02/02/2025
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH MỌI THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
* Hội nghị hợp nhất 03 tổ chức cộng sản và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ ngày 06/01 đến ngày 07/02/1930, tại bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất 03 tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng tại Hà Nội; An Nam Cộng sản Đảng ở Nam kỳ; Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn ở Trung Kỳ) đã nhất trí hợp hất 03 tổ chức cộng sản thành lập một đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết nghị lấy ngày 03/02 dương lịch mỗi năm làm Ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng.
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX.
* Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
- Sau khi ra đời, chỉ trong vòng 15 năm (1930 - 1945), Đảng đã lãnh đạo Nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền, kết thúc thắng lợi bằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân Pháp gần một trăm năm và lật đổ chế độ phong kiến đè nặng lên Nhân dân ta mấy mươi thế kỷ, mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đưa Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”
- 24 năm sau khi thành lập (1954) tuổi, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược tại Việt Nam.
- Đến năm 1975, sau 45 năm thành lập, Đảng đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh đuổi, buộc đế quốc Mỹ xâm lược sừng xỏ trên thế giới rút khỏi Việt Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975).
- Sau Ngày giải phóng miền Nam (30/4/1975), đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế - xã hội vừa chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cùng với quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng; đồng thời tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, việc duy trì lâu dài mô hình, cơ chế kinh tế tập trung bao cấp đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm, có lúc, có nơi đã mắc sai lầm khuyết điểm chủ quan, duy ý chí.
Trên cơ sở đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, nước ta đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, lợi ích quốc gia dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế nước ta đã tăng 96 lần so với năm 1986, lọt top 40 nền kinh tế hàng đầu, quy mô thương mại top 20 quốc gia trên thế giới, mắt xích quan trọng trong 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) gắn kết 60 nền kinh tế chủ chốt ở khu vực; thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia vùng lãnh thổ trên thế giới, có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 30 nước, trong đó có toàn bộ các thành viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nền kinh tế nhóm G7. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hoàn thành về đích sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học – công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng nâng cao... Những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử trong gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo, là kết quả của một quá trình nỗ lực, phấn đấu liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của Đảng, phù hợp với thời đại và thực tiễn Việt Nam, khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trên quê hương Tây Ninh, sau Ngày giải phóng (30/4/1975), Đảng bộ, quân và dân Tây Ninh bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới, nhất là từ sau Đại hội VI, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trãi qua 11 kỳ Đại hội, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh các nhiệm kỳ không ngừng đổi mới tư duy, phương pháp lãnh đạo khoa học, sâu sát cơ sở, tập trung trí tuệ, tìm quyết sách lãnh đạo, khai thác, tận dụng tiềm năng - lợi thế, tạo bước đột phá vươn lên, đưa Tây Ninh không ngừng phát triển. Riêng trong năm 2024, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Tây Ninh tiếp tục đoàn kết thống nhất, nỗ lực, triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, duy trì tăng trưởng tích cực: Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt hơn 13.153 tỷ đồng, tăng hơn 2.000 tỷ so với dự toán. Mức tăng trưởng của tỉnh tăng cao hơn bình quân chung cả nước (GRDP tăng trên 8,45%), xếp thứ 19/63 tỉnh, thành phố. Công tác quốc phòng, an ninh được các cấp uỷ đảng, chính quyền tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả, gắn với xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, bản lĩnh chính trị, tư duy và năng lực lãnh đạo được nâng lên.
* Không thể xuyên tạc, phủ nhận thành tựu cách mạng của Đảng và dân tộc
Với những thành tựu to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định, với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Tuy nhiên, một số thành phần bất mãn chính trị, chống đối chế độ, thù địch, phản động vẫn luôn tìm cách xuyên tạc, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng của Đảng và của dân tộc với các luận điểm sai trái như: Đảng Cộng sản Việt Nam không có gì tài tình trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đó chỉ là một sự ăn may; Không có cái gọi là cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược, thực chất chiến thắng 30/4 đó là ngày quốc hận, là cuộc nội chiến; Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng độc tài, thiếu dân chủ…
Đó là lập luận mù quáng của những kẻ cực đoan, thù địch chế độ, bất chấp sự thật lịch sử. Bởi nhìn vào sự thật lịch sử, từ cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ tiền bối, lão thành cách mạng, từ việc tìm ra còn đường cứu nước đến việc tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ cách mạng, xây dựng lực lượng, tranh thủ sự hỗ trợ của một số quốc gia và Nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới, từ việc phán đoán, nắm bắt thời cơ đến việc tổ chức lực lượng đấu tranh giành chính quyền là bằng chứng đanh thép nhất chứng minh sự tài tình trong lãnh đạo của Đảng để đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh to lớn của cả dân tộc, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; cũng như lãnh đạo Nhân dân làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Và đặc biệt là đoàn kết, tập hợp Nhân dân cả nước làm nên chiến thắng 30/4/1975, đánh đuổi đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược, can thiệp của Mỹ tại miền Nam, hoàn toàn thống nhất đất nước.
Không thế nói cuộc chiến tranh tự vệ chống đế quốc Mỹ xâm lược tại miền Nam Việt Nam là cuộc nội chiến, bởi không thể gọi là cuộc “nội chiến” khi mà trong 21 năm, Mỹ đã nhiều lần áp dụng các chiến lược chiến tranh: từ “Chiến tranh đơn phương”, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (từ năm1961 đến giữa năm 1965), chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và cuộc phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ nhất ở miền Bắc (từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968), đến chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ hai ở miền Bắc (từ năm 1969 đến năm 1973). Mỹ đã huy động 6,6 triệu lượt lính Mỹ và 72.600 quân chư hầu tham chiến ở Việt Nam. Trong 21 năm đó, số bom, đạn quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam khoảng 15,35 triệu tấn, trong đó riêng số bom mà máy bay Mỹ ném xuống Việt Nam là 7,85 triệu tấn, tương đương sức công phá của 250 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hiroshima (Nhật Bản), bình quân mỗi người Việt Nam thời đó phải hứng chịu khoảng 250 kg bom ném xuống từ máy bay Mỹ. Tổng chi phí chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam là 676 tỉ USD. Ngay cả chính học giả Mỹ khi nói đến chiến tranh Việt Nam và Mỹ, tác giả cuốn sách Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ (xuất bản năm 1991 tại Mỹ) khẳng định: “Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam”.
Từ lịch sử thành lập Đảng cũng thấy rõ rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam là sự hợp nhất của nhiều tổ chức cộng sản, đó là từ yêu cầu thực tiễn khách qua của cách mạng, cần có 01 tổ chức đảng thống nhất, đoàn kết, tập hợp, huy động sức mạnh thống nhất lực lượng toàn dân để đấu tranh giải phóng dân tộc, chỉ có đoàn kết mới tạo được sức mạnh, còn chia rẽ sẽ tạo nên sự phân tán, suy yếu. Đồng thời, qua Văn kiện 13 kỳ Đại hội Đảng và Hiến pháp điều chỉnh, bổ sung, qua các giai đoạn tuy có khác nhau, nhưng về cơ bản, xuyên suốt vẫn đảm bảo nhất quán nguyên tắc “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (Điều 4 Hiến pháp năm 2013).
Mỗi quốc gia có phong hoá, đặc điểm, chế độ chính trị riêng, không thể lấy hình mẫu của một quốc gia này để khiên cưỡng áp đặt vào một quốc gia khác. Từ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 nêu trên để thấy rằng, Đảng là đại diện cho mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội, là đại diện cho cả dân tộc, do đó không nhất thiết và không cần thiết phân tách hoặc có 01 tổ chức chính trị khác làm đối trọng, chia sẻ quyền lực chính trị với Đảng, nhất là khi quyền lực chính trị ấy đã được thiết lập bằng niềm tin, khát vọng, sự hi sinh xương máu của biết bao thế hệ dân tộc Việt Nam vào Đảng Cộng sản Việt Nam để xây dựng, đưa đất nước tiến lên xã hội XHCN.
Trần An (fb: TUYÊN GIÁO TÂY NINH)