28/08/2021
𝕿𝖍𝖆́𝖎 𝕭ı̀𝖓𝖍 𝖘𝖚̛̉ 𝖑𝖚̛𝖔̛̣𝖈 𝖐𝖍𝖆̉𝖔 𝖇𝖎𝖊̂𝖓
Thái Bình sử lược khảo biên
(Ngộ Không Phí Ngọc Hùng, Bính Dậu 2017)
Như qua Đôi lời bộc bạch ở trên vừa giải bày, gần như có thể nói địa danh Thái Bình bị lãng quên trong sử Việt. Lần đầu tiên, địa danh này được nhắc thoáng qua với tên Bố Hải Khẩu qua… sử ký. Bởi nhẽ với chính sử, mỗi địa danh được nhắc đến để diễn sử qua từng triều đại khởi nghiệp từ địa danh của mình. Như: nhà Lý từ Bắc Ninh, nhà Trần từ Nam Định, nhà Lê từ Hải Dương, nhà Nguyễn từ Thuận Hoá.
Vào thời cuối nhà Ngô với Ngô Quyên và đầu thời nhà Đinh với Đinh Bộ Lĩnh có Ngô sứ quân (thời nhà Ngô) hay Thập nhị sứ quân (thời nhà Đinh). Lúc bấy giờ nước ta có 12 sứ quân gây ra nội loạn 20 năm từ năm 945 đến năm 967, trên toàn thể vùng đồng bằng Bắc Việt nhỏ bé, thu hẹp, mỗi sứ quân chiếm một nơi, nhờ vậy ta mới biết địa danh của mỗi nơi chốn Như Ngô Xương Xí chiếm phủ Khoái Châu (Hưng Yên ngày nay), Nguyễn Siêu giữ Tây Phủ Liệt (tức Hà Đông bây giờ), v…v…và Trần Lãm xưng Trần Minh Công giữ Bố Hải Khẩu1
Trần Lãm xưng Trần Minh Công giữ Bố Hải Khẩu, nhưng danh xưng trong sử liệu gọi là “thổ hào”, khi ấy Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư (Ninh Bình) sang nương náu ở với sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu. Trần Lãm thấy người khôi ngô, có ý chí nên đem lòng yên mến và gả con gái cho Đinh Bộ Lĩnh. Trần Lãm mất (sic), Đinh Bộ Lĩnh dẹp được 12 sứ quân. Năm 968 xưng đế là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Năm Canh Ngọ (970) đặt niên hiệu là Thái Bình.
Thái Bình (vùng đất chưa có tên) thuộc Trấn Sơn Nam
Dòng họ Trần gốc ở Bắc Ninh, sau chuyển về Đông Triều. Đến đời Trần Tự Kinh đi khẩn hoang và dừng chân ở hương Tức Mặc (thuộc Nam Đinh bây giờ) với hai người con trai là Trần Tự Hấp và Trần Tự Duy. Tự Hấp sinh ra Trần Lý. Trần Lý sinh con là Trần Thừa. Em là Trần Tự Duy chỉ sinh được Trần Thủ Huy, đến đời Huy chỉ sinh ra Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ từ nhỏ được người bác Trần Lý nuôi dưỡng.
Mỗi mảnh đất có dòng sinh mệnh nổi trôi với dòng họ theo vận nước. Như một cái nghiệp với tên Trần Lý. Sau này họ Trần kết hợp với họ Lý dựng lên Trấn Sơn Nam. Trần Thủ Độ là người sắp đặt cho con trai của Trần Thừa là Trần Cảnh (7 tuổi) kết hôn với Lý Chiêu Hoàng. Hai năm sau Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Thái Tông, bắt đầu triều đại nhà Trần với Trần Thủ Độ là quốc sư vì Trần Cảnh lúc đó mới 10 tuổi. Đời Trần, hương Tức Mặc đổi tên thành Phủ Thiên Trường (hay Hành cung Thiên Trường), được coi như kinh đô thừ 2 sau Thăng Long.
Ghi chú:
1. Làng Kỳ Bá ở ven thị xã Thái Bình ngày nay, vào thế kỷ thứ 10 còn là cửa biển có tên gọi là“ Kỳ bồ hải khẩu”.
Bố Hải Khẩu hay Kỳ Bố được nhắc tên lần thứ hai trong lịch sử vào năm Thiên Thành thứ 3 (1030), vua Lý Thái Tông đi cày ruộng tích điền ở Bố Hải Khẩu vì bấy giờ ở đây còn là cửa biển nên gọi như vậy. (nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư) Năm 1038 và 1065, vua Lý về Bố Hải Khẩu (huyện Vũ Thư ngày nay) lúc này kinh tế phát triển, việc học hành cũng được mở mang. Vì vậy Đặng Nghiêm, người hương Mần Để (nay thuộc Hiệp Hòa, Vũ Thư) đã đỗ khoa thi Minh Kính bác học năm 1185 đời vua Lý Cao Tông, mở đầu cho trên 60 vị đại khoa của Thái Bình trong sử thi. Hay nói một cách khác một trong những ông tiến sĩ đầu tiên trong khoa cử là người Thái Bình.Và vị vua đầu tiên của nước ta cũng…người Thái Bình. (xem Lý Bí tr 15)
Phủ Thiên Trường dưới thời nhà Lê
Lê Thánh Tông chia “tứ xứ” để bảo vệ Thăng Long gồm xứ Bắc (xứ Kinh Bắc), xứ Nam (xứ Sơn Nam), xứ Tây (xứ Sơn Tây), xứ Đông (xứ Hải Đông). Sơn Tây dân gian gọi nôm là xứ Đoài. Vì “đoài” là một quẻ trong bát quái của Kinh dịch thuộc về phía tây, vì vậy mới có xứ Đông, xứ Đoài, thôn đông thôn đoài…
Sau Quang Trung đổi “xứ” thành “trấn”, để có trấn Kinh Bắc (giữ phía bắc), trấn Sơn Nam (giữ phía nam), trấn Sơn Tây (giữ phía tây), trấn Hải Đông (giữ phía đông).
Phụ đính:
Nhà Lê và nhà Nguyễn (trong đó có Minh Mạng 1832) đổi tên trấn và địa danh như sau.
- Trấn Kinh Bắc, Minh Mạng đổi là Bắc Ninh.
- Năm 1469, Lê Thánh Tông đi tuần du thấy mấy ngọn núi ở vùng đất nằm ở phía tây Thăng Long nên vua đặt tên là thừa tuyên Sơn Tây. Minh Mạng đổi là tỉnh Sơn Tây.
- Trấn Hải Đông, Minh Mạng đổi thành trấn Hải Dương.
- Bắc Thành, Minh Mạng đổi thành Hà Nội. (Gia Long đổi Thăng Long là Bắc Thành)
- Hưng Yên (sau này) được chúa Trịnh Cương đặt tên là Phố Hiến. Năm 1831, Minh Mạng đổi tên là Hưng Yên.
- Hà Nam do Thành Thái thứ 2 đặt tên năm 1890. Hà Nam từ chữ Hà của Hà Nội và Nam của Nam Định ghép lại.
Trấn Sơn Nam đất của nhà Trần khởi nghiệp, thời Nguyễn chia làm hai Sơn Nam hạ gồm Nam Định, Thái Bình và Sơn Nam thượng có Hưng Yên, Hà Đông, Hà Nam. Vì Minh Mạng theo nhà Thanh, đổi phủ huyện thành tỉnh, do đó Minh Mạng thứ 2 năm 1822 đổi tên Trấn Sơn Nam hạ là trấn Nam Định. !0 năm, Minh Mạng thứ 12, năm 1832 đổi lại là tỉnh Nam Định (trong đó có Thái Bình).
Thành Thái thứ 2 năm 1890 tách Thái Bình (3) ra khỏi Nam Định thành tỉnh riêng vào ngày 21 tháng 3 năm 1890 và lấy sông Hồng làm ranh giới.
(3) Tên Thái Bình được gọi sau này từ phủ Thái Bình của Nam Định xưa.
Phụ chú:
Cùng Thái Bình cổ sử với tên Thái Bình được gọi sau này từ phủ Thái Bình của Nam Định xưa. Người góp nhặt gom góp được từ tứ phương tám hướng những mảnh chữ qua những mảnh đất rời rạc dưới đây:
- Thế kỷ đầu Công nguyên và 5 thế kỷ sau đó, Thái Bình là phần đất cuối cùng phía nam của huyện Châu Diên, quận Giao Chỉ.
- Thời kỳ tự chủ 938 (thời Ngô Quyền, cùng thời Nam Hán), Thái Bình thuộc châu Đăng. (châu Đăng bao gồm 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình ngày nay).
- Thời Tiền Lê, Lê Đại Hành đổi 10 đạo cả nước thành phủ, lộ, (1) châu. (2)
- Thời Lê Ngoạ Triều (1005-1009) châu Đăng được gọi là “phủ Thái Bình”.
- Thời Lý thế kỷ thứ 2, Thái Bình được gọi là “hương Thái Bình”. Phủ (4) Thái Bình sau là phủ Thái Ninh.
(1) Lộ
Trong thời Bắc thuộc, vào đời Đường (618 – 907), Giao Châu được chia thành giáp (3) lộ, châu, huyện, hương và xã. Trần Anh Tông lại đổi giáp thành hương.
(2) Châu
Châu làng được lập trên đất bồi ở ven sông.
(3) Giáp
Dưới triều Hàm Thông (860 - 874) đời Đường, Cao Biền chia Giao Châu thành 159 hương. Năm 907, Khúc Hạo đổi hương ra giáp.
(4) Vua Lê Thánh Tông chia đổi cả nước thành 13 đạo thừa tuyên. dưới đạo là phủ, huyện, châu (miền núi gọi là châu). Phủ lớn hơn huyện có phủ đường, nha môn. (Tàu gọi lân quốc là huyện. Trước 75, VNCH không gọi huyện mà quận).
Vì vậy tên “phủ Thái Bình” không phải từ nhà Lê, nhà Nguyễn mà có từ thời Tiền Lê.