Lam Sơn

Lam Sơn Lam Sơn là một thị trấn thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam.Thị tr? Cùng vang danh khắp đất trời,
Anh tài ta đó, ấy người Thọ Xuân...

Lam Sơn là trung tâm của vùng đất địa linh nhân kiệt Thọ Xuân, có truyền thống văn hiến, núi sông cẩm tú, con người cần cù, giản dị, giàu lòng yêu nước. Thọ Xuân là đất thang mộc của hai vương triều hiển hách (Tiền Lê và Hậu Lê ) để lại những dấu son sáng chói trong lịch sử Việt Nam. Đất Thọ Xuân đã sinh ra những vị anh hùng mở nước, giải phóng dân tộc.Từ Lê Đại Hành hoàng đế (Lê Hoàn) đến Thái tổ

cao hoàng đế (Lê Lợi), Lê Thánh Tông (Lê Tư Thành) - nhân vật của mọi thời đại đã làm cho Thọ Xuân trở thành vùng đất được mọi người dân Việt Nam và thế giới hướng về với tấm lòng ngưỡng mộ.

Cây ổi biết “cười” ở Thanh HóaCây ổi đặc biệt này được trồng trong khuôn viên của khu di tích Lam Kinh (huyện Thọ Xuân, ...
27/04/2019

Cây ổi biết “cười” ở Thanh Hóa

Cây ổi đặc biệt này được trồng trong khuôn viên của khu di tích Lam Kinh (huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Theo sử sách ghi lại thì vào năm 1933, ông Trần Hưng Dẫn (thôn Hành Thiện, Nam Định) đã vào cung tiến. Ông Dẫn vốn hiếm muộn con nên đã cầu tự trước mộ vua Lê Thái Tổ.

Để tỏ lòng thành, ông cung tiến 4 tượng voi, 2 cây long não và cây ổi để trồng trong khu lăng mộ. Đến nay, dòng tộc ông Dẫn đang sinh sống ở Hải Phòng, mỗi đời chỉ có một người con trai nối dõi tông đường.

Vào năm 1994, khi du khách đến đây tham quan thì phát hiện ra cây ổi đã có những tín hiệu kỳ lạ khi ai đó chạm vào. Theo đó, chỉ cần gãi nhẹ vào gốc hoặc thân, tất cả các tán lá đều rung lên.

Cuối năm 2001, nhà thơ Hoàng Ngọc Phác (quê Phú Thọ) sau một lần viếng thăm vua Lê, bằng tâm hồn nhạy cảm của một thi sĩ khi thấy những điều kỳ lạ ở cây ổi, đã đặt tên cho cây là cây ổi cười.

Năm 2008, Bộ Khoa học Công nghệ cũng đã có đề án nghiên cứu cấp quốc gia về dòng gen của cây ổi ở Lam Kinh, nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Cho đến nay, dù đã gần 90 “tuổi”, nhưng cây ổi vẫn cho lá xanh tốt, quả chín thơm lừng.

“Thánh tông là một ông vua thông minh, thờ mẹ rất có hiếu, ở với bề tôi đãi lấy lòng thành. Ngài trị vì được 38 năm, sửa...
27/04/2019

“Thánh tông là một ông vua thông minh, thờ mẹ rất có hiếu, ở với bề tôi đãi lấy lòng thành. Ngài trị vì được 38 năm, sửa sang được nhiều việc chính trị, mở mang sự học hành, chỉnh đốn các việc vũ bị, đánh dẹp nước Chiêm, nước Lào, mở thêm bờ cõi, khiến cho nước Nam…bấy giờ được văn minh thêm ra và lại lừng lẫy một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ cường thịnh như vậy.

Trên đây là những nhận xét của học giả Trần Trọng Kim khi nhận định về Lê Thánh Tông trong cuốn Việt Nam Sử Lược. Học giả đánh giá rất cao về tài năng và đức độ của nhà Vua. Về chính sử ghi lại như sau: “Thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang, thực là bậc thông minh xứng đáng làm vua, bậc trí dũng đủ để giữ nước.”

Đọc những dòng này, chúng ta cũng mường tượng được dung mạo của nhà vua là một người đàn ông tuấn tú, thông minh, tài giỏi. Ông được ca ngợi là vi vua anh minh nhất trong lịch sử dân tộc. Không những thế, trong đối sách giữ nước nhà vua có những lời lẽ rất cứng rắn, là tấm gương cho hậu thế đời đời học tập và làm theo.

Năm 1471, Lê Thánh Tông chỉ dụ với quan Thái bảo Lê Cảnh Huy rằng: “Một thước núi, một tấc sông của ta có lẽ nào tự nhiên vứt đi được. Phản kiên quyết tranh luận, không để họ lấn dần. Nếu họ còn không theo, có thể sai sứ sai tận triều đình của họ, biện bạch rõ lẽ phải trái. Nếu người nào dám đem một thước núi, một tấc đất đai của Thái Tổ để lại làm mồi cho giặc, kẻ ấy phải bị trị nặng (tru di)”

Câu nói ấy biểu thị ý chí mãnh liệt của Lê Thánh Tông trong việc bảo vệ nền độc lập dân tộc và lãnh thổ quốc gia, đồng thời có thể được xem như quan niệm chính trị rất cơ bản trong nhận thức về trách nhiệm quản lý nhà nước của Lê Thánh Tông. Để làm cơ sở cho việc khẳng định nền độc lập, Lê Thánh Tông quan tâm tới việc xác định rõ ràng cương vực của đất nước. Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) công bố năm 1483 có điều khoản 74, 88 về bảo vệ đất đai ở biên giới như sau: “những người bán ruộng đất ở biên cương cho người nước ngoài thì bị tội chém”; Quan phường xã biết mà không phát giác cũng bị tội; “Những người đẵn tre, chặt gỗ ở nơi quan ải thì bị xử tội đồ” (đồ là đầy đi làm khổ sai).

Một dân tộc mà giang san của tổ tiên để lại luôn bị đe dọa thường trực từ phương Bắc thì lời căn dặn ấy của vị vua được cho là tài giỏi nhất trong lịch sử dân tộc luôn đúng đắn và phải được khắc ghi. Đã có hàng trăm cuốn sách, bài báo ca ngợi về tài đức của vị vua này. Ông có nhiều công lao lớn đối với nhà Lê nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung.

Tuy nhiên đánh giá về một con người, chúng ta không chỉ dựa vào tài đức và công lao của họ mà phải thông qua những sự kiện lịch sử để có cách nhìn công tâm và thấu đáo. Dù tài giỏi đến đâu, Lê Thánh Tông cũng có những vết đen không thể nào gột rửa được trong cuộc đời. Chính vì vậy, trong bài viết lần này, ngoài những công lao to lớn của nhà vua đối với dân tộc mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng mạnh dạn chỉ ra những hạn chế trong cuộc đời của Lê Thánh Tông để người đời nay có một cách nhìn toàn diện, công tâm về vị vua này. Chúng tôi viết bài này, không phải để hạ thấp uy tín của vị vua mà hàng triệu người ngưỡng mộ. Chúng tôi chỉ mong muốn đưa sự thật lịch sử gần nhất có thể với bạn đọc.

Những công lao to lớn của Lê Thánh Tông đã được hàng trăm ngàn sách báo viết. Chúng tôi xin đánh giá sơ lược lại như sau:

Thứ nhất, Ông có công lớn trong việc mở rộng lãnh thổ dân tộc.

Năm 1470, vua Champa là Bàn La Trà Toàn, một mặt cầu viện nhà Minh, mặt khác xuất 10 vạn quân ra cướp Hoá Châu. Để chấm dứt sự quấy phá của Champa, vua Lê Thánh Tông thân chinh đem 26 vạn quân đi đánh Champa. Vua cho vẽ bản đồ Champa để biết rõ những nơi hiểm yếu của vương quốc này, vua Trà Toàn bị đánh bại. Sau chiến thắng này, vua Lê Thánh Tông cho một số quân đóng tại kinh đô Champa chứ không rút hết về nước như trước nữa. Trong khi khi vua Lê Thánh Tông đánh vào kinh đô của Champa thì một viên tướng của Champa là Bố Trì Trì đem quân chạy về phía Nam đèo Cả, tự lập làm Vua, xin sắc phong được nhà Lê đồng ý. Với ý định tạo nên sự yên ổn lâu dài ở phía Nam, vua Lê Thánh Tông cắt phần đất ven biển từ đèo Cù Mông tới đèo Cả (hay Đại Lãnh) lập nên một nước riêng gọi là nước Hoa Anh. Lại lấy phần thượng nguyên ở phía tây Hoa Anh – vùng Cheo Reo để Lập nước Nam Bàn.

Như vậy, bằng việc xuất quân đánh vào kinh đô Đồ Bàn. Vua Lê Thánh Tông không những đã lấy lại được vùng đất Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay mà còn mang về cho lãnh thổ Đại Việt thêm phần đất Bình Định. Biên giới Đại Việt về phía Nam kéo dài đến đèo Cù Mông.

Thứ hai, đưa Đại Việt trở thành quốc gia hùng cường trong khu vực.

Việc đầu tiên mà Lê Thánh Tông làm sau khi lên ngôi vua chính là xây dựng cho mình một bộ máy rường cột hoàn chỉnh.

Vua Lê Thánh Tông ít sử dụng con cái của các bậc trung thần có công trước đó mà chú trọng sử dụng nhân tài được đào tạo Nho học đương thời. Câu nói “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” do Thân Nhân Trung biên soạn, chính là ở thời đại thịnh trị này của vua Lê Thánh Tông. Điều này giúp cho quanh vua Lê Thánh Tông toàn là những người tài như Quách Đình Bảo, Phan Phu Tiên, Thân Nhân Trung, Ngô Sĩ Liên, Lương Thế Vinh, Vũ Hữu, Đỗ Nhuận, Nguyễn Quang Bật. Họ là những người tài giỏi thật sự, chẳng con ông cháu cha gì hết, ở đó cùng với ông, tất cả cùng nhau góp trí tuệ để xây dựng nên một Đại Việt hùng cường và giàu mạnh.

Về mặt vũ khí quân sự, theo các sử gia, dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc, do vốn có các kỹ thuật và sáng chế cùng kỹ năng chế tạo vũ khí cực kỳ tinh xảo của Đại Việt thời nhà Hồ về vũ khí tầm xa như hỏa thương, hỏa hổ, súng thần công,… hợp với số vũ khí khá tân tiến thu được trước đây trong cuộc kháng chiến với nhà Minh đã tạo nên cho Đại Việt một kho vũ khí đa dạng và hùng mạnh, có thể vượt xa so với vũ khí châu Âu cùng thời về sát thương và chất lượng.

Bên cạnh cải tổ cơ chế Nhà nước, đề cao ý thức độc lập, chủ quyền, bảo vệ biên cương, xây dựng vũ khí quân sự tân tiến, Lê Thánh Tông còn đặc biệt quan tâm các chính sách phát triển kinh tế như: sửa đổi luật thuế khoá, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, mở đồn điền, kêu gọi người dân phiêu tán về quê, đặt ra luật quân điền chia đều ruộng cho mọi người. Các ngành nghề thủ công nghiệp và xây dựng dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông cũng phát triển rực rỡ. Nghề in và làm giấy ở Đại Việt đạt một trình độ cao của thế giới thời bấy giờ. Thương mại và giao dịch buôn bán với các lân bang phát triển mạnh, cùng với bước chân viễn chinh xa xôi của đội quân đế chế Đại Việt. Để tạo thuận tiện cho việc mua bán, Lê Thánh Tông đã từng khuyến dụ các quan rằng: “Trong dân gian hễ có dân là có chợ để lưu thông hàng hoá, mở đường giao dịch cho dân. Các xã chưa có chợ có thể lập thêm chợ mới. Những ngày họp chợ mới không được trùng hay trước ngày họp chợ cũ để tránh tình trạng tranh giành khách của nhau”.

Về mặt văn hoá, Lê Thánh Tông đã có công tạo lập cho thời đại một nền văn hóa với một diện mạo riêng, khẳng định một giai đoạn phát triển mới của lịch sử văn hóa dân tộc. Các tác phẩm: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hồng Đức quốc âm thi tập, Hồng Đức thiên hạ bản đồ, Thiên Nam dư hạ… là những giá trị văn hóa tiêu biểu của triều đại Lê Thánh Tông. Không chỉ vậy, Lê Thánh Tông còn là một nhà thơ lớn. Không chỉ làm thơ, mà vua còn sáng lập ra Hội Tao đàn Nhị thập bát tú gồm 28 học giả giỏi nhất Đại Việt thời bấy giờ.

Thứ ba, Vua Lê Thánh Tông đóng góp vào lịch sử dân tộc một bộ luật rất tiến bộ mang tên “luật Hồng Đức”.

Bộ luật Hồng Đức là một tên gọi khác của bộ Quốc triều hình luật. Luật Hồng Đức là một công trình pháp luật tiêu biểu của nhà Hậu Lê.

Bộ luật Hồng Đức được coi là bộ luật nổi bật nhất, quan trọng nhất và có vai trò rất đặc biệt nhất trong lịch sử pháp quyền phong kiến Việt Nam.

Bộ luật Hồng Đức là một tên gọi khác của bộ Quốc triều hình luật (Lê triều hình luật). Mặc dù mang bản chất giai cấp phong kiến nhưng bộ luật Hồng Đức lại chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ với những quy phạm bảo vệ quyền lợi của người dân, của tầng lớp dưới, của nô tì, người cô quả, tật … Nhiều quy định của bộ luật tập chung bảo vệ người dân chống lại sự ức hiếp, sách nhiễu của cường hào, quan lại.

Đặc biệt bộ luật Hồng Đức còn có một số quy định bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, điều đó phản ánh truyền thống nhân đạo, truyền thống tôn trọng phụ nữ, tư tưởng “lấy dân làm gốc”, lấy làng xã làm nền tảng của quốc gia…

Tính dân tộc thể hiện đậm nét trong việc kế thừa và phát huy những thành tựu pháp luật của các triều đại trước, kết hợp với những ưu điểm của pháp luật phong kiến Trung Hoa để xây dựng lên một bộ luật phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Ngày nay, trẻ em, phụ nữ, người tàn tật, người già yếu… được xếp vào nhóm “đối tượng dễ bị tổn thương” cần có sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng thì hơn 500 năm trước, trong bộ luật Hồng Đức đã có những quy định về trách nhiệm của xã hội, nhất là của quan chức đối với nhóm người này. Đây chính là một trong những điểm tiến bộ, nhân đạo của pháp luật thời Hậu Lê.

Có thể nói bộ luật Hồng Đức hay Quốc triều hình luật là văn bản pháp lý bậc nhất, là đỉnh cao nhất của thành tựu pháp luật Việt Nam so với các triều đại trước đó và cả về sau. Đánh giá về giá trị của bộ luật Hồng Đức, sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú viết: “Đời vua Lê có ban hành bộ Hồng Đức hình luật, các đời sau vẫn theo bộ luật ấy”.

Những điều đó đã đủ thấy rằng bộ luật Hồng Đức đã được vận dụng vào công quyền Việt Nam và được xem là chuẩn mực của nền cổ luật nước ta qua nhiều triều đại; bên cạnh tính giai cấp nó còn mang tính nhân đạo, tiến bộ và tính dân tộc đặc trưng.

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định vua Lê Thánh Tông là vị vua có rất nhiều đóng góp cho sự phát triển của dân tộc.

Mặc dù, là một minh quân, với nhiều công lao to lớn như chúng tôi đã trình bày. Nhưng cuộc đời của vị vua này cũng mang nhiều khiếm khuyết đáng trách. Sau đây, chúng tôi xin mạn phép luận bàn về những hạn chế xoay quanh của đời vị vua này như sau:

Thứ nhất, Lê Thánh Tông được Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét:

“ Những công trình thổ mộc vượt quá quy mô xưa, tình nghĩa anh em thiếu hẳn lòng nhân ái. Đó là chỗ kém vậy.” Sở dĩ, có chuyện đánh giá như vậy là vì vua Lê Thánh Tông đã thiếu tình người trong việc đối đãi với những anh trai của mình.

Theo các bộ chính sử thời phong kiến của nước ta, Lê Nghi Dân là con trưởng của vua Lê Thái Tông – vị vua thứ hai của vương triều Lê, lên ngôi năm 1434 và mất năm 1442 trong khi đi tuần ở vùng Đông Bắc thuộc Chí Linh (Hải Dương ngày nay). Lê Nghi Dân sinh vào tháng 6 năm Triệu Bình thứ 6 (1439), sau khi vua Lê Thái Tông lên ngôi được 5 năm và là con của bà phi Dương Thị Bí. Chưa đầy một năm sau, Lê Nghi Dân đã được vua cha lập làm Hoàng thái tử, nhưng bà Dương Thị Bí vì được vua yêu quý hay sinh tính kiêu căng nên vua đã giáng bà xuống làm Minh nghi, khiến bà rất oán vọng. Nhà vua giận bèn giáng bà xuống tiếp làm thứ phụ và tuyên bố ngôi thái tử chưa xác định. Sau đó, Hoàng thái tử Bang Cơ, con thứ ba của vua Lê Thái Tông do bà Tuyên từ Nguyễn Thị Anh sinh ra, được vua Lê Thái Tông yêu quý và lập Hoàng thái tử, còn Nghi Dân bị giáng xuống làm Lạng Sơn vương. Vì việc này mà Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân đã ngầm nuôi ý nhòm ngó ngôi vua dẫn đến cuộc phản loạn cướp ngôi vào năm 1459 và bị lật đổ ngay sau khi giành ngôi của vua Lê Nhân Tông được 8 tháng (6/1460). Đây là thời kỳ thể chế chính trị của vương triều Lê đang diễn ra khủng hoảng sâu sắc với hoàng loạt mâu thuẫn trong cung đình.

Sau sự việc chính biến Thiên Hưng, Lê Nghi Dân lên ngôi vua, 8 tháng sau, Lê Nghi Dân bị phế truất bởi các đại thần đứng đầu là Lê Lăng. Sau khi phế truất Lê Nghi Dân, các đạu thần có ý muốn đưa anh trai của Lê Thánh Tông lên làm vua là Lê Khắc Xương, nhưng ông này một mực từ chối. Sau đó, mới đến lượt Tư Thành được chọn lên ngôi. Chuyện chẳng có gì đáng để bàn bởi đây là một quyết định sáng suốt và có lợi cho dân tộc.

Nhưng hành động sau đó của vua Lê Thánh Tông xứng đáng là vết đen lớn nhất cuộc đời ông. Vua Lê Thánh Tông đã bức tử anh trai Lê Khắc Xương của mình, buộc các con của Lê Khắc Xương phải đổi sang họ Bùi (họ mẹ) để trừ hậu họa khi đã ở đỉnh cao của quyền lực.

Bên cạnh đó, Lê Thánh Tông còn giết và tịch biên gia sản công thần Lê Lăng, người có công lật đổ anh trai nhà vua để đưa ông lên ngôi. Chỉ vì vua biết được trước đó Lê Lăng có ý đưa Lê Khắc Xương lên ngôi chứ không phải là Lê Thánh Tông. Phải chăng quá “thấm nhuần” lịch sử Trung Quốc với các cuộc tranh đoạt quyền lực qua câu nói “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc” và đạo lý của Nho giáo, lo sợ quyền lực sẽ bị mất đi nên Lê Thánh Tông ra tay “thiếu tình người” như vậy.

Ngoài ra, chỉ vì muốn khẳng định tính chính danh, Lê Thánh Tông còn đối xử rất bạc với người anh đầu là Lê Nghi Dân khiến ông này mang vết nhơ muôn đời. Chuyện là vua Lê Thánh Tông lên án việc Lê Nghi Dân cướp ngôi của Bang Cơ (tức vua Lê Nhân Tông, dù biết rõ Bang Cơ – một người “anh” không có quan hệ gì với mình). Đề cao tính chính danh của Lê Nhân Tông mà hạ nhục anh trai dù Lê Nghi Dân cướp ngôi là hoàn toàn đúng để giành quyền lực về lại cho nhà Lê. Trước đó, khi ở ngôi Lê Nghi Dân cũng phong cho em trai của mình là Tư Thành (vua Lê Thánh Tông) tước vương.

Như vậy, dù vua Lê Thánh Tông có tài ba đến đâu thì lịch sử cũng không thể nào biện hộ vết đen này của ông. Dù nhà vua thường buộc các sử gia phải cho ông xem nhật lịch – quốc sử một việc mà ông vua nào cũng ngại xem. Về sau, dù độc tôn Nho giáo và xem Lê Thánh Tông làm hình mẫu nhưng Minh Mạng cũng rất kiêng kỵ điều này. Mặc dù vậy, ngay ở thời Lê Thánh Tông, những người ghi chép sử vẫn có những đánh giá tiêu cực về nhà vua.

Thứ hai, Năm 1464, Lê Thánh Tông chính thức ban chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước Tán Trù bá. Tước bá này là hạ cấp của Nguyễn Trãi lúc sinh thời. Cho đến năm 1512, Lê Tương Dực mới truy tặng Nguyễn Trãi làm Tế Văn hầu. Nguyễn Trãi là công thần số một của nhà Lê. Ông cũng chết oan do thói xử bạc đối với công thần mà họ Lê học ở Chu Nguyên Chương (thái tổ nhà Minh). Dù Lê Thánh Tông có rửa oan cho Nguyễn Trãi nhưng hạ tước phẩm cho một người đã mất là một việc làm thiếu rộng lượng và đáng chê trách.

Thứ ba, việc Lê Thánh Tông đối xử với Trường Lạc hoàng hậu của mình không được chu toàn. Ông giam hoàng hậu vào lãnh cung khiến bà oán hận. Về sau khi nhà vua bị bệnh, lở loét khắp người, theo sử sách ghi lại đây là bệnh giang mai. Việc lây nhiễm bệnh này cũng qua con đường tình dục. Sử thần đương thời là Vũ Quỳnh đã dám bình luận “vua nhiều phi tần quá nên mắc phải bệnh nặng (bệnh giang mai).”Nhắc lại người vợ của vua bị nhốt vào lãnh cung. Khi nghe tin vua lâm bệnh trầm trọng, bà đã hết sức “đau buồn” cầu xin được gặp nhà vua để làm trọn “tình nghĩa” vợ chồng. Bà đã tẩm thuốc độc vào tay rồi xoa lên các vết thương đang lở loét ấy, khiến bệnh của nhà vua càng thêm trầm trọng, dẫn đến nhanh chóng tử vong. Việc này, đã được cố giáo sư Trần Quốc Vượng, một trong tứ trụ của nền sử học Việt Nam giải ảo.

Thứ tư, đổi họ Trần sang họ Trình.

Sau khi Lê Nghi Dân bị các tướng lãnh phản đảo chánh và lật đổ năm 1460, Lê Thánh Tông (1460-1497) hạ chiếu ra lệnh đổi tên những họ nào đã phạm vào chữ huý của Cung Từ hoàng thái hậu. Bà này tên huý là Phạm Ngọc Trần, người làng Quần Lai, huyện Lội Dương (Thanh Hóa), vợ của Lê Thái Tổ, mẹ của Lê Thái Tông, tức bà nội của Lê Thánh Tông. Nhà vua cho rằng bà nội của mình tên Trần nên yết thị cho dân chúng khắp nước, nơi nào có họ “Trần” đều phải đổi chép thành chữ “Trình”.

Tại sao thời Lê Thái Tổ, rồi đến Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, các vua không kỵ huý bà Cung Từ mà Lê Thánh Tông lại kỵ huý? Phải chăng sau những biến động của triều đình kể từ khi Lê Thái Tông bất đắc kỳ tử năm 1442, và Lê Nhân Tông bị Lê Nghi Dân lật đổ và bắt giết năm 1459, Lê Thánh Tông đã dùng cách kỵ huý (như Trần Thủ Độ trước đây) để tách ảnh hưởng của họ Trần, hoặc để ngầm đe dọa con cháu họ Trần đừng kiếm cách lợi dụng tình hình để phục hồi triều đại cũ.

Thứ năm, việc nhà vua đánh chiếm Champa xem ra là hợp lý, nó chỉ là sự tranh đoạt lãnh thổ của các tập đoàn phong kiến. Nhưng khi thu phục được đất đai của người Chăm, vua lại không thu phục được nhân tâm của họ. Mà đã giết quá nhiều người vô tội. Phải chăng, do ảnh hưởng qua lớn từ học thuyết Nho giáo nên việc tàn sát để đạt được mục đích là điều nên làm, cũng bởi vì Lê Thánh Tông hạn chế phật giáo nên đức tính từ bi trong ông không tồn tại. Đối sách dùng đức trị trước sau đó mới dùng pháp trị, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ thời Lý, Trần đến đây xem như chấm dứt. Phải chăng “giết một người thì trở thành tội nhân, giết quá nhiều người thì trở thành vĩ nhân” . Sáu mươi ngàn tính mạng người chăm và hàng vạn người Lan Xang đó liệu không còn giải pháp nào để tránh khỏi cái chết ư? Chỉ vì ‘trừ hậu họa” nhà vua đã quá tàn nhẫn. Cũng đúng rồi, với anh em ruột trong gia đình, Lê Thánh Tông còn như vậy, huống chi là người “man di”. Phải chăng Lê Thánh Tông là một ông vua rất hiếu sát?

Thứ sáu, do việc sinh ra và lớn lên trong cung đình lại chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, tứ thư ngũ kinh. Chính vì vậy, Lê Thánh Tông rất coi thường xướng ca, cho nó là vô loài. Ông còn cấm những người sinh ra trong gia đình làm nghề hát, tuồng, chèo… thi cử. Dù là một người trọng nhân tài tuy nhiên ông đã có sự phân biệt kỳ thị đối với những hạng người khác nhau. Ngoài ra, ông cũng là người đầu tiên quy định người vợ phải để tang ba năm khi chồng chết. Điều đó, cho thấy ông là người trọng nam khinh nữ. Nó khác xa với truyền thống của tổ tiên ta. Từ thời bắc thuộc, người Hán khi thấy hình ảnh cha tắm cho con gái bên bờ sông, hình ảnh chan chứa tình cảm cha con, quấn quýt yêu thương nhau đó là thứ man di mọi rợ. Với văn hóa Hán trước đó chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo quy định rõ ràng “nam nữ thọ thọ bất thân” dù đó là cha con, anh chị em trong gia đình. Cái văn hóa đó đã quy định rất nghiêm ngặt một cách thô cứng cũng như nó ngăn cách tình người.

Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã nói rõ

“Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,

Nước non bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác”

Văn hóa phương Bắc khác với văn hóa phương Nam, từ phong tục đến lối sống, tình nghĩa. Việc Lê Thánh Tông đặt Nho giáo độc tôn, học tập và làm theo văn hóa Hán. Biến đổi từng bước những truyền thống của dân tộc ta trước đó. Cũng chính vì điều này. Chẳng phải bỗng dưng mà Nguyễn Lang trong tác phẩm Việt Nam phật giáo sử luận đã có lời bình như sau: “Nhà Lê thắng nhà Minh về quân sự nhưng lại thất bại với Minh về văn hóa.” [16: tr 504]Việc quá tôn sùng Nho giáo khiến Việt Nam quá lệ thuộc vào văn hóa Trung Quốc. Tư duy khai phóng dựa vào dân làm gốc thời Lý, Trần bị triệt tiêu. Chính vì vậy, dân tộc ta sau này không xuất hiện thêm một hội nghị Bình Than, Diên Hồng một lần nào nữa. Hào khí cả nước đánh giặc, đồng lòng chung sức ấy chỉ được sống lại vào thời Quang Trung – một con người không xuất thân từ Nho học mà từ chính nhân dân. Tuy nhiên, tinh thần cởi mở dân chủ dưới thời Trần không thể nào tái hiện lại được, cũng bởi vì nó đã bị trói buộc dưới thời Lê Thánh Tông. Lê Thánh Tông đã cho soạn 24 điều cáo dụ được đọc trong làng xã hằng ngày để rao giảng học thuyết Nho giáo vào đời sống nhân dân. Tuy nhiên, một dân tộc có truyền thống giữ gìn bản sắc và tiếp thu có chọn lọc văn hóa ngoại lai. Dân tộc Việt Nam vẫn gìn giữ được những nét đẹp trong đời sống của mình. Những điệu hò ví dặm, những vở tuồng chèo đã kích những thoái hư tật xấu của tầng lớp thống trị, hình tượng thân thiết giữa cha con, anh em vẫn được lưu giữ, bất chấp Nho giáo được sùng bái và độc tôn trong hệ tư tưởng dưới thời Lê Thánh Tông.

Như vậy, nhân vật lịch sử Lê Thánh Tông đã được chúng tôi miêu tả hết sức chân thật. Với những điều đã làm được trong lịch sử dân tộc, Lê Thánh Tông xứng đáng là vị vua tài giỏi nhất mà nước ta từng có. Tuy nhiên, nhân bất thập toàn, Lê Thánh Tông cũng mắc phải những thiếu sót mò chúng tôi đã mổ xẻ.

Thay cho lời kết:

Khi dự thảo viết bài này, chúng tôi vấp phải sự phản đối, cũng bởi Lê Thánh Tông là một tượng đài trong lòng dân tộc. Trong bài viết “Về Lê Thánh Tông – mấy điều giải ảo hiện thực lịch sử Việt Nam thế kỷ XV” của cố giáo sư Trần Quốc Vượng ở cuối bài viết, cố giáo sư cũng kính xin hương hồn của Ngài (Lê Thánh Tông) lượng thứ cho kẻ hậu sinh hèn mọn ấy. Bởi bằng tư duy sắc lẹm, một nhãn quan tuyệt vời của một nhà nghiên cứu sử học lão luyện, cố giáo sư là người tiên phong đưa sự thật lịch sử về với mọi bạn đọc.

Là kẻ hậu sinh, dù rất đam mê lịch sử, với những hiểu biết còn nhiều hạn chế. Mặc dù, khi bài này đến với bạn đọc sẽ có rất nhiều độc giả phản ứng dữ dội và cho rằng chúng tôi đã xét lại hay xuyên tạc lịch sử. Nhưng với những dẫn chứng và nguồn sử liệu khả tín ấy, chúng tôi tin rằng những luận điểm của mình hoàn toàn đúng đắn. Như chúng tôi đã trình bày ở phần mở đầu, chúng tôi không bôi nhọ tổ tiên, người anh hùng của dân tộc. Chúng tôi chỉ muốn mang lại một bức tranh toàn cảnh về cuộc đời và sự nghiệp của vua Lê Thánh Tông.

Quân Minh - Ai Lao tạo gọng kìm, Lê Lợi mở con đường máuVới tinh thần chiến đấu quên mình, quân Lam Sơn đã tạo nên một t...
27/04/2019

Quân Minh - Ai Lao tạo gọng kìm, Lê Lợi mở con đường máu

Với tinh thần chiến đấu quên mình, quân Lam Sơn đã tạo nên một trận đánh huyền thoại. Các tướng Lam Sơn là Lý Triện, Lê Hướng, Lê Lĩnh, Lê Hào, Phạm Vấn… dẫn quân xông ra phá vòng vây, tướng sĩ người người tranh nhau tiến lên trước, thế mạnh như bão táp. Tham tướng nước Minh là Phùng Quý bị chém chết tại trận, cùng với hơn 1.000 quân Minh bỏ mạng trong chốc lát, 100 con ngựa chiến rơi vào tay nghĩa quân Lam Sơn.

Việc Ai Lao trở giáo theo quân Minh là một mối nguy rất lớn cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Mặc dù trong năm 1421, quân ta liên tục đánh bại quân Minh và quân Ai Lao nhưng cũng chịu tổn thất không nhỏ. Thời điểm bấy giờ cả ta và địch đều cần thời gian nghỉ ngơi, bổ sung lại lực lượng. Năm 1422, Lê Lợi thu quân từ Ai Lao về đóng ở trại Quan Du để giữ thế kìm tỏa quân Minh trong thành Tây Đô, đồng thời tích cực dưỡng quân tích lương, chuẩn bị cho những chiến dịch lớn.
Về phía địch, cả quân Ai Lao và quân Minh cũng đều tranh thủ gom quân thành lập các mũi tấn công mới. Tháng 3.1422, thành phần tướng lĩnh quân Minh ở nước ta có thay đổi. Tổng binh Lý Bân chết. Tham tướng Trần Trí lên thay Bân giữ chức Tổng binh, nắm quyền cao nhất trong lực lượng quân Minh tại Đại Việt. Bằng việc nắm giữ nguồn tài lực dồi dào hơn quân Lam Sơn rất nhiều, quân Minh và quân Ai Lao đều có sự phục hồi sức mạnh nhanh. Đến cuối năm 1422, liên quân Minh – Ai Lao bắt đầu lập kế hoạch tấn công mới. Từ Đông Quan, các tướng Minh là Trần Trí, Mã Kỳ đem đại quân xuống Thanh Hóa, nhằm hướng trại Quan Du là nơi Lê Lợi đóng đại doanh. Ai Lao cũng đem lực lượng tiến đóng ở Kiệt Mang, chờ phối hợp với quân Minh tấn công quân Lam Sơn từ hướng tây nam. Quân Minh có chiến kỵ mạnh, quân Ai Lao có tượng binh mạnh, tạo thành thế 2 gọng kìm kẹp quân Lam Sơn vào giữa. Địch đã đông lại đánh quân ta từ cả hai phía trước sau, thế rất hung hiểm.
Trước tình hình đó, Lê Lợi quyết định sai tướng Nguyễn Chích dẫn quân đánh vào cánh quân Ai Lao trước khi quân Minh kịp tới để phá thế gọng kìm. Nguyễn Chích trước kia dựng căn cứ Hoàng Nghiêu, phất cờ khởi nghĩa từ những năm 1413, cũng là một thế lực nghĩa quân có tiếng trong vùng Thanh Hóa. Nhiều lần quân Minh đem quân tiến đánh, Nguyễn Chích vẫn cùng đội quân của mình đứng vững, giữ quyền kiểm soát ba huyện Đông Sơn, Nông Cống, Ngọc Sơn. Sau khi Lê Lợi xưng vương, khởi nghĩa đánh quân Minh, lập được nhiều chiến công, Nguyễn Chích cảm phục dẫn quân mình đến xin gia nhập. Sự tham gia của Nguyễn Chích thể hiện tinh thần đoàn kết vì lợi ích chung.
Được Lê Lợi giao trọng trách đánh quân Ai Lao, Nguyễn Chích hết lòng chiến đấu. Quân Ai Lao đánh với Nguyễn Chích không chống nổi phải rút lui, nhưng chúng vẫn còn lực lượng khá đông. Chỉ 3 ngày sau, quân Minh lại cùng quân Ai Lao hai mặt cùng tiến đánh Quan Du. Nghĩa quân Lam Sơn cũng chia quân làm 2 mặt đánh trả lại. Trận chiến diễn ra ác liệt và dai dẳng, quân ta chết và bị thương nhiều. Lê Lợi nhận thấy tình hình bất lợi, muốn dẫn quân rút lui. Nhưng lúc này quân Ai Lao đã chắn mất lối đi về căn cứ địa, còn quân Minh thì bủa vây trước mặt. Lê Lợi nhân đêm tối đem quân lặng lẽ bỏ trại rút lui về hướng bắc, kéo đến đóng ở Khôi Huyện (thuộc Nho Quan, Ninh Bình ngày nay). Việc quân Lam Sơn lui về hướng bắc khiến cho quân Minh và quân Ai Lao không lường được, cho nên quân ta có thời gian thoát khỏi vòng vây. Nhưng chẳng lâu sau, liên quân Minh – Ai Lao đã phát hiện ra và nhanh chóng đuổi theo.
Nghĩa quân Lam Sơn đóng ở Khôi Huyện dưỡng thương, nghỉ ngơi vàgấp rút sửa chữa vũ khí. Lê Lợi đoán rằng quân giặc sẽ sớm đến, cố gắng an ủi sĩ tốt, sẵn sàng chờ đánh giặc. Quả nhiên chỉ sau 7 ngày, quân Minh và quân Ai Lao đã hùng hổ tiến đến. Giặc không dồn quân đánh thẳng ngay mà chia binh làm 4 đạo, đi vòng bủa vây quân ta từ 4 hướng, quyết không cho nghĩa quân một con đường thoát nào. Trong tình thế nguy cấp, Bình Định vương Lê Lợi cho tụ họp tướng sĩ, nói rằng: “Giặc vây ta bốn mặt, có muốn chạy cũng không có lối nào. Đây chính là tử địa mà binh pháp đã nói, đánh nhanh thì sống, không đánh nhanh thì chết”.(theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)
Dứt lời, ngài sa hai hàng lệ. Tướng sĩ đều cảm khái, quyết liều chết với giặc. Với tinh thần chiến đấu quên mình, quân Lam Sơn đã tạo nên một trận đánh huyền thoại. Các tướng Lam Sơn là Lý Triện, Lê Hướng, Lê Lĩnh, Lê Hào, Phạm Vấn… dẫn quân xông ra phá vòng vây, tướng sĩ người người tranh nhau tiến lên trước, thế mạnh như bão táp. Tham tướng nước Minh là Phùng Quý bị chém chết tại trận, cùng với hơn 1.000 quân Minh bỏ mạng trong chốc lát, 100 con ngựa chiến rơi vào tay nghĩa quân Lam Sơn. Quân ta nhằm thẳng vào hướng hai đại tướng nước Minh là Tổng binh Trần Trí, Nội quan Mã Kỳ mà đánh gấp, ai chống là chết. Tướng giặc không chống nổi cách đánhquyết tử của binh tướng Lam Sơn, cắm đầu bỏ chạy về hướng thành Đông Quan. Các hướng quân Minh do đó mà nối nhau tan vỡ, dù rằng vẫn còn rất đông. Tướng Ai Lao là Mãn Sát thấy quân Minh tan chạy, rất khiếp sợ quân ta nên cũng lệnh cho quân Ai Lao rút nhanh.
Quân Lam Sơn làm nên một chiến tích phi thường với tổn thất cũng khá nặng nề. Khôi Huyện bấy giờ cũng là nơi không tiện đóng giữ vì nằm giữa tuyến đường từ thành Đông Quan đến thành Tây Đô, đóng quân tại đây rất dễ bị vây. Bình Định vương Lê Lợi sau trận đánh đẫm máu đã dẫn quân rút về núi Chí Linh, dựa vào núi rừng hiểm trở mà cố thủ. Đây là lần thứ ba quân Lam Sơn rút lên núi Chí Linh. Nơi này là nơi thiện hiểm, dễ thủ khó công, giúp đảm bảo an toàn cho nghĩa quân nếu quân Minh ỷ đông tiến đánh. Nhưng núi Chí Linh cũng là nơi dân cư thưa thớt, rừng thiêng nước độc. Sau liên tiếp những trận chiến ác liệt với giặc mạnh, giờ đây nghĩa quân Lam Sơn lại phải đương đầu với những ngày tháng gian khổ thiếu thốn. Sự gian khổ và tinh thần vượt khó để đi đến thắng lợi của binh tướng Lam Sơn đã được Nguyễn Trãi mô tả lại trong Bình Ngô Đại Cáo:
Cái thiên dục khốn ngã dĩ giáng quyết nhiệm
Cố dữ ích lệ chí dĩ tế vu nan
Tạm dịch :
Trời thử lòng người trao cho mệnh lớn
Ta đấy gắng chí khắc phục gian nan

Khởi nghĩa Lam Sơn - Cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng đất nướcTừ núi rừng Lam Sơn, mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợ...
27/04/2019

Khởi nghĩa Lam Sơn - Cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng đất nước

Từ núi rừng Lam Sơn, mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, kêu gọi toàn dân nổi dậy chống giặc Minh xâm lược. Suốt 10 năm ròng rã nếm mật nằm g*i, chiến đấu gian khổ, dưới sự chỉ huy tài tình của Lê Lợi, khởi nghĩa Lam Sơn đã thắng lợi hoàn toàn, quét sạch giặc phương Bắc ra khỏi bờ cõi nước Nam.

Bối cảnh lịch sử đất nước Đại Việt (trong đó có Thanh Hóa) cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV diễn ra nhiều biến động, trong đó đáng chú ý là sự khủng hoảng của nhà Trần, việc thay thế của nhà Hồ, sự xâm lược và đô hộ của nhà Minh, nhân dân khắp nơi đứng lên khởi nghĩa... Sau khi cuộc khởi nghĩa của hai tôn thất nhà Trần là Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng thất bại hoàn toàn vào năm 1413, sứ mệnh lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc được giao lại cho Lê Lợi và những người đồng chí đồng lòng cùng “nằm g*i nếm mật” với ông. Vốn là người hiểu rất rõ địa lợi, nhân hòa của vùng rừng núi phía Tây Thanh Hóa, Lê Lợi đã xây dựng và đặt nền móng vững chắc cho căn cứ địa đầu tiên của cuộc khởi nghĩa. Đó là vùng núi Lam (tức núi Cham) trong không gian địa lý hành chính hương Lam Sơn là nơi khởi phát, để rồi sau đó, cả trước, trong và sau khởi nghĩa, vùng đất Lam Sơn đã trở thành “đất căn bản”. Những năm tháng hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn trên địa bàn Thanh Hóa là giai đoạn hoạt động dài nhất, gian khổ nhất, bởi khi đó “nghĩa binh mới dấy”, mà “thế giặc đương hăng”, có lúc rơi vào tình thế phải “đình chiến hai năm để củng cố lực lượng” nhưng với nghị lực phi thường, lại được nhân dân đùm bọc, chở che, giúp đỡ, nên nghĩa quân đã vượt qua bao khó khăn nguy hiểm, dần khôi phục và phát triển được phong trào. Sau khoảng thời gian xây dựng và củng cố lực lượng trên địa bàn núi rừng Thanh Hóa và trên cơ sở kế hoạch chiến lược của tướng quân Nguyễn Chích, nghĩa quân Lam Sơn đã mở rộng địa bàn hoạt động xuống Nghệ An, “nơi hiểm yếu, đất rộng, người đông”, tạo thành “chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ”.

Từ đây, nghĩa quân có thể khống chế Tân Bình, Thuận Hóa ở phía nam và uy hiếp, tấn công ra phía Bắc, tiến tới giải phóng Đông Quan vào cuối năm 1427. Trong những thắng lợi mang tính chất quyết định đến cục diện của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, sự tham gia và đóng góp của các địa phương (Thuận Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An, Ninh Bình, Hòa Bình, Bắc Giang), dòng họ (họ Vi) , giới phụ nữ là rất lớn lao. Đó là minh chứng góp phần khẳng định “ tính nhất nhân dân rộng rãi”, “lòng dân quyết định mọi thành bại của các cuộc kháng chiến và khởi nghĩa cứu nước hồi đầu thế kỷ XV” của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vì đấy chính là đặc điểm nổi bật nhất và cũng là cội nguồn sức mạnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, hoàn toàn khác so với cuộc kháng chiến của nhà Hồ cũng như tất cả các cuộc khởi nghĩa chống Minh trước khởi nghĩa Lam Sơn. Song xét đến cùng, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của bộ tham mưu nghĩa quân là yếu tố tiên quyết đến mọi thắng lợi, trong đó Lê Lợi và Nguyễn Trãi là hai vị lãnh tụ xuất sắc nhất của nghĩa quân, hai anh hùng vẻ vang của dân tộc.
Đặc biệt, Lê Lợi không chỉ là anh hùng kiệt xuất trong khởi nghĩa Lam Sơn với vai trò chủ động kiến tạo Hội thề Đông Quan, Hội thề kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình lâu dài giữa nhà nước Đại Việt và nhà Minh (Trung Quốc) mà còn được suy tôn là vị Tổ trung hưng thứ hai (tiếp nối Tổ trung hưng thứ nhất là Ngô Quyền và sau Thủy tổ dựng nước là Hùng Vương).
(Theo truyenhinhthanhhoa.vn)

Address

Thọ Xuân
Thanh Hóa

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Lam Sơn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share