THÁI BÌNH XƯA

THÁI BÌNH XƯA Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from THÁI BÌNH XƯA, Landmark & historical place, Cầu Bo, Thái Bình.

𝕿𝖍𝖆́𝖎 𝕭ı̀𝖓𝖍 𝖘𝖚̛̉ 𝖑𝖚̛𝖔̛̣𝖈 𝖐𝖍𝖆̉𝖔 𝖇𝖎𝖊̂𝖓Thái Bình sử lược khảo biên (Ngộ Không Phí Ngọc Hùng, Bính Dậu 2017)Như qua Đôi lời ...
28/08/2021

𝕿𝖍𝖆́𝖎 𝕭ı̀𝖓𝖍 𝖘𝖚̛̉ 𝖑𝖚̛𝖔̛̣𝖈 𝖐𝖍𝖆̉𝖔 𝖇𝖎𝖊̂𝖓
Thái Bình sử lược khảo biên
(Ngộ Không Phí Ngọc Hùng, Bính Dậu 2017)

Như qua Đôi lời bộc bạch ở trên vừa giải bày, gần như có thể nói địa danh Thái Bình bị lãng quên trong sử Việt. Lần đầu tiên, địa danh này được nhắc thoáng qua với tên Bố Hải Khẩu qua… sử ký. Bởi nhẽ với chính sử, mỗi địa danh được nhắc đến để diễn sử qua từng triều đại khởi nghiệp từ địa danh của mình. Như: nhà Lý từ Bắc Ninh, nhà Trần từ Nam Định, nhà Lê từ Hải Dương, nhà Nguyễn từ Thuận Hoá.
Vào thời cuối nhà Ngô với Ngô Quyên và đầu thời nhà Đinh với Đinh Bộ Lĩnh có Ngô sứ quân (thời nhà Ngô) hay Thập nhị sứ quân (thời nhà Đinh). Lúc bấy giờ nước ta có 12 sứ quân gây ra nội loạn 20 năm từ năm 945 đến năm 967, trên toàn thể vùng đồng bằng Bắc Việt nhỏ bé, thu hẹp, mỗi sứ quân chiếm một nơi, nhờ vậy ta mới biết địa danh của mỗi nơi chốn Như Ngô Xương Xí chiếm phủ Khoái Châu (Hưng Yên ngày nay), Nguyễn Siêu giữ Tây Phủ Liệt (tức Hà Đông bây giờ), v…v…và Trần Lãm xưng Trần Minh Công giữ Bố Hải Khẩu1
Trần Lãm xưng Trần Minh Công giữ Bố Hải Khẩu, nhưng danh xưng trong sử liệu gọi là “thổ hào”, khi ấy Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư (Ninh Bình) sang nương náu ở với sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu. Trần Lãm thấy người khôi ngô, có ý chí nên đem lòng yên mến và gả con gái cho Đinh Bộ Lĩnh. Trần Lãm mất (sic), Đinh Bộ Lĩnh dẹp được 12 sứ quân. Năm 968 xưng đế là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Năm Canh Ngọ (970) đặt niên hiệu là Thái Bình.
Thái Bình (vùng đất chưa có tên) thuộc Trấn Sơn Nam
Dòng họ Trần gốc ở Bắc Ninh, sau chuyển về Đông Triều. Đến đời Trần Tự Kinh đi khẩn hoang và dừng chân ở hương Tức Mặc (thuộc Nam Đinh bây giờ) với hai người con trai là Trần Tự Hấp và Trần Tự Duy. Tự Hấp sinh ra Trần Lý. Trần Lý sinh con là Trần Thừa. Em là Trần Tự Duy chỉ sinh được Trần Thủ Huy, đến đời Huy chỉ sinh ra Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ từ nhỏ được người bác Trần Lý nuôi dưỡng.
Mỗi mảnh đất có dòng sinh mệnh nổi trôi với dòng họ theo vận nước. Như một cái nghiệp với tên Trần Lý. Sau này họ Trần kết hợp với họ Lý dựng lên Trấn Sơn Nam. Trần Thủ Độ là người sắp đặt cho con trai của Trần Thừa là Trần Cảnh (7 tuổi) kết hôn với Lý Chiêu Hoàng. Hai năm sau Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Thái Tông, bắt đầu triều đại nhà Trần với Trần Thủ Độ là quốc sư vì Trần Cảnh lúc đó mới 10 tuổi. Đời Trần, hương Tức Mặc đổi tên thành Phủ Thiên Trường (hay Hành cung Thiên Trường), được coi như kinh đô thừ 2 sau Thăng Long.
Ghi chú:
1. Làng Kỳ Bá ở ven thị xã Thái Bình ngày nay, vào thế kỷ thứ 10 còn là cửa biển có tên gọi là“ Kỳ bồ hải khẩu”.
Bố Hải Khẩu hay Kỳ Bố được nhắc tên lần thứ hai trong lịch sử vào năm Thiên Thành thứ 3 (1030), vua Lý Thái Tông đi cày ruộng tích điền ở Bố Hải Khẩu vì bấy giờ ở đây còn là cửa biển nên gọi như vậy. (nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư) Năm 1038 và 1065, vua Lý về Bố Hải Khẩu (huyện Vũ Thư ngày nay) lúc này kinh tế phát triển, việc học hành cũng được mở mang. Vì vậy Đặng Nghiêm, người hương Mần Để (nay thuộc Hiệp Hòa, Vũ Thư) đã đỗ khoa thi Minh Kính bác học năm 1185 đời vua Lý Cao Tông, mở đầu cho trên 60 vị đại khoa của Thái Bình trong sử thi. Hay nói một cách khác một trong những ông tiến sĩ đầu tiên trong khoa cử là người Thái Bình.Và vị vua đầu tiên của nước ta cũng…người Thái Bình. (xem Lý Bí tr 15)
Phủ Thiên Trường dưới thời nhà Lê
Lê Thánh Tông chia “tứ xứ” để bảo vệ Thăng Long gồm xứ Bắc (xứ Kinh Bắc), xứ Nam (xứ Sơn Nam), xứ Tây (xứ Sơn Tây), xứ Đông (xứ Hải Đông). Sơn Tây dân gian gọi nôm là xứ Đoài. Vì “đoài” là một quẻ trong bát quái của Kinh dịch thuộc về phía tây, vì vậy mới có xứ Đông, xứ Đoài, thôn đông thôn đoài…

Sau Quang Trung đổi “xứ” thành “trấn”, để có trấn Kinh Bắc (giữ phía bắc), trấn Sơn Nam (giữ phía nam), trấn Sơn Tây (giữ phía tây), trấn Hải Đông (giữ phía đông).
Phụ đính:
Nhà Lê và nhà Nguyễn (trong đó có Minh Mạng 1832) đổi tên trấn và địa danh như sau.
- Trấn Kinh Bắc, Minh Mạng đổi là Bắc Ninh.
- Năm 1469, Lê Thánh Tông đi tuần du thấy mấy ngọn núi ở vùng đất nằm ở phía tây Thăng Long nên vua đặt tên là thừa tuyên Sơn Tây. Minh Mạng đổi là tỉnh Sơn Tây.
- Trấn Hải Đông, Minh Mạng đổi thành trấn Hải Dương.
- Bắc Thành, Minh Mạng đổi thành Hà Nội. (Gia Long đổi Thăng Long là Bắc Thành)
- Hưng Yên (sau này) được chúa Trịnh Cương đặt tên là Phố Hiến. Năm 1831, Minh Mạng đổi tên là Hưng Yên.
- Hà Nam do Thành Thái thứ 2 đặt tên năm 1890. Hà Nam từ chữ Hà của Hà Nội và Nam của Nam Định ghép lại.
Trấn Sơn Nam đất của nhà Trần khởi nghiệp, thời Nguyễn chia làm hai Sơn Nam hạ gồm Nam Định, Thái Bình và Sơn Nam thượng có Hưng Yên, Hà Đông, Hà Nam. Vì Minh Mạng theo nhà Thanh, đổi phủ huyện thành tỉnh, do đó Minh Mạng thứ 2 năm 1822 đổi tên Trấn Sơn Nam hạ là trấn Nam Định. !0 năm, Minh Mạng thứ 12, năm 1832 đổi lại là tỉnh Nam Định (trong đó có Thái Bình).
Thành Thái thứ 2 năm 1890 tách Thái Bình (3) ra khỏi Nam Định thành tỉnh riêng vào ngày 21 tháng 3 năm 1890 và lấy sông Hồng làm ranh giới.
(3) Tên Thái Bình được gọi sau này từ phủ Thái Bình của Nam Định xưa.
Phụ chú:
Cùng Thái Bình cổ sử với tên Thái Bình được gọi sau này từ phủ Thái Bình của Nam Định xưa. Người góp nhặt gom góp được từ tứ phương tám hướng những mảnh chữ qua những mảnh đất rời rạc dưới đây:
- Thế kỷ đầu Công nguyên và 5 thế kỷ sau đó, Thái Bình là phần đất cuối cùng phía nam của huyện Châu Diên, quận Giao Chỉ.
- Thời kỳ tự chủ 938 (thời Ngô Quyền, cùng thời Nam Hán), Thái Bình thuộc châu Đăng. (châu Đăng bao gồm 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình ngày nay).
- Thời Tiền Lê, Lê Đại Hành đổi 10 đạo cả nước thành phủ, lộ, (1) châu. (2)
- Thời Lê Ngoạ Triều (1005-1009) châu Đăng được gọi là “phủ Thái Bình”.
- Thời Lý thế kỷ thứ 2, Thái Bình được gọi là “hương Thái Bình”. Phủ (4) Thái Bình sau là phủ Thái Ninh.
(1) Lộ
Trong thời Bắc thuộc, vào đời Đường (618 – 907), Giao Châu được chia thành giáp (3) lộ, châu, huyện, hương và xã. Trần Anh Tông lại đổi giáp thành hương.
(2) Châu
Châu làng được lập trên đất bồi ở ven sông.
(3) Giáp
Dưới triều Hàm Thông (860 - 874) đời Đường, Cao Biền chia Giao Châu thành 159 hương. Năm 907, Khúc Hạo đổi hương ra giáp.
(4) Vua Lê Thánh Tông chia đổi cả nước thành 13 đạo thừa tuyên. dưới đạo là phủ, huyện, châu (miền núi gọi là châu). Phủ lớn hơn huyện có phủ đường, nha môn. (Tàu gọi lân quốc là huyện. Trước 75, VNCH không gọi huyện mà quận).
Vì vậy tên “phủ Thái Bình” không phải từ nhà Lê, nhà Nguyễn mà có từ thời Tiền Lê.

𝕭𝖔̂́ 𝕳𝖆̉𝖎 𝕶𝖍𝖆̂̉𝖚 𝖉𝖚̛ đ𝖎̣𝖆 𝖈𝖍𝖎́ 𝖑𝖚̛𝖔̛̣𝖈 𝖐𝖍𝖆̉𝖔Bố Hải Khẩu dư địa chí lược khảoVùng đất đồng bằng Thái Bình ngày nay, vào t...
28/08/2021

𝕭𝖔̂́ 𝕳𝖆̉𝖎 𝕶𝖍𝖆̂̉𝖚 𝖉𝖚̛ đ𝖎̣𝖆 𝖈𝖍𝖎́ 𝖑𝖚̛𝖔̛̣𝖈 𝖐𝖍𝖆̉𝖔
Bố Hải Khẩu dư địa chí lược khảo
Vùng đất đồng bằng Thái Bình ngày nay, vào thời Bắc Thuộc trước thế kỷ 10, thuộc hương Đa Cương (vùng đất từ sông Luộc ra đến biển) của quận Giao Chỉ. Đến cuối thời Lê Trung hưng, Trấn Sơn Nam là một trong tứ trấn được chia làm hai trấn: Trấn Sơn Nam hạ (gồm Nam Định và Thái Bình) và Trấn Sơn Nam thượng (Hà Nam, Hưng Yên và Hà Đông). Năm 1832, Minh Mạng năm thứ 12 lập lại phủ, huyện của Trấn Sơn Nam hạ gồm 4 phủ, 18 huyện. Trong 4 phủ ấy có 2 phủ Thái Bình và phủ Kiến Xương.

Tỉnh Thái Bình được thành lập vào năm thứ hai niên hiệu Thành Thái (1890), gồm phủ Thái Bình, phủ Kiến Xương (tách ra từ tỉnh Nam Định) và huyện Thần Khê (tách ra từ tỉnh Hưng Yên) và nhập vào phủ Thái Bình), phủ này được đổi tên thành Thái Ninh.
Năm 1894, Hưng Nhân, Duyên Hà, phần còn lại của phủ Tiên Hưng cũng được nhập về Thái Bình từ Hưng Yên, và phủ Tiên Hưng được tái lập trực thuộc tỉnh Thái Bình.
- Tên phủ Thái Bình (trước thuộc Nam Định) không còn nữa, trở thành “toàn tỉnh Thái Bình” gồm 3 phủ: Thái Ninh (huyện Thần Khê của Hưng Yên), Kiến Xương (của Nam Định), Tiên Hưng (của Hưng Yên) bao gồm 12 huyện.
- Địa giới tỉnh Thái Bình: đông giáp huyện Kiến Xương; tây giáp huyện Vũ Thư, nam cũng giáp huyện Vũ Thư và bắc giáp huyện Đông Hưng.
Sau cấp phủ bị loại bỏ, các huyện có sở lỵ đổi theo tên của phủ trước đó, như: Thanh Quan là Thái Ninh, Trực Định là Kiến Xương, và Thần Khê là Tiên Hưng.
- Đông Quan, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Thụy Vân, Thanh Quan thuộc Thái Ninh.
- Vũ Tiên, Thư Trì, Tiền Hải, Trực Định thuộc Kiến Xương.
- Hưng Nhân, Duyên Hà, Thần Khê thuộc Tiên Hưng.
Sứ quân Trần Lãm và Bố Hải Khẩu
Trần Lãm sinh ngày 18-8 năm nào không rõ, mất ngày 10-10-967 tại thôn Lạc Đạo. Với dự kiến lịch sử, ông và Lý Bí đều từ phương Bắc xuống, tổ tiên Lý Bí thuộc tộc Bách Việt sống tại Giao Châu thời Tây Hán. Trần Lãm người Quảng Đông, dời về phương Nam cùng thời với Ngô Quyền.

Trần Lãm theo cha là Trần Đức, người Quảng Đông đến mở mang vùng Bố Hải Khẩu tạo dựng làng xã và phát triển về nghề đánh cá. Thần phả ở làng Kỳ Bố chép: “Chẳng bao lâu gia tư tích luỹ cả ngàn người vào ra. Thành Kỳ Bố được dựnh thành “đạo”, sau này mở rộng thành làng Kỳ Bố”. Khi triều Ngô đẩy lui Xương Văn và Xương Ngập vào Hoa Lư, Đinh Bộ Lĩnh sang nương náu với Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu. Sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp 12 sứ quân (1) thành công, Trần Lãm được vua Đinh phong làm “Phụ Dục quốc chính Thượng tướng quân” và được hưởng lộc ở đất Sơn Nam và mất ở đấy (1), ông được Đinh Bộ Lĩnh phong là “Quốc đô thần hoàng”. Thần phả đền Lạc Đạo chép: “Thời ông nhậm chức tại triều, đất nước thanh bình, vạn dân yên ổn. Ông dâng sớ chu du khắp thiên hạ tìm đất kiến lập sinh từ để làm nơi hương hoả về sau. Ông chọn Lạc Đạo, vua Đinh chấp nhận”. Khi mất ông được dân lập đền thờ ở đình Xám (Lạc Đạo), và đình Bo.
(1) Sử chép: Đinh Bộ Lĩnh dẹp 12 sứ quân, tuy nhiên sứ quân Trần Lãm dung nạp Đinh Bộ Lĩnh, vừa là bố vợ Trần Lãm vừa bị chết vì bện tật. Vì vậy Đinh Bộ Lĩnh dẹp 11 sứ quân chứ không là 12 sứ quân.
Phụ đính:
Ngày 21-3-1890, Kinh lược sứ Bắc kỳ thành lập thành phố Thái Bình bao gồm hai làng Bồ Xuyên và Kỳ Bố thuộc tổng Lạc Đạo.

28/08/2021

𝕹𝖍𝖚̛̃𝖓𝖌 𝖓𝖌𝖔̣̂ 𝖓𝖍𝖆̣̂𝖓 𝖛𝖊̂̀ 𝖓𝖍𝖆̂𝖓 𝖛𝖆̀ đ𝖎̣𝖆 𝖉𝖆𝖓𝖍
Những ngộ nhận về nhân và địa danh
Từ lâu nước ta phân chia đất đai từ huyện lên phủ, từ phủ tới trấn. Dưới huyện là làng, xã, thôn, ấp và nhỏ nhất là giáp. Thời Pháp thuộc (từ thời Thành Thái) mới có quận và tỉnh, quận tương đương với huyện và tỉnh tương đương như phủ. Cũng như trên, tất cả vì ranh giới không rõ ràng vì chỉ chia, cắt, sát nhập trên chiếu chỉ, công văn nên có một số di tích như điện đài, lăng tẩm bị hiểu nhầm lẫn về địa danh, nơi chốn.
Vì tùy theo triều đại, niên chế với sự kiện lúc thuộc Nam Định, khi ở Thái Bình.

𝕿𝖗𝖆̂̀𝖓 𝕿𝖍𝖚̉ Đ𝖔̣̂ 𝖓𝖌𝖚̛𝖔̛̀𝖎 𝕿𝖍𝖆́𝖎 𝕭ı̀𝖓𝖍❓  Có nguồn cho rằng bố mẹ Trần Thủ Độ là ai, không rõ (*). Vì chia, cắt đất đai, n...
28/08/2021

𝕿𝖗𝖆̂̀𝖓 𝕿𝖍𝖚̉ Đ𝖔̣̂ 𝖓𝖌𝖚̛𝖔̛̀𝖎 𝕿𝖍𝖆́𝖎 𝕭ı̀𝖓𝖍❓


Có nguồn cho rằng bố mẹ Trần Thủ Độ là ai, không rõ (*). Vì chia, cắt đất đai, nên nay lăng Trần Thủ Độ nằm ở Thái Bình nên có một số nhà làm văn học, nhà biên khảo đã vô tình cho là Trần Thủ Độ người Thái Bình.
Trần Thủ Độ mất năm 1264, Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục: “Trần Thủ Độ sau khi chết chôn ở xã Phù Ngự, huyện Ngự Thiên, Hưng Hà (1) nơi có hồ đá, dơi đá, chim đá v…v…Chỗ đặt ấy rộng đến hai mẫu, cây cối um tùm, cây cối um tùm, về tư điền được liệt vào hạ thượng đẳng”.
(1) Hưng Hà thời Trần thuộc Nam Định, thời Nguyễn thuộc Thái Bình.
Phụ chú:
Trần Thủ Độ sinh ở làng Lưu Xá, huyện Ngự Thiên, Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Dòng họ Trần dựng nghiệp ở hương Tức Mặc (hay làng), sau đổi thành phủ Thiên Trường. Phủ Thiên Trường được coi là kinh đô thứ hai của nhà Trần, còn được gọi là “hành đô”, vì ở thành Nam nhà Trần lập Bến Ngự để vua Trần từ Thăng Long theo sông Hồng về đây nghỉ ngơi nên phủ Thiên Trường còn gọi là “Hành cung Thiên Trường”.
Hai anh Trần Thừa và Trần Tự Duy được sinh ra tại xã Lộc Vượng ở Tức Mặc, ngay ở thành phố Nam Định ngày nay.
(*) Trích lục lại
Dòng họ Trần gốc ở Bắc Ninh, sau chuyển về Đông Triều. Đến đời Trần Tự Kinh đi khẩn hoang và dừng chân ở hương Tức Mặc (thuộc Nam Đinh bây giờ) với hai người con trai là Trần Tự Hấp và Trần Tự Duy. Tự Hấp sinh ra Trần Lý. Trần Lý sinh con là Trần Thừa. Em là Trần Tự Duy chỉ sinh được Trần Thủ Huy, đến đời Huy chỉ sinh ra Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ từ nhỏ được người bác Trần Lý nuôi dưỡng.
Lăng Thái Sư Trần Thủ Độ
Lăng Thái Sư Trần Thủ Độ (1194-1264) quê ở làng Phù Ngự thuộc Hưng Hà. Vì kỵ húy tên “Ngự” nên gọi là lăng Ngừ. Trước lăng là hai bức tượng người nữ Chiêm Thành chầu hầu, giữa là mộ của thái sư. Trong lăng bầy dụng cụ sàng sẩy lúa gạo nào là dần, sàng, nong, nia bằng đá tròn, dẹt. Lại có bi ký và bi đình tựa kiểu tam mục, rõ ra văn chỉ khoa mục…Sau lăng có con cú to bằng con ngỗng lớn, đối diện là con cáo to bằng cả con bê. Tất cả cú, cáo, dần, sàng, nong, nia đều được dân làng gọi bằng “Ông”. Ông Cáo, ông Cú, ông Nong, ông Nia, v…v…
Vì Trần Thủ Độ mang lúa chiêm về trồng trọt, nên trước lăng có hai bức tượng người nữ Chiêm Thành và trong lăng thờ dần, sàng, nong, nia là vậy. Cũng vì vậy người Việt ta có mùa chiêm vào mùa ấm trời, cấy lúa tháng 10, tháng 11 và gặt hái vào tháng 5 tháng 6, trong khi lúa mùa cấy vào đầu mùa mưa và gặt vào đầu mùa khô tiếp. Ngoài ra quanh đấy còn có sông đào được đặt tên là sông Thái Sư.

𝗖𝗵𝘂̀𝗮 𝗞𝗲𝗼 𝗧𝗵𝗮́𝗶 𝗕a𝗻𝗵 Chùa Keo (Thần Quang tự 神光寺) là một ngôi chùa ở ấp Giao Thủy (tên Nôm là làng Keo), xã Duy Nhất (xã...
28/08/2021

𝗖𝗵𝘂̀𝗮 𝗞𝗲𝗼 𝗧𝗵𝗮́𝗶 𝗕a𝗻𝗵


Chùa Keo (Thần Quang tự 神光寺) là một ngôi chùa ở ấp Giao Thủy (tên Nôm là làng Keo), xã Duy Nhất (xã Vũ Nghĩa?), huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, được xây dựng từ năm 1061 dưới thời Lý Thánh Tông ở hương Giao Thuỷ ven sông Hồng. Ban đầu, chùa có tên là Nghiêm Quang tự, đến năm 1167 mới đổi thành Thần Quang tự. Vì Giao Thủy có tên Nôm là Keo, nên ngôi chùa này cũng được gọi là chùa Keo.

Chùa keo Thái Bình có trước, vì bị lụt lội, một số dân cư rời ấp Giao Thủy xuống Thiên Trường lập lên chùa Keo thứ hai. Vì vậy có hai tên: chùa Keo thượng (Thái Bình) và chùa Keo hạ (Nam Định). Chùa Keo Nam Định
Chùa Keo Giao Thủy (thường gọi là chùa Keo hạ *), ở ấp Giao Thủy (tên Nôm cũng là làng Keo), xã Nghĩa Xá (nay là xã Hành Thiện), huyện Xuân Trường, Nam Định.

Chùa do vua Lý Nhân Tông giao cho thiền sư Giác Hải (1) dựng năm 1121. Giác Hải quê ở Hải Thanh, thưở nhỏ làm chài lưới, năm 25 tuổi đi tu ở chùa Hà Trạch. Năm 1060, Giác Hải cùng Dương Không Lộ và Từ Đạo Hạnh tìm đường sang Thiên Trúc học đạo, nhưng đi lạc tới Kim Xí (Miến Điện) thì phải quay về. Chùa Keo khởi đầu có tên là chùa Diên Phúc, Giác Hải trụ trì ở đó. Sau vua Lý Anh Tông cho quan hữu ty sửa chữa và tu bổ và ra sắc chỉ “Viên Quang tự bi minh tính tự” nên có tên là Viên Quang tự. Và đổi tên ấp Giao Thủy là ấp Nghĩa Xá.
* Chùa Keo hạ còn được gọi tên khác là: Chùa Keo Hành Thiện.
(1) Theo nguồn khác, chùa Keo Nam Định xây dựng ngôi chùa này được bắt đầu từ năm 1630 và hoàn thành vào năm 1632 theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ. Chùa được trùng tu nhiều lần, vào các năm 1689, 1707, 1941... Lần trùng tu năm 1941, có sự giúp đỡ của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp.
Phụ chú:
Thái Bình và Nam Định, ngoài hai Chùa Keo còn có:
- Hai Đền Trần
- Hai Đền Mẫu.

𝗖𝗵𝘂̀𝗮 𝗞𝗲𝗼 𝗧𝗵𝗮́𝗶 𝗕ı̀𝗻𝗵 (𝗧𝗵𝗮̂̀𝗻 𝗤𝘂𝗮𝗻𝗴 𝘁𝘂̛̣)  Chùa thường gọi là chùa Keo, tọa lạc ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái B...
28/08/2021

𝗖𝗵𝘂̀𝗮 𝗞𝗲𝗼 𝗧𝗵𝗮́𝗶 𝗕ı̀𝗻𝗵 (𝗧𝗵𝗮̂̀𝗻 𝗤𝘂𝗮𝗻𝗴 𝘁𝘂̛̣)

Chùa thường gọi là chùa Keo, tọa lạc ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chùa ban đầu có tên là Nghiêm Quang, được dựng từ năm 1067 ở hương Giao Thủy, cạnh bờ sông Hồng. Đến năm 1167, chùa mới đổi tên là chùa Thần Quang. Do ảnh hưởng mực nước sông Hồng, từ năm 1611, chùa đã được dân làng dời đi, lập lại chùa mới. Việc dựng chùa mới được bắt đầu từ năm 1630, hoàn thành năm 1632. Chùa được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ XVII, XVIII và năm 1941. Chùa có quy mô kiến trúc rộng lớn trên một khu đất khoảng 58.000m. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Sau chùa Phật có đền thờ Thiền sư Không Lộ, người khai sơn ngôi chùa vào thời Lý. Công trình kiến trúc nổi tiếng của chùa là gác chuông. Gác chuông cao 11,04m, có 3 tầng mái. Tầng một có treo một khánh đá (dài 1,87m), tầng hai có quả chuông đúc năm 1686, tầng ba và tầng thượng có chuông đúc năm 1796.
Hằng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng âm lịch, nhân dân làng Keo xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình lại mở hội xuân ngay ở ngôi chùa mang tên làng. Hơn chín tháng sau, vào các ngày 13, 14, 15 tháng chín âm lịch, chùa Keo lại mở hội mùa thu. Đây là hội chính, kỷ niệm ngày Thiền sư Không Lộ (1016-1094), người sáng lập ngôi chùa, qua đời (Ngài qua đời ngày 3 tháng 6 âm lịch). Trong ngày hội, người ta tổ chức lễ rước kiệu, hương án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh. Trên con sông Trà Lĩnh ngang trước chùa chảy ra sông Hồng, người đi hội đổ về xem cuộc thi bơi trải, thi kèn trống, thi bơi thuyền và biểu diễn các điệu múa cổ. Trong chùa thì có cuộc thi diễn xướng về đề tài lục cúng: hương, đăng, hoa, trà, quả, thực, thật sinh động.
Dù cho cha đánh mẹ treo,
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm.
Nếu có dịp về thăm chùa Keo, thì du khách hãy đến vào hội mùa thu. Từ thành phố Nam Định, qua phà Tân Đệ, rẽ phải, theo đê sông Hồng, đi khoảng 10 km là đến chùa. Nằm ở chân đê sông Hồng giữa vùng đồng bằng không một bóng núi non, chùa Keo với gác chuông nhưmột hoa sen vươn lên giữa biển lúa xanh rờn được vun bón bởi phù sa sông Hồng do nước sông Trà Lũ bồi đắp.
Nhưng lịch sử của ngôi chùa thì có bề dày đến hơn chín thế kỷ. Theo sách Không Lộ Thiền sư ký ngữ lục, năm 1061, Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang tại làng Giao Thủy (tên nôm là làng Keo) bên hữu ngạn sông Hồng. Sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời, chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang Tự. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa và đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi cả làng mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo phải bỏ quê cha đất tổ ra đi: một nửa dời về đông nam hữu ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Hành Thiện (nay thuộc tỉnh Nam Định); một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Thái Bình này.
Văn bia và địa bạ chùa Keo còn ghi lại diện tích toàn khu kiến trúc chùa rộng đến 58.000 m2. Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25 m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa chạm rồng chầu (thế kỷ 16). Sau đó là chùa thờ Phật, gồm ba ngôi nhà nối vào nhau. Trong cùng là tòa gác chuông, nhà tổ và khu tăng xá.
Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thời hậu Lê. Được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn, gác chuông cao 11,04 m gồm 3 tầng mái, kết cấu bằng những con sơn chồng lên nhau. Bộ khung gác chuông làm bằng gỗ liên kết với nhau bằng mộng ngậm, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ thanh thoát. Tầng một treo khánh đá 1,20 m và chuông đồng cao 1,30 m, đường kính 1m đúc vào thời Lê Hy Tông (1686); hai tầng trên treo chuông nhỏ cao 0,62m, đường kính 0,69 m đúc vào năm 1796.
Đứng soi mình xuống hồ nước phẳng lặng giữa một không gian thoáng đãng, chùa Keo không chỉ lưu giữ nhiều di vật quý giá mà còn chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với cuộc đời Thiền sư Không Lộ. Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục tập yếu, Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra trong một gia đình ngư phủ, xuất gia theo Thiền sư Lôi Hà Trạch.
Tương truyền rằng từ khi đắc đạo, Thiền sư Không Lộ có khả năng bay trên không, đi trên mặt nước và thuần phục được rắn, hổ. Truyền thuyết còn kể rằng trước khi viên tịch, Ngài hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên và khúc gỗ biến thành tượng. Thánh tượng này nay còn lưu giữ trong hậu cung quanh năm khóa kín cửa.
Cứ 12 năm một lần, làng Keo lại cử ra một người hội chủ và bốn viên chấp sự để làm lễ trang hoàng tượng Thánh. Những người này phải ăn chay, mặc quần áo mới, họ rước thánh tượng từ cấm cung ra rồi dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm và tô son lại cho tượng Thánh. Công việc này phải làm theo một nghi thức được quy định rất nghiêm ngặt, những người chấp sự phải tuyệt đối giữ kín những gì đã thấy trong khi trang hoàng tượng Thánh.
Đến thăm chùa, khách có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như một bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà người ta kể lại rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.

𝗟𝘆́ 𝗕𝗶́ 𝗹𝗶𝗲̣̂𝘁 𝘁𝗿𝘂𝘆𝗲̣̂𝗻 Lý Bí sinh ngày 12-9-503, mất ngày 20-3-548, quê ở Long Hưng, xã Từ Đường, huyện Thụy Anh. Bố là...
28/08/2021

𝗟𝘆́ 𝗕𝗶́ 𝗹𝗶𝗲̣̂𝘁 𝘁𝗿𝘂𝘆𝗲̣̂𝗻

Lý Bí sinh ngày 12-9-503, mất ngày 20-3-548, quê ở Long Hưng, xã Từ Đường, huyện Thụy Anh. Bố là Lý Toàn, mẹ là Lê Thị Oánh người Ái Châu (Thanh Hoá). Đại Việt sử ký toàn thư chép Lý Bí là con cháu Thứ sử Giao Châu Lý Nguyên Hải.
Phụ đính:
Bắc thuộc lần thứ nhất: Từ Triệu Đà đến Mã Viện (thời Hai Bà Trưng)
Bắc thuộc lần thứ hai: Từ Mã Viện đến Lý Bí (cùng thời Bà Triệu)
Bắc thuộc lần thứ ba: Từ nhà Tiền Lý đến Ngô Quyền (tiếp Đinh Bộ Lĩnh)
Thời Bắc thuộc, Lý Bí, Trần Lãm, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh đều là con cháu của quan lại người phương Bắc, vì hòan cảnh lịch sử và địa chí chống lại thiên triều để tách ra lập quốc. Từ nhà Tiền Lý, Tiền Lê để sau này có nhà Hậu Lý, Hậu Lê…

Nếu so với chiều dài và chiều dầy của lịch sử, Thái Bình chỉ được biết đến dăm hàng qua Lý Bí hay Lý Bôn người Thái Bình. Theo Đại Việt sử ký toàn thư ông người phủ Long Hưng, Thái Bình. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục tên Thái Bình có từ đời Đường, còn phủ Long Hưng có từ đời Trần. Thời kỳ Bắc thuộc 544, Lý Bí đánh đuổi quan quân nhà Lương, tháng giêng năm 544 lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Lý Nam Ðế, đặt tên nước là Vạn Xuân. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng sở dĩ đặt tên nước như vậy vì: “Ý mong xã tắc được bền vững đến muôn đời”.
Phụ đính 1:
Mẹ của Lý Bí vũng được lập miếu thờ ở xã Tử Đường, huyện Thụy Anh. Người dân Thái Bình thờ bà không phải cứ mẹ vua là được thờ phụng. Cũng không phải bà là dâu họ Lý. Mà vì bà…họ Phí.
Phụ đính 2:
Miếu thờ mẹ Lý Bí
Bà Hứa Thị Trinh là vợ của Lý Bí, cùng chồng chinh chiến và tử trận vì đắm thuyền tại hồ Đền Triệt năm 541. Sau Triệu Việt Vương lập miếu thờ tại quê nhà. Miếu Hai Thôn (Hiệp Hoà, Vũ Thư) thờ bà Hứa Thị Trinh. Miếu được đại tu vào năm 1680, là một công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu nhất ở Thái Bình. Miếu gồm 3 toà, 11 gian. Trước sân xây cuốn thư cổ, cổng hoành mã. Phía trước của hai toà đều đánh bạo kép, ngưỡng kép, chấn phong thượng hạ, các mảng cánh gà hồi hiên chạm lõng 3 tầng rồng lửa; Tường sau, hồi tả, hồi hữu đều đắp đố lụa bằng gỗ lim. Các đồ tế khí đời Lê, các cổ khám rất lớn, những cỗ ngai đồ sộ chạm lõng 5 tầng đủ các đề tài trúc long, long cuốn, long ổ… tất cả đều sơn son, thếp vàng. Đặc biệt, miếu còn lưu giữ bức tranh cổ vẽ vào nửa cuối thế kỷ XVII; Tranh cao 1,6m, rộng 2,2 m, miêu tả vua Tiền Lý Nam Đế và hoàng hậu rất sinh động.
Ông dựng thành Long Biên xây điện Vạn Thọ làm nơi văn võ bá quan triệu hội. Long Biên được coi như “cố đô” khởi đầu của nước nhà, tức phần ngoài của thành Đại La nằm ở cửa sông Tô Lịch. Sử ta gọi đây là nhà Tiền Lý. Ông cho xây chùa Khai Quốc tại đây, sau vì lụt lội, dời về Tây Hồ và đổi tên là chùa Trấn Quốc.

Đại Việt sử ký toàn thư chép Lý Bí gốc người Tàu và nói rõ: “Đế, Bắc nhân dã”. (vua là người phương Bắc) là con cháu Thứ sử Giao Châu Lý Nguyên Hải. Ông thuộc dòng thứ 7 của họ Lý (1) qua nước ta Người Tàu gọi ông là “Giao Châu thổ nhân”.
Phụ đính 3:
Họ Lý và họ Trần
Lâu nay ta vẫn đinh ninh rằng Đình Bảng là quê gốc của nhà Lý, nhưng ít ai có thể ngờ Kinh Bắc cũng là nơi đã từng có lịch sử hơn 1000 năm cư ngụ của thuỷ tổ các vua Trần. Nói quê của Trần Cảnh, vị vua sáng nghiệp triều Trần ở đất Thái Đường, huyện Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình nếu tính từ các đời Trần Tự Kinh cuối thế kỷ XI trở về sau.
Căn cứ vào gia phả họ Trần ở Nhạc Dương do thống tôn đời thứ 27 Trần Định Nhân còn lưu giữ được thì gốc tích xa xưa từ đời Chiến quốc, họ Trần thuộc nhóm tộc người Bách Việt sống ở đất Mân (Phúc Kiến). Năm 227 trước công lịch, Trần Tự Minh đang làm quan, vì mâu thuẫn giữa người Hán và người Bách Việt ông đã theo dòng người Bách Việt di cư xuống phía nam. Trần Tự Minh trở thành vị tướng tài ba, cùng Cao Lỗ giúp An Dương Vương chống lại Triệu Đà. Khi thành Cổ Loa thất thủ, đất nước rơi vào tay cha con Triệu Đà, Trần Tự Minh lui về sống ẩn dật ở đất Kinh Bắc, qua 700 năm ở Kinh Bắc phân ra nhiều nhánh, một nhánh về Đông Triều, Quảng Yên.
(Nguồn: Đâu là nơi phát tích của họ Trần - Vũ Ngọc Tiến)
Phụ đính 4:
Như tiết mục Sứ quân Trần Lãm và Bố Hải Khẩu đã trình bầy Lý Bí và Trần Lãm đều từ phương Bắc xuống, tổ tiên Lý Bí thuộc tộc Bách Việt sống tại Giao Châu thời Tây Hán. Trần Lãm người Quảng Đông, dời về phương Nam cùng thời với Ngô Quyền.
Lý Bí và Trần Lãm đều là người tiên khởi khai phá ra Thái Bình.
Phụ đính 5:
Với địa dư chí, gần như có thể nói Trần Lãm là người khai phá ra Thái Bình, cũng như Trần Lý khai phá ra Nam Định, cả hai làm nghề đánh cá.
Lý Nam Đế và cận tướng Chu Diên (2), Triệu Quang Phục, Lý Phật Man kiểm soát cả một vùng rộng lớn châu thổ sông Hồng, từ Quảng Ninh xuống tới Nghệ An, Hà Tĩnh. Ngoài ra nhà Tiền Lý với Lý Nam Đế còn cho đúc tiền đồng để tiêu dùng trong nước. Đây là tiền đồng đầu tiên của nước ta.
Phụ chú 6:
(2) Hào trưởng Chu Diên chính là Khúc Thừa Dụ quê ở Hồng Châu (Ninh Giang, Hải Dương). Cuố thế kỷ 9, nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ tự xưng là tiết độ sứ, đánh chiếm thành Đại La (Tống Bình cũ).
Năm 906, Khúc Thừa Dụ mở đường cho Ngô Quyền kết thúc 1000 năm độ hộ Bắc thuộc, đem lại độc lập và nền tự chủ cho nước nhà khi nước ta rơi vào tay nhà Hán
(đất Chu Diên sau này là Ninh Giang, Hải Dương).
Tại sông Luộc cách bến phà Hiệp 50 thước về phía Hải Dương có miếu thờ cha con Khúc Thừa Dụ (Ông làm Tiết độ sứ non một năm thì mất, nhường quyền bính cho con là Khúc Hạo tiếp đến tới con Khúc Hạo là Khúc thừa Mỹ và cuối cùng là Ngô Quyền.
***
Thêm nữa, sự tích Bà Triệu có nhắc đên Lý Nam Đế đánh dẹp Bình Lâm ** (tức Thanh Hoá) được bà Triệu hiển linh hóa phép giúp cho chiến thắng. Nhân đó, Lý Nam Đế phong cho bà là “Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân”.
** Lý Nam Đế vưa đánh quân Lâm Ấp (Chiêm Thành) ở phương Nam, vừa chống quân Tàu ở phương Bắc. Theo Việt điện u linh tập, Lý Bí phong cho Lý Phục Man chức tướng quân từ vùng Đỗ Động (Thanh Oai, Hà Đông) đến Đường Lâm (Phú Thọ, Sơn Tây) để phòng ngừa phương Bắc.
Vùng Đỗ Động (Thanh Oai, Hà Đông) sau này với Thập nhị sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh thuộc thuộc sứ quân Đỗ Cảnh Thạc và Đường Lâm thuộc sứ quân Ngô Nhật Khánh. Ngoài ra đất Thái Bình trước kia là căn cứ địa của sứ quân Trần Lãm tại Bố Hải Khẩu, nơi từng dung nạp Đinh Bộ Lĩnh. Sau Đinh Bộ Lĩnh (968-1009) dẹp lọan 12 sứ quân, xưng vương là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Tiếp đến là nhường ngôi vua cho Lê Hoàn, rồi nhà Lý rời đô về Thăng Long.
Khi Đinh Bộ Lĩnh về ẩn náu với sứ quân Trần Lãm có mang mẹ theo. Khi mẹ mất, mộ mẹ Đinh Bộ Lĩnh được chôn cất tại Bố Hải Khẩu. Đồng thời, tại thôn Trung Sơn, làng Phù Lưu còn có đền Thánh Mẫu còn được gọi là Quốc Mẫu Từ. Tương truyền, đây là nơi thờ Đinh Triều hoàng hậu, tức vợ của Đinh Tiên Hoàng.
𝗟𝘆́ 𝗕𝘆́ 𝗻𝗴𝗼𝗮̣𝗶 𝘁𝗿𝘂𝘆𝗲̣̂𝗻
1 - Ông tên thật là Lý Bí, nhưng dân gian vì tránh hoa thiên lý với bí xanh, bí đỏ nên gọi trại là Lý Bôn.
2 – Khi ông cưỡi ngựa về tập trận ở làng Bồ Đề tại Gia Lâm, dân gian có câu ca dao:
Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn
3 - Từ Việt điện u linh tập, Lý Bí phong cho Lý Phục Man chức tướng quân từ vùng Đỗ Động (Thanh Oai, Hà Đông). Vì vậy có tác giả “dựng sử” như thế này đây:
Theo Tam quốc diễn nghĩa thì Mạnh Hoạch đã tấn công Giao Châu, giết quan đô hộ từ thời Đông Hán, khi cả Tôn Quyền lẫn Lưu Bị còn chưa làm chủ được Giao Châu. Vùng đất của Mạnh Hoạch có thể xác định khá rõ theo thần tích, là vùng giáp với “Tuyên Quang, Hưng Hóa” tới tận “Ái Châu”, hay là vùng tây bắc Việt Nam ngày nay. Mạnh Hoạch là người Mán ở tây bắc Việt Nam.
Chuyện này nghe qua thấy quá kỳ lạ nhưng không phải không có căn cứ.
Theo Tam quốc diễn nghĩa Gia Cát Lượng sau thu phục Mạnh Hoạch, lúc rút quân có dừng lại sông Lư Thủy, làm lễ tế cho các tử sĩ trong cuộc Nam chinh. Trong bài văn tế có câu:
Từ khi giặc xâm lăng cõi Thục
Binh khởi đất Mường
“Đất Mường” ở đây cho thấy Man=Mường, Man vương Mạnh Hoạch là người cầm đầu các tộc người Mường Mán ở tây bắc Việt Nam. Sông Lư Thủy có thể là sông Lô, chảy vào Việt Nam ở Hà Giang ngày nay. Lư và Lô là 2 cách phát âm khác nhau của cùng một chữ, chỉ dòng sông Lửa hay con sông chảy qua đất Đào thời Hồng Bang. Gia Cát Khổng Minh đã từ Vân Nam vượt sông Lô, tiến vào bình Mạnh Hoạch ở vùng rừng núi tây bắc nước ta. Trong thần tích Hương Ngải cũng nói rõ khi Lưu Bị lên ngôi Hán Trung vương đã phong cho 3 vị họ Chu làm Chánh, phó đô hộ. Tức là khi đó “nước Việt ta” thuộc về triều Thục Hán của Lưu Bị. Vùng tây bắc nước ta sau khi Mạnh Hoạch đầu hàng Khổng Minh cũng thuộc về triều Thục. Như vậy hoàn toàn có thể Lưu Bị từng là một vị vua của nước Việt. Lưu Bị được sử Việt chép dưới tên Lý Bí hoặc Lý Phật Tử. Gia Cát Lượng nếu vậy thì không là ai khác mà là … Lý Phục Man, người đã bình định Man Vương Mạnh Hoạch ở vùng phía nam của nước Thục. Chữ “Lý” trong Lý Phục Man chưa chắc đã có nghĩa là họ Lý, mà với nghĩa “ông lớn”.

28/08/2021

𝗧𝗵𝗮́𝗶 𝗕ı̀𝗻𝗵 𝘁𝗵𝗼̂̉ đ𝗶̣𝗮 𝗻𝗵𝗮̂𝗻

Ngoài những thổ địa nhân Thái Bình trong văn học sử có tiểu sử rõ ràng là Thiền sư Không Lộ, Tam nguyên Duyên Hà Lê Quý Đôn, Lễ nghi Học lễ Nguyễn Thị Lộ… Những danh nhân còn lại có những dây mơ rễ má này kia, kia nọ như Phan Bá Vành (giặc Ba Vành), Ðốc Ðen Bùi Như Quan, hay vì sách vở tam sao thất bản nên có những ẩn khuất trong sử thi với Cử nhân Bùi Viện, Kỳ đồng Nguyễn Văn Cẩm…

𝗧𝗵𝗶𝗲̂̀𝗻 𝘀𝘂̛ 𝗗𝘂̛𝗼̛𝗻𝗴 𝗞𝗵𝗼̂𝗻𝗴 𝗟𝗼̣̂ (𝟭𝟬𝟭𝟲-𝟭𝟬𝟵𝟰) Thiền sư Dương Không Lộ người huyện Giao Thủy cùng với Giác Hải, Từ Đạo Hạnh...
28/08/2021

𝗧𝗵𝗶𝗲̂̀𝗻 𝘀𝘂̛ 𝗗𝘂̛𝗼̛𝗻𝗴 𝗞𝗵𝗼̂𝗻𝗴 𝗟𝗼̣̂ (𝟭𝟬𝟭𝟲-𝟭𝟬𝟵𝟰)


Thiền sư Dương Không Lộ người huyện Giao Thủy cùng với Giác Hải, Từ Đạo Hạnh sang Tây Trúc học đạo. Về nước Dương Không Lộ thuộc thế hệ thứ 10 dòng Vô Ngôn tu ở chùa Phả Lại, núi xã Phả Lại, Bắc Ninh. Theo lời truyền chùa có chuông lớn do thiền sư đúc, sau gác chuông vì đất lở nên bị xụp, chuông rơi xuống sông Lục Đầu. Nơi này được gọi là Đọa chung lại, tức “Vũng chuông rơi”.
Sau Không Lộ và Giác Hải tu ở chùa Diên Phúc và đi khắp nơi để dựng chùa, như chùa Giạm ở sườn núi Giạm, Bắc Ninh, riêng Không Lộ chuyên về đúc chuông. Sau khi vua Lý Nhân Tông mất, Từ Đạo Hạnh lên làm vua tức vua Thần Tông nối ngôi nhà Lý và phong thiền sư Không Lộ làm quốc sư.
Thiền sư viên tịch thời vua Lý Anh Tông, các đệ tử đắp tượng thờ (1) ở chùa Thần Quang, nơi trụ trì cũ của thiền sư. Hàng năm cứ vào ngày rằm tháng 9 là ngày sinh của thiền sư, dân Vũ Nghĩa, Vũ Thư tổ chức mở hội có đua thuyền rất linh đình.

Address

Cầu Bo
Thai Binh
06000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when THÁI BÌNH XƯA posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share