Tiên Cảnh Bồng Lai

Tiên Cảnh Bồng Lai Bồng Lai Tiên Cảnh

18/12/2019

(Việc tìm người)
Cửa hàng Mini Market Trung Tâm Praha.Cần tìm người đứng kasa bán hàng. 120kc/giờ

28/03/2014
Những ngôi làng cổ dưới đây đều mang một vẻ đẹp cổ kính và lãng mạn. Bởi vậy, từ lâu nó đã là điểm dừng chân của nhiều k...
02/03/2014

Những ngôi làng cổ dưới đây đều mang một vẻ đẹp cổ kính và lãng mạn. Bởi vậy, từ lâu nó đã là điểm dừng chân của nhiều khách tham quan trên thế giới.
Làng Hallstatt, Áo

Thị trấn Hallstatt ở trung tâm nước Áo, được thiên nhiên ưu đãi cho một khung cảnh tuyệt đẹp, nằm bên bờ Hallstatter See, giữa hồ nguyên sơ và ngọn núi kỳ lạ. Lý giải cho sự thịnh vượng hàng ngàn năm nay của Hallstatt, nhiều người cho rằng, đó chính nhờ nghề khai thác quặng muối.

Dạo quanh những ngôi làng cổ đẹp nhất thế giới

Hallstatt tựa lưng vào núi, đa số nhà hàng ở đây đều tận dụng mặt nước để tạo sự khác biệt. Tháp nhà thờ Hallstatt cũng tựa lưng vào núi, hướng ra biển, được vườn cây xanh mát bao quanh. Ở Hallstatt, ôtô không được phép vào thị trấn từ tháng 5 đến tháng 10. Chỉ 30 phút dạo bộ đã có thể đi hết làng, nhưng để cảm nhận được văn hóa, hơi thở và cả lịch sử 7.000 năm của nó nữa, bạn cần nhiều thời gian hơn.
Làng cổ Yvoire, Pháp

Làng cổ Yvoire nằm ở Rhône-Alpes (Pháp), trải dọc ven hồ Geneva được thành lập từ thế kỷ 14. Trải qua hơn 700 năm tuổi nhưng Yvoire vẫn giữ được nét đặc sắc và quyến rũ vốn có.

Dạo quanh những ngôi làng cổ đẹp nhất thế giới

Yvoire nhỏ bé nhưng lại có rất nhiều điểm du lịch. Bạn có thể đi bộ dọc ven hồ Geneva hòa mình vào thiên nhiên đẹp như tranh vẽ, hay khám phá kiến trúc của những ngôi nhà cổ làm bằng đá.
Nếu như muốn tận hưởng tiết trời trong xanh của mùa hè thì khu vườn mê cung Five Senses chính là lựa chọn lý tưởng dành cho bạn. Những khi thời tiết nóng thì bạn có thể giải nhiệt ở các quán kem rải rác khắp Yvoire.

Làng Bibury, Anh

Tọa lạc ở phía Đông trung tâm nước Anh, nằm dọc sông Coln, đây được xem là ngôi làng xinh đẹp nhất nước Anh. Trên thực tế, Fox News cho rằng Bibury là một trong những ngôi làng đẹp nhất thế giới. Ngôi làng này được quản lý để bảo tồn những ngôi nhà vách đá tổ ong vẫn còn tồn tại từ thế kỷ 17.

Dạo quanh những ngôi làng cổ đẹp nhất thế giới

Điểm hấp dẫn ở Bibury, bao gồm Arlington Row, là các kiến trúc xây dựng bằng đá gần sông Coln. Bibury là bối cảnh của nhiều bộ phim bom tấn trong đó có Stardust và Nhật ký tiểu thư Jones. Vào mùa hè đầy nắng, Bibury tràn ngập du khách từ khắp nơi trên thế giới.
Ngôi làng Tellaro, Italy

Dạo quanh những ngôi làng cổ đẹp nhất thế giới

Những con đường ngoằn nghèo lên đến đỉnh núi và một bến cảng nhỏ bé đã góp phần bảo vệ Tellaro khỏi làn sóng du lịch đại trà từng nuốt chửng các thị trấn ven biển khác củaLigurianhưVernazza và Portofino. Ngôi làng hút hồn du khách bởi khung cảnh vô cùng thanh bình với những dãy nhà màu pastel dịu dàng nằm trên các vách đá cheo leo.

Làng Goreme, Thổ Nhĩ Kỳ

Nằm trong vùng đồi núi Cappadocia (Thổ Nhĩ Kỳ) nổi tiếng, thị trấn Goreme là một trong những ngôi làng trong hang đá nổi tiếng nhất thế giới. Nơi đây, du khách có thể chiêm ngưỡng những khu nhà ở, nhà thờ và tranh tường khắc lên đá, ra đời từ thời kỳ Byzantine cổ đại.

Dạo quanh những ngôi làng cổ đẹp nhất thế giới

Ngôi làng nhỏ bé này được gọi bằng rất nhiều tên gọi khác nhau trong lịch sử. Nó được bao bọc bởi những tảng đá đầy thú vị, bạn sẽ tìm thấy những hốc đá cho những cú săn hình tuyệt đẹp.
Làng Alberobello, Ý

Làng Alberobello giống như một ngôi làng bước ra từ truyện cổ tích. Nổi tiếng với những ngôi nhà được xây dựng từ đá vôi, Alberobello, tỉnh Bari vùng Puglia, là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất nước Ý.

Dạo quanh những ngôi làng cổ đẹp nhất thế giới

Các ngôi nhà được xây mà không cần vữa: những tảng đá được chồng lên nhau. Mái nhà hình vòm, hình nón hoặc kìm tự tháp và đôi khi được sơn các biểu tượng pháp thuật hay ngoại giáo.
Làng Fjällbacka, Thụy Điển

Dạo quanh những ngôi làng cổ đẹp nhất thế giới

Làng Fjällbacka, Tanum, Thụy Điển là một trong những điểm đến yêu thích trong mùa hè ở Thụy Điển. Nằm trên một bến cảng ở quần đảo Fjällbacka, làng Fjällbacka mang trong nét đẹp bình dị của vùng đất Scandinavia.
Fjällbacka không nổi tiếng với thiên nhiên tươi đẹp, nơi đây còn thu hút rất nhiều khách du lịch sành ăn với những món ăn hải sản tươi sống.

Làng Wengen, Thụy Sĩ

Dạo quanh những ngôi làng cổ đẹp nhất thế giới

Wengen là ngôi làng cổ nằm tại đất nước Thụy Sĩ, đây là địa điểm lý tưởng để bạn du lịch vào bất cứ thời gian nào trong năm. Đến với Wengen, bạn có thể trượt tuyết hay đi bộ đường dài. Wengen cũng nổi tiếng với dòng sông Aletsch và đỉnh núi Jungfrau thơ mộng. Đến với nơi này, nhất định bạn sẽ có những khoảnh khắc và những kỉ niệm đẹp.

Trang trí và phục hồi lại tác phẩm kiến trúc nổi tiếng của Bernini sẽ được thực hiện trong thời gian trước lễ Phục Sinh ...
01/03/2014

Trang trí và phục hồi lại tác phẩm kiến trúc nổi tiếng của Bernini sẽ được thực hiện trong thời gian trước lễ Phục Sinh và chuẩn bị phong thánh cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Đức Gioan XXIII tại Quảng trường Thánh Phêrô

Toàn bộ Quảng Trường nằm trước nhà thờ Thánh Phê rô tại vatican do Lorenzo Bernini thiết kế.

Gian Lorenzo Bernini (cũng viết là Gianlorenzo hay Giovanni Lorenzo) (sinh ở Napoli ngày 7 tháng 12 năm 1598 - mất ở Roma, ngày 28 tháng 11 năm 1680) là một nghệ sĩ người Ý đã làm việc chủ yếu ở Roma. Ông là nhà điêu khắc hàng đầu của thời đại của mình, được ghi nhận là người tạo ra các phong cách Baroque trong điêu khắc, và cũng là một kiến trúc sư nổi bật. Ngoài ra ông còn vẽ, viết kịch, tác phẩm bằng kim loại và thiết kế phối cảnh. Gian Lorenzo Bernini năm 7 tuổi đã thu hút sự chú ý của Giáo hoàng Paul V bằng bức tranh phát thảo. Lúc lên 16 tuổi, cậu cũng điêu khắc anh hùng thánh Lawrence. Ông đã thiết kế quảng trường nằm trước Nhà thờ Thánh Peter ở Vatican. Gian Lorenzo Bernini đã mất 11 năm để hoàn thành công trình này, dưới sự chỉ đạo của Giáo hoàng Alexander VII với mục đích "tạo điều kiện để có nhiều người nhìn thấy Giáo hoàng nhất". Ông cũng là người thiết kế kiến trú Fontana dei Quattro Fiumi, điêu khắc L'Estasi di Santa Teresa, tượng David.

(Catholic News Agency)

26/02/2014
NGÀY 2-8, MỪNG LỄ THÁNH PHÊRÔ JULIANÔ EYMARD (1811-1869), VỊ TÔNG ĐỒ NHIỆT THÀNH NHẤT CỦA BÍ TÍCH THÁNH THỂ, ĐẤNG SÁNG L...
01/08/2013

NGÀY 2-8, MỪNG LỄ THÁNH PHÊRÔ JULIANÔ EYMARD (1811-1869), VỊ TÔNG ĐỒ NHIỆT THÀNH NHẤT CỦA BÍ TÍCH THÁNH THỂ, ĐẤNG SÁNG LẬP DÒNG LINH MỤC THÁNH THỂ VÀ NỮ TỲ THÁNH THỂ.
Xuất thân trong một gia đình thợ rèn ở nước Pháp, khi mới được 5 tuổi, chị của Eymard một hôm tình cờ nhìn thấy bé trong nhà thờ, đang đứng trên một cầu thang sau bàn thờ chính, tai ghé sát vào Nhà Chầu. Chị mới hỏi bé làm gì thế thì bé trả lời là để nghe thấy tiếng của "Người" cho rõ hơn. Tấm lòng đơn sơ của tuổi ấu thơ đó là khởi đầu cho một cuộc đời hăng say với chân lý Chúa Giêsu hiện diện thực trong hình Bánh Rượu trên Bàn Thờ.
Sau khi thụ phong linh mục năm 23 tuổi, cha Eymard được trao coi sóc liền 2 xứ đạo, cha xin làm cha linh hứng trong Hội dòng Truyền giáo Đức Bà rồi được bầu làm bề trên. Thế nhưng lòng trí cha vẫn hướng về điều gì khác.
Ngài có một tình yêu bừng cháy đối với Chúa Giêsu Thánh Thể, bị lôi cuốn vào sự hiện diện của Chúa trong Bí tích Thánh Thể, thích dùng nhiều giờ hàng ngày để chầu Chúa. Trong ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa, đang khi đi kiệu, ngài đã cảm thấy sự hiện diện của Chúa Giêsu nóng ấm tựa như lò lửa hồng. Mình Thánh Chúa dường như bao chiếm lấy Eymard bằng tình yêu và ánh sáng. Trong tâm hồn, cha thưa lên với Chúa những nhu cầu tinh thần và vật chất của bổn đạo, nài xin lòng thương xót và tình yêu Chúa chạm đến mọi người giống như ngài đã được Thánh Thể Chúa đụng chạm đến vậy.
Nhận thấy sự thờ ơ lãnh đạm của con người đối với Chúa Giêsu Thánh Thể, nhiều dòng tu được thành lập để tôn kính các mầu nhiệm khác nhau của cuộc đời Chúa, nhưng chưa có dòng nào suy tôn mầu nhiệm Chúa ngự thật trong Phép Thánh Thể, mầu nhiệm cao cả nhất trong đạo. Nên năm 1856, cha đã thiết lập một hội dòng cho các linh mục chuyên tôn thờ Thánh Thể. Hai năm sau khi lập dòng nam, cha lập thêm một hội dòng nữ, gọi là dòng Nữ Tỳ Thánh Thể. Cha còn lập thêm các lớp giáo lý, viết nhiều sách về Bí tích Thánh Thể, những sách này được dịch ra nhiều thứ tiếng, đến nay vẫn còn giá trị.
Theo Cha Eymard, nguyên lý căn bản của Dòng Thánh Thể là: “Chúa Giêsu ngự ở đó, vậy tất cả hãy đến với Ngài”. Tinh thần của Dòng là một tình yêu tuyệt đối dành cho Chúa Giêsu ngự trong Bí tích Thánh Thể. Chính tình yêu này cũng được bắt nguồn từ tình yêu của Đấng đã hiến thân và ẩn mình trong Bí tích Cực Trọng này. Mục đích của Dòng là tôn thờ Chúa Giêsu ngự thật trong Bí tích Thánh Thể và cổ vũ lòng tôn sùng Bí tích này khắp nơi. Phương thế của Dòng là thực hiện việc chầu Thánh Thể cách long trọng và công khai.
Những năm cuối đời, cha Eymard đã trải qua đau khổ nhiều, bị chê bai chỉ trích, nhưng ngài vẫn tiếp tục tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể. Ngài đục một lỗ nhỏ ở vách ngăn giữa phòng Cha và Nhà nguyện để Cha có thể chiêm ngắm Nhà Tạm luôn. Gương hy sinh và đời sống chứng tá của ngài đã giúp nhiều người tìm thấy ơn gọi của mình trong hội dòng ngài đã thiết lập.
Ngài qua đời vào ngày lễ thánh Alphongsô 1-8-1868, lúc 57 tuổi.
Lạy Thiên Chúa, Chúa đã làm cho lòng thánh Phê-rô Giu-li-a-nô bừng cháy lên lửa yêu mến lạ lùng đối với mầu nhiệm Mình và Máu Ðức Ki-tô, Con Chúa. Xin cho chúng con lãnh nhận được ơn phúc dồi dào của bàn tiệc thánh Chúa ban như xưa chính thánh nhân đã lãnh nhận.
Chúng ta hãy xin thánh Phêrô Julianô Eymard giúp chúng ta gia tăng lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh nhân giúp chúng ta biết học nơi ngài cách tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể.

Lời Khôn Ngoan – Nhìn Mặt Bắt Hình D**gPosted by: Joseph C. Pham , Tháng Bảy 31, 2013MirrorTrích sách Xuất Hành.Khi ông ...
31/07/2013

Lời Khôn Ngoan – Nhìn Mặt Bắt Hình D**g
Posted by: Joseph C. Pham , Tháng Bảy 31, 2013

Mirror

Trích sách Xuất Hành.

Khi ông Môsê từ trên núi Sinai đi xuống, ông mang hai bia đá chứng từ; và ông không biết do sự đàm đạo với Chúa, mặt ông sáng láng rực rỡ. Nhưng ông Aaron và con cái Israel thấy mặt ông Môsê sáng láng rực rỡ, thì sợ không dám đến gần. Ông Môsê gọi họ, thì cả Aaron lẫn các thủ lãnh hội đường mới quay lại. Sau khi ông nói chuyện với họ, tất cả con cái Israel mới đến gần ông. Ông truyền lại cho họ tất cả những điều ông đã nghe Chúa phán trên núi Sinai. Nói xong, ông lấy khăn che mặt mình. Khi ông vào trước mặt Chúa và đàm đạo với Người, thì ông cất khăn cho đến lúc ông trở ra và bấy giờ ông thuật lại cho con cái Israel những điều Chúa đã truyền dạy ông. Lúc ông Môsê ra đi, họ thấy mặt ông sáng láng rực rỡ; nhưng khi ông nói với họ, ông che mặt ông lại.

* * *

Chúng ta hay nói “nhìn mặt mà bắt hình dong” nhằm có ý nói đến việc phán đoán tâm tính một con người qua diện mạo của họ, và điều này là đúng đắn và hợp lẽ nhằm giúp ta tránh khỏi những sai lầm đáng tiếc trong giao tế hằng ngày. Diện mạo của mỗi người thế nào sẽ nói hết toàn bộ tình trạng nội tâm bên trong của người ấy, đây là điều hoàn toàn chân thực, chứ không phải là chuyện bói toán hay mê tín dị đoan. Quả thế, nhiều kinh nghiệm va chạm thực tế đã cho ta thấy sự thật này, có những người khi vừa gặp ta cảm thấy quí mến và tin tưởng ngay, còn có những người thoạt nhìn qua ta đã muốn bỏ chạy, hoặc ta không muốn tin, hoặc ta không muốn trò chuyện thêm lần thứ hai, không phải bởi diện mạo họ quá xấu xí, nhưng là bởi tâm hồn họ không được trong sáng và đáng tin cậy như nó đã được thể hiện ra bên ngoài.

Không thể có một tâm hồn trong sạch mà lại mang diện mạo của một kẻ cướp, một kẻ lọc lừa, một kẻ mưu mô tính toán, hay một kẻ hiểm độc. Chắc chắn là không bao giờ, và cũng không có chiều ngược lại. Nhiều khi ta bị đánh lừa bởi diện mạo bên ngoài, đó là khi ta chính là người đang gặp sự cố nội tâm, nên không đủ độ sâu sắc để phán đoán chính xác nội tâm người ta đang gặp gỡ, hoặc ta lại để mình bị chi phối bởi những yếu tố hào nhoáng bên ngoài như trang sức, phương tiện, lời nói có cánh, hoặc những thiết đãi quá thịnh soạn và vui vẻ. Thế nên, cần phải luôn luôn tỉnh thức để nhận biết tâm hồn người khác để không rơi vào lầm lạc và những hối tiếc không đáng có về sau.

Một nét mặt thánh thiện là một tâm hồn hướng về Thiên Chúa liên lỉ đêm ngày, tâm hồn này hút lấy ánh sáng thánh thiện từ nơi Ngài và toả chiếu ra bên ngoài diện mạo của mình để mọi người qua đó mà nhận ra Thiên Chúa. Cuộc sống của chúng ta là để phản chiếu vinh quang của Thiên Chúa cho anh chị em xung quanh. Thế nhưng, làm sao ta có thể phản chiếu ánh vinh quang rạng ngời ấy nếu cuộc sống của ta chất chứa quá nhiều toan tính, nhiều lo âu, hoang mang, sợ hãi, tham vọng…? Bởi khi ta dành nhiều thời gian trò chuyện với những thứ thuộc về thế gian, thì chắc chắn ta sẽ phản chiếu vinh quang của thế gian, một vinh quang có vẻ chói sáng, nhưng ánh sáng ấy thật sự không làm cho người ta chói mắt, mà chỉ đơn giản làm cho người ta thấy rõ cõi lòng rất gian manh, rất xảo quyệt, rất tính toán, rất trống rỗng, rất xáo rỗng, rất gian dâm, rất xảo trá, và rất thế gian.

Diện mạo sáng láng rực rỡ của Môsê có được là do ông đàm đạo lâu giờ với Chúa. Cũng thế, ta cần phải dành thật nhiều thời giờ cho Ngài, để đàm đạo, gặp gỡ, và để Ngài tô điểm cho tâm hồn ta thêm đẹp. Diện mạo của Môsê là biểu trưng của một tâm hồn biết cầu nguyện, còn toàn thể dân Israel là biểu trưng cho đại đa số nhân loại ngày hôm nay, một thế giới quay cuồng và say sưa với những ảo vọng về danh, tiền, quyền, và nhục dục xác thịt. Thế nên, nếu ta nhìn sâu vào từng nét mặt ta gặp gỡ, ta sẽ lập tức cảm nghiệm một điều gì đó rất xa vắng, rất trống trải, rất khô cằn, rất dữ tợn… như đang chực chờ điều gì đó cách mỏi mòn và trong tuyệt vọng. Đó là diện mạo của nhân loại hôm nay, một nhân loại đang cố gắng loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của mình, một nhân loại đang cổ suý cho nền văn hoá sự chết và dùng một lần rồi bỏ, một nhân loại đang tôn vinh những sự chóng qua của thế gian. Thế nên, nếu ta nhìn nhận mình là một thành phần của cái nhân loại này, thì ta cũng thấy mình đang bị ảnh hưởng ít nhiều nếu ta không có đời sống cầu nguyện – một đời sống mà những con người đương đại đang xem là một việc mất thời gian cách vô ích, là một việc làm của sự cuồng tín, một việc làm của kẻ rảnh rỗi vô công rồi nghề, một việc làm của kẻ uỷ mị, một việc làm không đem lại hiệu quả kinh tế nào cả…tắt một lời, một việc làm vô bổ của một con người yếu và vô dụng.

André-Marie Ampère – một nhà khoa học vĩ đại người Pháp đã từng nói, “Người ta chỉ trở nên vĩ đại khi họ dành nhiều thời gian tiếp xúc với Đấng Vĩ Đại.” Ông muốn nói đến sự cần thiết của cầu nguyện. Hoạt động cầu nguyện cũng là một việc làm độc nhất vô song chỉ có nơi con người, và đó cũng là điều giúp ta phân biệt giữa người và con. Con thì chỉ sống theo những bản năng tự nhiên của xác thịt, còn người thì còn biết hướng lòng lên cao và vui với những thực tại cao đẹp thuộc về Thiên Chúa mà họ cảm nghiệm được trong giờ cầu nguyện của mình. Thế nên, nếu ta đang phỉ báng, chê bai, hoặc biếng nhác trong đời sống cầu nguyện, thì ta hãy thử dành năm phút can đảm đứng trước một tấm gương, hãy trung thực nhìn ngắm tâm hồn mình qua diện mạo được phản chiếu từ tấm gương, ta sẽ thấy gì? Có lẽ, ta sẽ không dám đứng lâu hơn 1 phút, bởi ta thấy quá rõ tâm hồn ta đang rên xiết mời gọi ta hãy quay trở về để hợp nhất với nó, bởi sự sống của nó đang bị hao mòn bởi hoạt động chỉ toàn thuần chất “con” của ta. Ta sẽ nhận ra mình rất không sáng láng rực rỡ như Môsê, bởi ta đã tự làm cho mình ra lọ lem, ra biến dạng, và ra tối tăm bởi lối sống phi cầu nguyện của mình. Điều này thì chẳng khác nào một bông hoa chưa kịp toả vẻ đẹp và hương thơm của nó thì đã vội tàn. Vậy điều cần thiết duy nhất và gấp gáp nhất lúc này là hãy khiêm tốn nhìn nhận lại tình trạng sống của mình, để từ đó quay trở về với Chúa và ở đó đàm đạo lâu giờ, tâm sự lâu giờ, để Ngài sẽ ra tay chữa lành những vết thương tâm hồn, phục hồi lại tình trạng nguyên tuyền của tâm hồn, và sau đó, ta hãy soi gương lại, ta sẽ thấy mình thật rực rỡ và sáng láng như ta đang phản chiếu trung thực ánh sáng thánh thiện từ Thiên Chúa.

Joseph C. Pham

LỄ THÁNH ANPHONGSÔ, ĐẤNG SÁNG LẬP DÒNG CHÚA CỨU THẾTA BIẾT THẾ GIAN RỒI, VĨNH BIỆT… ( 1723 ).Một thanh niên tuấn tú 16 t...
31/07/2013

LỄ THÁNH ANPHONGSÔ, ĐẤNG SÁNG LẬP DÒNG CHÚA CỨU THẾ

TA BIẾT THẾ GIAN RỒI, VĨNH BIỆT… ( 1723 ).


Một thanh niên tuấn tú 16 tuổi đời. Một luật sư danh tiếng khắp Napoli thời Anphongsô lớn lên. Một trạng sư bách chiến bách thắng. Một người con yêu quí của ông bà Don Giuseppe de Liguori và Donna Catarina Anna Cavalieri. Alphongsô là niềm tự hào, vinh dự và hy vọng của ông bà Don Giuseppe de Liguori va Anna Cavalieri. Anphongsô luôn là ước mơ độc nhất của ông Don Giuseppe de Liguori để con ông được thăng tiến địa vị trong xã hội va làm vinh danh cho gia đình De Liguori.

Cuộc đời vẫn xoay chuyển, vần xoay…nhưng đời con người đâu có dừng tại chỗ, cái không ngờ, luôn là cái ngờ…Giữa lúc đang sống trên tột đỉnh của vinh quang. Anphongsô đã cảm thấy thế nào là cuộc đời, thế nào là sự xấu hổ, thế nào là thất bại…

MỘT CON TRẺ ĐƯỢC LÀM CON CHÚA: Lật giở tiểu sử của thánh Anphongsô do Cha Rey-Mermet viết, ta đọc thấy như sau:” …tại nhà thờ Santa Maria dei Vergini dâng kính Đức Thánh Mẫu, ở Napoli Ý, một sổ bộ rửa tội, trong đó, trang 127 có ghi những dòng chữ sau:

“ Ngày 29/9/1696, thứ bảy, Alfonso Maria Antonio Giovanni Francesco Cosmo Damiano Michel Angelo Gasparo de Liguori, con của vợ chồng Don Giuseppe de Liguori và Donna Catarina Anna Cavalieri, đã được rửa tội do tay cha sở là tôi, Giuseppe del Mastro. Em be được đỡ đầu( trên giếng rửa tội )bởi bà Gratia Porpora; em sinh ngày 27 cùng tháng hồi 13 giờ” ( 13 giờ hồi đó tức 7 giờ sáng bây giờ ).



Và ta thấy bên lề trang sổ bộ rửa tội ấy, một dòng chữ ngoại lịch được chua kèm:” phong Á thánh tháng 9 năm 1816 ,“”phong hiển thánh ngày 26 tháng 5 năm 1839.

Thêm vào đó, một nét bút khác viết : “ Được tuyên dương Tiến sĩ Hội Thánh ngày 23/3/1871. Đến đây, nếu còn chỗ, người ta sẽ viết câu chót này: “ được tuyên bố là quan thầy các cha giải tội và các nhà luân lý này 26/4/1950 “.

Bằng ấy để đáng dấu một ngày sinh đáng ghi: 29/9/1696, và một cái chết đáng nhớ: 01/8/1787. Chết buổi sáng, lúc chuông truyền tin đổ, sau cuộc đời dài 90 năm, 10 tháng và 01 ngày. Phủ tròn gần một thế kỷ mà người ta gọi là “ Thế Kỷ Aùnh Sáng “.

Con người ấy chắc chắn đã làm nên lịch sử như một cỗ xe rực lửa. Con người ấy chắc

chắn đã làm nên lịch sử

MỘT CON NGƯỜI ĐÃ ĐI VÀO THẾ KỶ ÁNH SÁNG, ĐÃ ĐI VÀO LỊCH SỬ CON NGƯỜI: Được sinh ra trong một gia đình thế giá thế Kỷ Aùnh Sáng. Cha mẹ đều là người có thế giá, có uy quyền trong triều đình Napoli. Anphongsô đã đi vào đời với tất cả ước mơ của con người. Cha mẹ nào lại không mong ước cho con cái mình thành đạt, cho con cái mình được trọng vọng. Cha của Anphongsô cứ đinh ninh Anphongsô rồi sẽ nối gót, kế thừa cha trong sự nghiệp binh bị. .Anphongsô lại là một cậu bé hết sức thông minh, hết sức khôn ngoan. Cậu học giỏi, nhưng lại có rất nhiều tài năng: cầm, kỳ, thi, họa. Người ta vẫn không ngoa khi đánh giá Anphongsô là con người tài đức song toàn. Cha mẹ của Anphongsô hết sức kỳ vọng vào cậu. Và ông bà không hãnh diện sao được khi Anphongsô tỏ ra hết sức nổi bật trong mọi lãnh vực. Ông bà Don Giuseppe de Liguori ước mơ cho Anphongsô sẽ có người vợ đẹp, để sinh sản ra những đứa con ngoan, học hành giỏi giang. Ông bà De Liguori ước vọng như thế quả chẳng có gì là quá đáng. Anphongsô đã đi vào đời, đã đi vào lịch sử con người và chính Người đã làm nên lịch sử đời mình khi mới có 16 tuổi đời, đã giật được hai mảnh bằng tiến sĩ luật đạo và đời. Anphongsô đã khoác vào mình bộ áo luật sư dài, rộng thênh thang vì vóc dáng cậu còn quá trẻ. Thanh bảo kiếm đeo bên mình càng làm Anphongsô kiên định trong địa vị của mình. Thanh bảo kiếm ấy chứng tỏ Người thuộc dòng dõi quí tộc, thế giá trong thế Kỷ Aùnh Sáng. Bao nhiêu vụ kiện, bao nhiêu cuộc biện hộ của Anphongsô cho các thân chủ đều mang lại chiến thắng. Giữa lúc, Anphongsô đang hăng say với chiến thắng, giữa lúc Anphongsô tưởng rằng mọi sự cứ như vậy, giữa lúc Anphong tỏ ra bách chiến bách thắng thì…

MỘT VỤ KIỆN BỊ THUA KHIẾN ANPHONGSÔ TỪ BỎ TẤT CẢ: một vụ kiện tầm cỡ. Chưa từng có đến nay. Liên quan đến những hoàng thân quốc thích, những bá tước quận công. Một lãnh địa và những số tiền nợ, lãnh địa Amatrice, rộng bằng cả một tỉnh lẻ. Với những con số 150.000 ducats, 4.000 ducats v.v…

Nữ công tước Victoria di Montefeltro della Rovere, vợ goá của công tước Ferdinando II de Medicis, thuộc dòng dõi một sĩ quan làm công thần của Hoàng đế Charles Quint, bà là bên nguyên. Họ chọn luật sư Maggiochi biện hộ.

Bên bị là công tước Philipo Orsini, ông này còn một món nợ lớn chưa đòi được, song người ta đã làm giấy tơ cầm thế cho ông lãnh địa Amatrice, “ với quyền thụ hưởng, ông và các kẻ thừa kế ông; không ai được phép dính dáng vào, bao lâu ông chưa hết nợ nần”. Luật sư Alfonso biện hộ cho bên bị

Anphongsô còn trẻ, các lập luận như đinh đóng cột. Người lại thông minh, nhanh nhảu và trẻ trung. Ai cũng hoan hô sự lập luận vững chắc của Người. Ai cũng tin tưởng Người sẽ chiến thắng như bao vụ kiện khác. Nhưng con đường của Chúa thật diệu kỳ. Giữa lúc Phaolô đang hăng say bắt bớ các môn đồ, bắt bớ Giáo Hội, bắt bớ các Kitô hữu để nhốt vào tù. Giữa lúc Phaolô tưởng rằng mình chiến thắng thì Chúa đánh ông ngã ngựa. Phaolô thất bại, Phaolô chiến bại rõ ràng.” Lạy Chúa Chúa muốn con làm gì ? “. Đường của Chúa thật diệu kỳ…Tâm Tư của Chúa không ai có thể dò thấu…Anphongsô cũng thế với những lời biện bác khúc triết, với những lập luận sắc bén. Anphongsô có ngờ đâu…Đường của Chúa quá diệu vợi. Một sai lầm, một quên sót nhỏ nhất đã làm cho Anphongsô thua kiện :”…Sắc diện đỏ lên vì tức giận, xấu hổ cho chiếc áo pháp đình khoác trên vai, Alphongsô không còn nghe gì nữa, cả tiếng an ủi được thốt ra bởi vị chủ tịch tối cao Caravita; anh cúi đầu, đi thẳng ra ngoài một mạch.

Anphongsô đã hiểu thế nào là thất bại. Anphongsô thua kiện để Thiên Chúa được thắng kiện. Đó là cái nghịch lý của cuộc đời mà Anphongsô đang trải qua .Anphongsô đã bỏ tất cả. Giờ đây chỉ còn Chúa và các bệnh nhân.

Tiếng vọng của Thiên Chúa luôn thôi túc Anphongsô:” Hãy để thế gian lại đó và hiến mình cho Ta “.

Anphongsô đã tỉnh giấc mơ, đã hoàn hồn sau một cơn đau khổ khủng khiếp và rồi:” Một hôm tại nhà thờ Đức Mẹ chuộc kẻ làm tôi, quỳ dưới chân bức tượng, Anphongsô đã nói:” Vĩnh biệt thế gian và của cải phù vân ! Lạy Chúa, đời con nay thuộc về Chúa Chức tước và của cải gia đình con, con xin dâng làm của lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa con và cho Mẹ Maria…

Anh rút gươm ra, đặt dưới chân Mẹ bồng con:

Hôm đó là ngày 29/8/1723, ngày đứa con quay về với Cha nhân hậu( thánh Anphong

Rey-Mermet, Viễn thụ trang 69-70.

CÁI KỲ DIỆU CỦA CUỘC ĐỜI: Thánh Anphongsô đã như một Phaolô ngã ngựa trên đường Damas và rồi Người đã nhận ra tiếng Chúa gọi. Thanh bảo kiếm đặt dưới chân Đức Mẹ chuộc kẻ làm tôi nói lên sự từ bỏ danh vọng, quyền hành, địa vị, chức tước. Thánh Anphongsô đã nhận ra cái phù phiếm của cuộc đời:” Phù vân. Tất cả đều là phù vân”. Thánh Anphongsô chọn Chúa làm gia nghiệp cho cuộc đời mình. Lời thánh Kinh” Hãy đi, bán hết những gì con có. Đem cho kẻ khó. Và sau đó đến đây theo Thầy”( Lc 18, 22 ; Mt 19, 21 ). Lời của Chúa nói với người thanh niên giầu có hôm nay thúc bách thánh Anphongsô thực sự, Người đã quyết định, một quyết định, một sự chọn lựa làm cho cha mẹ của Người rất đau lòng vì ông bà chưa nhận ra ý Chúa…

Thánh Anphongsô đã chọn và Người đã nhất định dành tất cả cho Chúa…

DÒNG CHÚA CỨU THẾ ĐƯỢC KHAI SINH: Năm 1732, tại thị trấn Scala ( trong vương quốc Napoli ), thánh Anphongsô Maria đệ Liguori, vì động lòng thương cảm những người nghèo khó, nhất là đám nông dân chiếm phần đa số trong miền, đã thành lập Dòng Chúa Cứu Chuộc, để đi theo chính Đấng Cứu Thế rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó.

“ Người đã sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó”. 9 Lc 4, 18 )

Thánh Anphongsô và các tu sĩ của Ngài, sáng chói nhất có thánh Giêrađô Majella, đã nỗ lực đáp ứng cácc nhu cầu thiêng liêng của dân quê nghèo thời đó, bằng các kỳ Đại Phúc thừa sai, các tuần tĩnh tâm, các tuần tái phúc, theo gương thánh Phaolô đã làm( Cv 15, 36 ) ( Hiến Pháp và Quy Luật Dòng Chúa Cứu Thế trang 11 ).

Dòng Chúa Cứu Thế từ ngày thành lập cho đến nay, đã trải qua biết bao thăng trầm, nhưng Chúa vẫn gìn giữ, ủp ấp để rồi Dòng Thánh vẫn luôn vươn lên, tiếp tục rao giảng Nước Thiên Chúa và giới thiệu Chúa Kitô cho mọi người, đặc biệt những người bơ vơ, tất bật....

Trả lại đây cho nhân dân tôiQuyền tự do - Quyền Con NgườiQuyền được nhìn, được nghe, được nóiQuyền được chọn chân lý tự ...
23/07/2013

Trả lại đây cho nhân dân tôi
Quyền tự do - Quyền Con Người
Quyền được nhìn, được nghe, được nói
Quyền được chọn chân lý tự do
Quyền xóa bỏ độc tài độc tôn

Trả lại đây cho anh quân nhân
Quyền được sống đời trai hùng
Quyền tự hào tự tôn nòi giống
Là bảo vệ non nước Việt Nam
Là bảo vệ dân lành Việt Nam

Trả lại đây Quyền phúc quyết của toàn dân
Dân biết điều gì dân cần để tự do mưu cầu hạnh phúc
Trả lại đây, quyền chính đáng của người dân
Dân biết chọn điều gì cho mình, cho thái bình non nước Việt Nam
http://www.youtube.com/watch?v=wEoyTo797iU

Trước tình hình nhiều nhà đấu tranh nhân quyền trẻ đang bị bắt trong nước cùng dịp Chủ tịch CSVN ông Trương Tấn Sang gặp gỡ với TT Hoa Kỳ Obama vào ngày 25/7...

Thánh Bridget ở Thụy Ðiển(1303?-1373)Từ lúc bảy tuổi trở đi, Thánh Bridget đã được thị kiến Ðức Kitô trên thánh giá. Các...
23/07/2013

Thánh Bridget ở Thụy Ðiển
(1303?-1373)

Từ lúc bảy tuổi trở đi, Thánh Bridget đã được thị kiến Ðức Kitô trên thánh giá. Các thị kiến ấy làm nền tảng cho đời sống thánh nữ -- luôn luôn chú trọng đến đức ái hơn là trông đợi các ơn huệ thiêng liêng.

Thánh Bridget là một người trong hoàng gia Thụy Ðiển, được thừa hưởng sự đạo đức của cha mẹ, ngay từ nhỏ ngài đã yêu quý sự Thống Khổ của Ðức Kitô. Khi mười bốn tuổi, vâng lời cha, ngài kết hôn với vua Thụy Ðiển là Magnus II và có tám người con (người con thứ là Thánh Catarina ở Thụy Ðiển). Sau khi nhà vua từ trần ngài sống một cuộc đời rất khổ hạnh.

Trong thời gian hôn nhân, Thánh Bridget cố gắng ảnh hưởng tốt đến vua Magnus. Dù chưa hoàn toàn thay đổi, nhà vua cũng đã ban cho ngài đất đai và cơ sở để thiết lập một đan viện cho nam giới và nữ giới. Tổ chức này sau đó phát triển thành một tu hội, được gọi là Tu Hội Thánh Bridget (hiện vẫn còn).

Vào Năm Thánh 1350, Thánh Bridget bất chấp bệnh dịch đang lan tràn khắp Âu Châu, ngài thực hiện cuộc hành hương đến Rôma. Ngài không bao giờ trở về Thụy Ðiển và những năm ở Rôma thật không sung sướng chút nào vì bị chủ nợ săn đuổi và bị chống đối bởi sự thối nát trong Giáo Hội thời bấy giờ.

Chuyến hành hương sau cùng của ngài đến Ðất Thánh thì bị hỏng vì đắm tầu và cái chết của người con trai. Các biến cố ấy cũng dẫn đến cái chết của ngài vào năm 1373. Ngài là quan thầy của nước Thụy Ðiển.

Vào năm 1999, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên xưng Thánh Bridget là một trong ba thánh nữ làm quan thầy của Âu Châu, cùng với các Thánh Catarina ở Siena và Thánh Edith Stein. Ðức Thánh Cha nhận xét rằng Thánh Bridget đã hoạt động "không ngừng cho sự hiệp nhất giữa các Kitô Hữu" trong những cuộc du hành của ngài trên khắp Âu Châu. Thánh nữ được sự sùng kính của người Tin Lành Lutheran cũng như người Công Giáo.


Lời Bàn

Các thị kiến của Thánh Bridget, thay vì cô lập ngài khỏi các sinh hoạt của thế gian, đã đưa ngài can dự vào nhiều vấn đề đương thời, dù đó là chính sách của hoàng gia hay của giáo triều Avignon. Ngài không thấy sự mâu thuẫn giữa các cảm nghiệm thần bí và các sinh hoạt trần tục, và cuộc đời ngài chứng minh rằng sự thánh thiện có thể thực hiện được giữa nơi chính trường. — với Theotókos Kecharitomene.

SỰ KIỆN ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI GUADALUPENăm 1521, Mesoamerica, Tân Thế Giới, thành phố thủ đô của đế quốc Aztec rơi vào tay ...
22/07/2013

SỰ KIỆN ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI GUADALUPE

Năm 1521, Mesoamerica, Tân Thế Giới, thành phố thủ đô của đế quốc Aztec rơi vào tay của Lực Lượng Tây Ban Nha. Khoảng gần 20 năm sau, 9 triệu dân cư của miền này, là những người đã có những tín ngưỡng dân gian từ nhiều thế kỷ, trở thành những tín hữu Kitô giáo nhiệt thành và đạo đức. Những sự việc gì đã xảy ra với họ trong những thời gian này và đã làm cho họ thành những chứng tích đức tin đặc biệt trong lịch sử Giáo hội? và bởi nguyên do từ đâu đã làm cho họ quay về với Giáo hội cách hăng say và nhiệt thành như thế?
Năm 1531, một "Ðức Bà từ Trời cao" đã hiện ra với một người thổ dân nghèo tại Tepeyac, trên một ngọn đồi nằm ở phía Tây Bắc Thành Phố Mexicô; Ðức Bà tự xưng là "Mẹ của Thiên Chúa Thật", và nhắn nhủ ngài nói với Ðức Giám Mục hãy xây dựng một ngôi Ðền Thánh trên mảnh đất này, và rồi Ðức Bà đã cho in hình của mình lên ngay trên chiếc áo "tilma" vải thô của Juan Diego, chiếc áo này được giữ mãi hơn 20 năm, nhưng Bức Ảnh Ðức Bà trên chiếc áo không một chút hao mòn phai nhạt. Cho đến nay, đã 469 năm sau, vẫn còn giữ nguyên những nét đặc sắc rõ nét như từ ban đầu.
Trong Bức Ảnh, ánh mắt của Ðức Bà vẫn còn phản ảnh và hiển hiện rõ ràng những hình ảnh trước mắt của Ðức Bà từ hồi năm 1531!
Sứ mệnh của Ðức Mẹ về yêu thương và ăn năn sám hối, lời Mẹ hứa với thế giới là sẽ luôn che chở cho nhân loại, cũng như tất cả những câu chuyện hiện ra, đều được ghi lại trong tập tài liệu "Nican Mopohua", một tài liệu từ thế kỷ 16 được viết bằng tiếng thổ ngữ Nahuatl.
Thật vậy, có rất nhiều lý do chính đáng để tin rằng Ðức Mẹ đã hiện ra ở Tepeyac với hình dáng đầy vinh quang của Mẹ, chính đôi tay của Mẹ đã trang hoàng những bông hoa hồng được sắp xếp đẹp đẽ trên chiếc áo "tilma" của Juan Diego, làm cho sự hiện ra này có một vẽ đặc biệt lạ thường.
Một danh sách những phép lạ đã xảy ra, có những phép lạ chữa bệnh, có những phép lạ hoán cải tâm hồn. Hằng năm, có khoảng 10 triệu người đã đến hành hương tại Ðền Thánh Ðức Mẹ Guadalupe, và đã làm cho Thành Phố Mêxicô trở thành nơi hành hương nổi tiếng của thế giới. Và là nơi được du khách viếng thăm nhiều nhất sau Vatican.
Tất cả đã có 24 triều đại Giáo Hoàng chính thức tôn vinh Ðức Mẹ Guadalupe. ÐTC Gioan Phaolô II đã viếng Ðền Thánh Ðức Mẹ Guadalupe 4 lần: trong dịp viếng thăm mục vụ lần thứ nhất của ngài ngoài Roma năm 1979, và rồi vào năm 1990, 1999 và 2002.
Lễ kính Ðức Mẹ Guadalupe được cử hành hằng năm vào ngày 12 tháng 12. Năm 1999, ÐTC Gioan Phaolô II, trong bài giảng Thánh Lễ trọng thể tại Ðền Thánh Ðức Mẹ Guadalupe, vào dịp viếng thăm Ðền Thánh lần thứ ba, đã tuyên bố ngày 12 tháng 12 là ngày lễ kính Ðức Mẹ Guadalupe chính thức theo niên lịch phụng vụ cho toàn cả thế giới.
Trong suốt dịp viếng thăm này, ÐTC Gioan Phaolô II đã phó dâng sự sống nhân loại trong bàn tay yêu thương của Ðức Mẹ, và phó thác cho Ðức Mẹ chở che và săn sóc tất cả những trẻ em vô tội, và đặc biệt là những hiểm nguy của những trẻ em không được sinh ra.

(Rev. Joseph Trương Văn Phúc
chuyển dịch từ tài liệu về Ðức Mẹ Guadalupe bằng tiếng Anh,
30/07/2002)

Nguồn: catholic.org

Address

Nam Tiên Vũ Tiến Vũ Thư
Thái Bình
036

Telephone

19001508

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tiên Cảnh Bồng Lai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category