chất liệu nhựa, mây, gỗ, tre song nhờ chú trọng việc nâng cao chất lượng sản phẩm, nhạy bén với thị trường, đặc biệt là sự ưu việt về giá cả, chủng loại và công dụng mà mặt hàng cói đã chiếm lĩnh được thị trường, kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng đáng kể. Ðến nay, toàn huyện đã có 3 công ty và 10 xí nghiệp, hợp tác xã chuyên sản xuất kinh doanh mặt hàng chiếu cói và các sản phẩm từ cói (chưa kể các công ty nội, ngoại thương cấp tỉnh) toàn huyện có 35% số hộ chuyên sản xuất hàng cói, mỗi năm cung cấp cho thị trường hơn 2 triệu lá chiếu.
Chiếu cói Nga Sơn đã dệt nên tiếng thơm ngàn đời cho vùng đất ven biển Nga Sơn. Hy vọng rằng, trong tương lai không xa, việc phát triển ngành nghề truyền thống sẽ gắn liền với phát triển ngành du lịch sinh thái và các danh lam thắng cảnh huyền ảo mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất Nga Sơn, góp phần làm giàu cho vùng cói ngút ngàn này.

Nem chua Thanh Hóa đậm đà tình quêTheo công thức của người làm nem thì thịt lợn phải nóng, khi vừa mới xẻ thịt, sau đó t...
31/12/2015

Nem chua Thanh Hóa đậm đà tình quê
Theo công thức của người làm nem thì thịt lợn phải nóng, khi vừa mới xẻ thịt, sau đó thái, xay, chế biến ngay, không để lâu.
Nem chua Thanh Hóa nổi tiếng từ lâu bởi vị chua thanh cay thơm ngon đậm đà mà khách thập phương thưởng thức rồi sẽ thèm nhớ. Sau Tết, những người con xa xứ trở về trên hành lý lúc đi bao giờ cũng xách vài chục có khi hàng trăm nem mang theo làm quà tặng bạn bè người thân cho buổi gặp tân niên.
Ngày trước nem chỉ làm vào dịp lễ, Tết nay thì nem có quanh năm, trong các bữa tiệc, cưới hỏi và giỗ chạp. Có rất nhiều hộ gia đình trên phố Cột Cờ, Hạc Thành (thành phố Thanh Hóa) gắn bó với nghề làm nem gần cả chục năm nay. Để có được hương vị nem chua thanh đậm đà tròn vị như hôm nay, những người làm nem xứ Thanh đã biết chắt lọc tinh hoa từ các vùng miền để phù hợp với khẩu vị địa phương. Nem Thanh Hóa không quá cay như ở Huế, không ngọt như nem miền Nam.

Nhiều người khi biết nem được làm từ thịt sống thường “sợ” không dám ăn. Nhưng nếu có dịp tìm hiểu về cách làm bạn sẽ thấy nem được chế biến hết sức kỳ công, qua nhiều công đoạn kỹ lưỡng, từ khâu chọn nguyên liệu cho tới khi đóng gói sản phẩm.

Theo công thức của người làm nem thì thịt lợn phải là thịt nóng, khi lợn vừa mới xẻ thịt thì người thợ sẽ phải thái, xay, chế biến ngay, không để lâu. Bởi nếu thịt nguội, nem sẽ không có độ bóng cũng như sự kết dính trong quá trình lên men.

Ngày trước khi chưa có máy xay, người thợ phải giã thịt bằng tay trong cối đá lớn, nhờ đó thịt sẽ có độ giòn, quánh, dính hơn là thịt xay máy bây giờ.

Da lợn cũng phải chọn rất kỹ, lợn lấy da phải cạo chín bằng nước sôi. Để có những sợi da trong, giòn ngon, người thợ phải lạng, cạo sạch tất cả những phần mỡ còn sót lại cho tới khi lớp da mỏng dần trắng trong mới được. Da càng làm kỹ bao nhiêu thì lúc thái sợi, da càng giòn bấy nhiêu.
Khi nguyên liệu chính là thịt và da đã xong, người thợ sẽ trộn hai hỗn hợp này lại với nhau cùng các loại gia vị gồm thính gạo, muối, bột ngọt, đường, rắc thêm chút nước mắm cho thơm. Sau đó mang hỗn hợp thịt trên ra đóng gói. Mỗi một chiếc nem được người gói kèm thêm chút tỏi, lá đinh lăng, ớt, những phụ gia này có tác dụng làm cho hương vị nem trở nên ngon thơm hấp dẫn và cũng là để cân bằng giữa tính hàn (lạnh) của nem chua, nóng từ lá đinh lăng, ớt.

Lá chuối gói nem phải là lá chuối ngự vừa xanh vừa dày, giúp nem lên men tốt hơn các loại lá chuối khác. Để bảo quản được nhiều ngày người thợ sẽ bọc giấy bóng thêm bên trong nem. Thông thường nem gói sau hai đến ba ngày là chín, có thể dùng được.

Khi ăn, bóc lớp lá chuối màu xanh bên ngoài chiếc nem chín có màu hồng của thịt xen kẽ những sợi da lợn trắng, đỏ của ớt trông rất hấp dẫn…Cắn một miếng nem vị chua thanh của thịt, dai giòn của sợi da, cay của ớt, thơm của tỏi, chát của đinh lăng hòa quyện nơi đầu lưỡi… ngon tuyệt. Ăn rồi sẽ nghiền nhớ, sẽ phải đợi mùa xuân sau có dịp trở về chỉ để được ăn nem chua xứ Thanh.

Lễ hội đền Bà Triệu - nét đẹp văn hóaLễ hội đền Bà Triệu là một trong những lễ hội truyền thống - di sản văn hóa phi vật...
26/03/2013

Lễ hội đền Bà Triệu - nét đẹp văn hóa
Lễ hội đền Bà Triệu là một trong những lễ hội truyền thống - di sản văn hóa phi vật thể vô cùng quý giá của nhân dân trải qua nhiều thế hệ.
Hàng năm, từ ngày 21 đến 23-2 (âm lịch), nhân dân thập phương lại đổ về cùng với nhân dân làng Phú Điền, xã Triệu Lộc (Hậu Lộc) tham gia lễ hội. Nội dung và hình thức của lễ hội đã thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, tôn vinh khí phách anh hùng của hậu thế đối với Bà Triệu - nữ Anh hùng dân tộc của xứ Thanh, đồng thời giáo dục truyền thống yêu nước, đoàn kết xây dựng và bảo vệ đất nước.
Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (226), con một hào trưởng, em của Triệu Quốc Đạt, một huyện lệnh có khí phách, đức độ ở miền núi Quan Yên, quận Cửu Chân, nay thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Từ nhỏ, bà đã tỏ ra là người tài đức, thông minh và khí phách khác thường. Năm 18 tuổi, bà cùng anh dấy binh khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Ngô với câu nói lưu truyền sử sách: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không muốn khom lưng làm tì thiếp cho người”.
Cuộc khởi nghĩa của Bà được nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Thanh thế của nghĩa quân ngày càng lớn mạnh, khiến giặc Ngô hết sức hoảng sợ. Chúng đã phải cử những đạo quân hùng mạnh cùng nhiều viên tướng giàu kinh nghiệm trận mạc sang đàn áp nghĩa quân. Do sức mạnh và mưu mô thâm độc, quỷ quyệt của địch, nghĩa quân bị thất bại, Bà đã tuẫn tiết tại núi Tùng (Hậu Lộc) ngày 22 tháng 2 năm Mậu Thìn (248). Tinh thần yêu nước, chí khí quật cường của bà không chỉ làm cho kẻ thù run sợ mà còn là nguồn cổ vũ lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự chủ của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử.
Để tỏ lòng biết ơn và tôn vinh Bà Triệu, nhân dân ta đã xây dựng đền Bà Triệu ở trên núi G*i, lăng của Bà ở núi Tùng và đình làng Bà Triệu ở làng Phú Điền, quanh năm hương khói thờ Bà. Hằng năm, vào tháng 2 âm lịch, nhân dân lại tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công lao của Bà. Theo các cụ cao niên ở làng Phú Điền: Lễ hội đền Bà Triệu được tổ chức với quy mô lớn (cấp tỉnh), 5 năm một lần, vào năm chẵn, còn hàng năm lễ hội vẫn diễn ra với quy mô cấp huyện tổ chức kỷ niệm vào các ngày giỗ Bà. Lễ hội diễn ra trên một không gian rộng theo quy trình đền, lăng, đình. Các điểm di tích ấy đều diễn ra tế lễ với nghi thức trang trọng vừa truyền thống vừa kết hợp với lễ hội đương đại. Riêng đình làng Phú Điền tổ chức nghi thức hội “Ngô - Triệu giao quân”. Tại đền Bà Triệu chủ yếu là tế lễ, như rước kiệu, tế nữ quan. Ngoài các nghi thức lễ trên còn có lễ Mộc dục. Đây là một nghi thức lễ được nhân dân địa phương rất chú ý, thận trọng, chọn ngày tốt để hành lễ, thường là ngày 18, 19 tháng 2 âm lịch ở cả 2 nơi đền và đình làng, do ông từ cả và 3 ông từ phụ chịu trách nhiệm. Tiếp đó là tế Phụng Nghinh. Tế Phụng Nghinh là thủ tục mời vua Bà cùng lục bộ triều đình, hội đồng các quan, thánh tổ bách gia về trong ngày húy kỵ Vua Bà, là ngày rất trang nghiêm và linh thiêng, thời gian tế nửa ngày. Việc rước bóng là một nét độc đáo trong lễ hội Bà Triệu, trong ngày chính hội là một thể thức hết sức quan trọng, người ta đặt bát hương Vua Bà lên kiệu cùng với hộp tư trang, đĩa trầu cau. Có 8 chàng trai được chọn lọc, để khênh kiệu (có 8 đòn) mặc áo đỏ cộc tay, thắt lưng màu đỏ, đầu chít khăn đỏ, quần trắng, chân đất. Người chủ tế đi dưới gầm kiệu. Tiếp theo có kiệu song loan, trên kiệu có áo chầu và các hộp sắc phong, có 8 người khiêng. Nghi thức đi đầu có một hương án, 2 người vác lọng che hương án, trên kiệu có bát hương, trầu cau hoa quả. Sau hương án là phường bát âm cử nhạc lưu thủy, có trống, chiêng và 32 người thực hiện các nhiệm vụ vác gươm, vác bát bửu, dùi đồng. Cứ như thế, các đoàn vác cờ hội, kiệu song loan, người đi cùng đoàn rước kiệu ăn mặc chỉnh tề khăn nhiễu, quần trắng, áo lương. Đạo hành từ đền chính đến lăng rồi về đình làng. Đến lăng, kiệu được đặt trên giá đỡ và làm thủ tục nghi thức khấn đức Bà, nhân ngày húy kỵ, với tấm lòng thành kính của các con cháu thập phương nhớ công ơn Bà. Đoàn cử hành về đình làng, kiệu, bát hương bóng Bà đặt giữa đình và tiếp tục tế lễ một ngày một đêm gồm các tế yên vị, tế tam sanh. Sau đó đoàn rước tế theo lộ trình về đình chính để làm lễ.
Ngoài phần lễ thì trong phần hội không có trò diễn dân gian mà chỉ có hội trận tại đình làng Phú Điền, đây là linh hồn của các hoạt động lễ hội, bởi nó khơi dậy, liên tưởng đến hào khí chống quân Ngô của Bà.... Vào ngày hội, làng tự chia làm hai xóm, lấy ngôi đình lớn ở giữa làng làm ranh giới, phía bắc gọi là xóm trên, phía nam gọi là xóm dưới. Trai tráng của hai xóm với hàng trăm người từ 18 đến 45 tuổi chia thành hai phía quân tham gia tập trận chơi trò “Ngô - Triệu giao quân”. Mỗi người chuẩn bị sẵn một cây gậy bằng tre, dài ngắn tùy ý. Đúng sáng ngày hội lễ, trai xóm nào tập trung ở xóm nấy dàn thành thế trận. Mở đầu, mỗi bên cho một vài người ra khiêu khích, tìm cách dụ đối phương tiến về địa phận của mình. Đội ngũ mai phục trong xóm đổ xô ra tấn công, phe bên kia ào ạt tràn sang tiếp ứng, dùng gậy tre để đánh nhau, có khi là bị chảy máu, mẻ đầu nhưng đâu lại vào đó, khỏe mạnh, dân làng lại đoàn kết, làm ăn phát đạt vì được Bà Triệu phù hộ và họ tin là có tập trận như vậy thì năm đó làng mới làm ăn sung túc hơn. Đoạn đường rộng nhất trước cửa đình làng là “bãi chiến trường”. Hai bên lề đường, nhân dân tập trung đông đảo, reo hò cổ vũ cho đội quân của mình. Lệ của làng là xóm nào xông lên nhiều lần là quân chiến thắng, được gọi là quân Bà Triệu. Bên nào phải rút chạy nhiều lần thì bên ấy là quân Ngô. Cuộc tập trận diễn ra từ sáng đến trưa, rồi tất cả hòa vào nhau để đi rước kiệu Bà. Thêm một tục lệ nữa, là ngày hôm đó cả làng đều ăn nguội (ăn thức ăn nấu sẵn từ hôm trước), để đến chiều mới nấu nướng linh đình. Các cụ giải thích là ra đánh trận là phải ăn lương khô, đến khi khải hoàn mới mở tiệc ăn mừng. Để phù hợp với thời gian và nhịp sống mới, một số quy tắc rườm rà của tế lễ được chọn lọc, rút ngắn... Ngoài các hoạt động truyền thống vốn có, còn có thêm nhiều nội dung phong phú như: thi đấu vật, leo dây, thổi cơm thi, đánh cờ tướng, văn nghệ quần chúng, thi nấu ăn, thi đấu các môn thể thao (bóng chuyền, bóng đá)...
Lễ hội đền Bà Triệu đã thực sự trở thành gạch nối giữa hiện tại và quá khứ, để lại ấn tượng sâu sắc trong cộng đồng về một vùng văn hóa giàu bản sắc, góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc. Đồng thời đó cũng là sự tôn vinh và lòng biết ơn sâu sắc của hậu thế đối với Bà Triệu và những nghĩa quân anh dũng trong cuộc khởi nghĩa Bà Triệu. Việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa và tâm linh của lễ hội và khu di tích Bà Triệu gắn với các hoạt động du lịch của tỉnh sẽ là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước.

Address

Facebook. Com/thanhhoa. Gov. Vn
Thanh Hóa

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hội đồng hương Thanh Hóa posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share