28/05/2026
NHẬN DIỆN NHỮNG NGỘ NHẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Hiện nay, một bộ phận không nhỏ vẫn giữ thói quen: hễ nhắc đến chủ nghĩa xã hội là lập tức liên tưởng đến mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây. Từ đó, họ vội vã quy kết rằng con đường Việt Nam đang đi tất yếu sẽ rơi vào trì trệ, khép kín và cào bằng. Lối tư duy này thực chất là việc lấy một mô hình lịch sử đã khép lại để phủ nhận một con đường phát triển hoàn toàn khác biệt về điều kiện, phương thức và mục tiêu.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh định hướng phát triển nhanh, bền vững dựa vào sức mạnh toàn dân, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hoàn thiện đồng bộ thể chế. Rõ ràng, một tầm nhìn như vậy không thể bị gắn ghép khiên cưỡng thành sự quay lùi về quá khứ.
Ngay từ Cương lĩnh năm 2011 và Hiến pháp năm 2013, bản chất mô hình xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng đã được xác định rất rõ: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; nơi quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ. Tuyệt đối không phải bản sao của những khuôn mẫu đã thất bại trong lịch sử.
Một trong những hạn chế nhận thức lớn nhất hiện nay là quan niệm: đã làm chủ nghĩa xã hội thì phải triệt tiêu kinh tế thị trường. Đây là cách nhìn nhận qua lăng kính cũ kỹ, theo kiểu “hoặc thị trường, hoặc chủ nghĩa xã hội”.
Đường lối của Đảng ta khẳng định nhất quán việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta coi thị trường là công cụ quan trọng để phân bổ nguồn lực, giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy sáng tạo; nhưng tuyệt đối không thả nổi để thị trường quyết định mọi giá trị. Kinh tế phải song hành với tiến bộ, công bằng xã hội, hướng tới con người và lợi ích quốc gia. Nói cách khác, Việt Nam không phủ nhận thị trường mà đặt thị trường trong quỹ đạo phát triển có kiểm soát, có định hướng và thấm đẫm trách nhiệm xã hội.
Bên cạnh đó, một định kiến dai dẳng từ thời bao cấp vẫn còn tồn tại, đó là việc đánh đồng chủ nghĩa xã hội với tư duy cào bằng, triệt tiêu động lực cá nhân. Cần hiểu đúng rằng, công bằng không có nghĩa là chia đều sự nghèo khó. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là tạo cơ hội phát triển cho số đông; mở đường cho những người có tài năng, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng; đồng thời tạo dựng hệ thống an sinh để không ai bị bỏ lại phía sau. Việc tôn trọng người tài, khuyến khích doanh nhân, trí thức làm giàu hợp pháp chính là điều kiện quan trọng để đất nước hưng thịnh và tạo nền tảng cho sự phân phối xã hội công bằng hơn.
Một số ý kiến lại cố tình đặt chủ nghĩa xã hội ở thế đối lập với dân chủ và pháp quyền. Tuy nhiên, nền tảng hiến định của nước ta đã khẳng định rõ bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Pháp quyền không phải khái niệm ngoại lai đứng ngoài con đường phát triển của Việt Nam, mà chính là một trong những nền tảng cốt lõi của chế độ. Vì vậy, việc đồng nhất chủ nghĩa xã hội với sự vắng bóng của pháp luật là sự xuyên tạc trắng trợn tinh thần của Hiến pháp năm 2013.
Có người lại cho rằng kiên định con đường xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với tự cô lập, khép kín. Nhưng thực tiễn phát triển của Việt Nam, đặc biệt là những yêu cầu mới tại Đại hội XIV về khoa học công nghệ, chuyển đổi số và phát triển các mô hình kinh tế mới, đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu này.
Việt Nam không từ chối hội nhập. Ngược lại, chúng ta chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng để phát triển đất nước, đồng thời giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng phát triển vì con người. Đáng chú ý, nhiều người có thói quen hễ thấy thực tiễn xuất hiện điểm nghẽn hay yếu kém là lập tức quy kết cho bản chất của chế độ. Đây là cách suy diễn phiến diện và thiếu khách quan.
Bất kỳ quá trình phát triển nào cũng tồn tại va vấp, đặc biệt trong giai đoạn quá độ phức tạp và chưa có tiền lệ. Điều quan trọng là Đảng ta không né tránh khuyết điểm. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao năng lực quản trị quốc gia đang được triển khai quyết liệt nhằm củng cố niềm tin của Nhân dân. Lấy những khó khăn mang tính thời điểm để phủ nhận toàn bộ lý tưởng và con đường phát triển của dân tộc là lối lập luận thiếu trung thực.
Không khó để nhận ra, nhiều ngộ nhận hiện nay đang lặp lại các diễn ngôn chính trị cực đoan từ phương Tây. Họ gom nhiều mô hình khác nhau vào cùng một khuôn rồi phán xét theo công thức giản đơn: hoặc Nhà nước kiểm soát toàn bộ và triệt tiêu tự do, hoặc tạo ra tâm lý ỷ lại và phá hỏng động lực phát triển. Kiểu lập luận này có thể tạo hiệu ứng tâm lý mạnh, nhưng lại hời hợt về mặt học thuật. Sự đánh tráo khái niệm diễn ra khá tinh vi: hễ nói đến an sinh thì bị quy chụp là “cho không”; hễ nhắc đến công bằng thì bị gắn mác “cào bằng”; còn mọi sự điều tiết của Nhà nước đều bị quy thành “kiểm soát độc đoán”.
Nếu áp đặt lăng kính phiến diện đó vào Việt Nam, người ta sẽ không thể lý giải được vì sao một đất nước kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa lại có thể hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển kinh tế thị trường sôi động và thúc đẩy đổi mới sáng tạo mạnh mẽ như hiện nay.
Suy cho cùng, mọi chủ trương, đường lối dù đúng đắn đến đâu cũng phải được kiểm chứng bằng giá trị thực tiễn mang lại cho Nhân dân và đất nước. Một chính sách chỉ thực sự có ý nghĩa khi đời sống người dân được nâng cao, xã hội an toàn hơn và cơ hội phát triển mở ra cho mọi người.
Thành quả không nằm ở lời tuyên bố, mà nằm ở cảm nhận thực tế của người dân: họ có được bảo vệ hay không, có cơ hội học tập, làm giàu và sống tử tế hay không. Đây cũng chính là tinh thần được nhấn mạnh trong việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIV: hiệu quả phát triển và sự hài lòng của Nhân dân là thước đo cao nhất.
Trong bối cảnh thế giới đầy biến động hiện nay, việc đánh giá về chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thực tiễn toàn cầu. Ngay tại nhiều nước tư bản phát triển, các cuộc khủng hoảng xã hội, bất bình đẳng gia tăng, sự thao túng của các nhóm lợi ích và cảm giác bị bỏ rơi của tầng lớp yếu thế vẫn đang diễn ra.
Những thực tế đó cho thấy nhân loại vẫn luôn khát vọng về một mô hình phát triển công bằng hơn, nhân văn hơn. Và chính trong bối cảnh ấy, những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội như chăm lo cho số đông, bảo vệ người yếu thế càng thể hiện rõ ý nghĩa thời sự.
Các thế lực thù địch hiểu rõ điều này nên cố tình nhập nhằng giữa sai lầm của quá khứ với con đường hiện tại; cắt xén hiện tượng để phủ nhận bản chất. Nếu không giữ được tỉnh táo và bản lĩnh nhận thức, người tiếp nhận rất dễ rơi vào bẫy của những lập luận nghe có vẻ sắc sảo nhưng thực chất mang nặng tính kích động, chống phá.
Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hôm nay không chỉ dừng lại ở việc phản bác cái sai, mà còn phải lan tỏa mạnh mẽ cái đúng; giúp mọi tầng lớp Nhân dân hiểu rõ rằng Việt Nam không lặp lại mô hình cũ, mà đang kiên định trên một con đường phát triển mang bản sắc riêng, đồng thời không ngừng đổi mới và hội nhập.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước hết là bảo vệ sự đúng đắn trong nhận thức, từ đó củng cố sự đồng lòng, chung sức đưa đất nước phát triển, vững bước tiến lên, hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.