Văn minh Đế quốc Hồi giáo A Rập

Văn minh Đế quốc Hồi giáo A Rập Các nền văn minh vùng Trung Đông, trải dài từ Ba Tư đến Ấn Độ, từ nghệ thuật, âm nhạc, mỹ thuật, điêu

KHALID IBN AL-WALID - THIÊN TÀI CHỈ HUY KỴ BINH BẬC NHẤT LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜISinh ra và lớn lên cùng nhà tiên tri Mohammad...
31/10/2020

KHALID IBN AL-WALID - THIÊN TÀI CHỈ HUY KỴ BINH BẬC NHẤT LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI

Sinh ra và lớn lên cùng nhà tiên tri Mohammad, (cháu gọi Mohammad bằng cậu) ông trở thành bạn chiến đấu của ngài và cầm quân đánh trăm trận trăm thắng.

Đặc biệt trong trận Mu'tah, trận chiến đầu tiên giữa người La Mã và người Hồi giáo. Khalid ibn Al-Walid đã chém gãy 9 thanh kiếm để giành chiến thắng trong trận chiến ác liệt này. Danh hiệu "Lưỡi gươm của Allah" theo ông từ đây.

Trong đời binh nghiệp của mình, ông được cho là đã giao chiến hơn trăm trận lớn nhỏ, kể cả đấu tay đôi và toàn thắng. Đánh tan tác 2 Đế quốc Byzantine (Đông La Mã), và Sassanid (Ba Tư) cùng các chư hầu, đồng minh của họ. Là một vị tướng bất khả chiến bại, bách chiến bách thắng, ông được xem là một trong những danh tướng vĩ đại nhất lịch sử nhân loại.

Sau chiến thắng Ajnadayn (634), Khalid Ibn Walid, đã thành lập một lực lượng kỵ binh tinh nhuệ trực tiếp được ông giao nhiệm vụ đặc biệt, sử gia hồi giáo gọi là "Đội quân đánh tỉa" (Army of sharpeners). Họ được trang bị trường thương và kiếm. Dưới sự dẫn dắt tận tình của ông, kỵ binh Rashidun trở thành lực lượng kỵ binh hạng nhẹ tinh nhuệ nhất vùng Trung Đông.

Vào khoảng 1400 năm trước, về mặt lý thuyết, kỵ binh nhẹ khi mới vào trận chỉ là lực lượng dự bị, và chỉ được lệnh tấn công kẻ thù một khi chúng bị suy yếu bởi các cuộc tấn công liên tục của bộ binh. Tuy nhiên Khalid al-Walid không hề máy móc như vậy. Ông thường hay cử 1 cánh kỵ binh giả thua dụ kỵ binh địch truy đuổi mà tiện đó chia cắt kỵ binh với bộ binh địch. Trước khi lao vào càn quét, quân của ông sẽ bắn tên ra khiến hàng ngũ kẻ thù rối loạn, cung thủ bị tiêu diệt còn các khối bộ binh nặng của kẻ thù thì chia nhau ra phòng thủ. Kỵ binh sau đó sẽ tiến sang 2 bên sườn hoặc phối hợp cùng bộ binh bao vây quân địch, sau đó họ sẽ đánh tạt sườn hoặc tấn công vỗ mặt kẻ thù bằng đội hình mũi nhọn (wedge-shaped formation) tiêu diệt gọn chủ lực kẻ thù và chuẩn bị để diệt nốt các cánh kỵ binh địch còn lại đang mải mê truy bắt, mặc kệ đại quân sống chết ra sao. (hoặc tiến hành ngược lại)

Về mặt chiến lược, ông chia quân ra rất nhiều mặt trận khác nhau với số quân khác nhau, kẻ thù không thể đoán được đâu là đòn nghi binh, đâu là chủ lực của Khalid.

Độ cơ động được tận dụng đến mức tối đa khi thậm chí dùng cả những đàn lạc đà uống no nước để chở bộ binh vượt sa mạc đến các chiến trường quan trọng kịp thời rồi cho giết hết lạc đà để uống nước trong dạ dày chúng. Trong khi kẻ thù của mình phải đợi các đoàn xe hậu cần tiếp tế, các đạo kỵ binh A Rập thống trị các mặt trận, đầu độc các nguồn nước, tự do đi lại như bay để cướp bóc, giết hại dân chúng, binh lính đối phương. Nhiều binh lính kẻ thù tiến hành truy đuổi đều bị kỵ binh nhẹ Rashidun đón đánh, chia cắt, phục kích tiêu diệt. Có những cánh quân phải cởi giáp ra truy đuổi đã phải chịu cảnh chết đói chết khát giữa sa mạc.

Các chiến thuật sử dụng kỵ binh nhẹ của ông rất giống với người Mông Cổ sau này và khả năng ứng biến chiến lược ngang với các tướng lĩnh thế chiến thứ 2 hàng ngàn năm sau đó.

Với các lực lượng tấn công cơ động này, người Hồi giáo dễ dàng thống nhất toàn bộ bán đảo Ả Rập dưới quyền 1 vương triều Hồi Giáo (Caliphate). Sau khi Mohammad chết, ông đem quân tiến lên phía Bắc và tấn công tiêu diệt chư hầu Al-Hirah của Ba Tư, đồng thời đón đánh quân tiếp viện. Quân đội Sassanid thua tan tác để lại vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) màu mỡ, trù phú cho người A Rập. Thừa thắng, ông đánh sang phía tây, hủy diệt quân đội Đông La Mã đông gấp 4 lần trong trận Yarmouk rồi chiếm đóng vùng Syria và tiêu diệt chư hầu Ghassanid (Bắc A Rập) của Đông La Mã.

Nhờ có tài năng quân sự của ông mà các đô thành, vùng đất của 2 đế chế hùng mạnh Ba Tư và Đông La Mã lần lượt sụp đổ, buộc nhà Đường của Lý Thế Dân ở vùng viễn đông phải mở cửa đón người Hồi Giáo vào truyền đạo. Thế kỷ thứ 7 scn, Đế Quốc A Rập trở thành đế chế lớn mạnh nhất thế giới, mở đầu cho thế thống trị của Hồi Giáo trong 1000 năm tiếp đến.

[ĐẾ QUỐC OTTOMAN VÀ CON ĐƯỜNG GIAO THƯƠNG TẠI ẤN ĐỘ DƯƠNG]Vào thế kỷ 16, Đế quốc Bồ Đào Nha thất bại trong việc cắt đứt ...
19/08/2020

[ĐẾ QUỐC OTTOMAN VÀ CON ĐƯỜNG GIAO THƯƠNG TẠI ẤN ĐỘ DƯƠNG]

Vào thế kỷ 16, Đế quốc Bồ Đào Nha thất bại trong việc cắt đứt đường giao thương giữa Ấn Độ và Indonesia với Cận Đông qua Vịnh Ba Tư và Biển Đỏ. Trong những năm cuối thế kỷ 16, họ còn buộc phải cho phép việc xuất khẩu gia vị sang Viễn Đông ở Hormuz.

Năm 1509, quân Bồ Đào Nha tiêu diệt một hạm đội của Mamlûk ở Chaul khiến lãnh đạo Mamlûk phải nhờ tới sự giúp đỡ từ Sultan của Ottoman, Sultan lập tức hạ lệnh đem vật liệu và kỹ sư đến Suez để đóng tàu thuyền. Năm 1516 đến 1517, quân Ottoman chinh phục Syria, Ai Cập và Hejaz; cũng vào khoảng thời gian đó thì Bồ Đào Nha bắt đầu tiến vào Biển Đỏ, đe doạ chiếm Mecca và Medina. Năm 1517, khi còn đang ở Cairo, Selîm I ra lệnh hoàn thành hạm đội tại Suez để đẩy quân Bồ Đào Nha khỏi Ấn Độ Dương, và vào năm 1517 và 1525, Đô đốc Ottoman là Selmân đã đẩy lùi cuộc tấn công của Bồ Đào Nha và Jidda, từ đó tiến vào Yemen và Aden.

Quân Bồ Đào Nha thường tìm cách tránh giao tranh trực diện với Ottoman, và thấy được điều này nên Sultan hạ lệnh chuyển từ thế phòng thủ sang tấn công. Năm 1538, họ đưa một hạm đội gồm 30 tàu chiến đến đánh đuổi Bồ Đào Nha khỏi Diu ở miền bắc Ấn Độ, nhưng chiến dịch thất bại, phần lớn do Gujaratî Sultan, lãnh đạo Hồi giáo ở Ấn Độ, không chịu hợp tác, sợ rằng Ottoman đem quân đến không phải để hỗ trợ ông mà là để kiểm soát khu vực. Tuy nhiên, cùng lúc đó, quân Ottoman thành công kiểm soát được Yemen và Aden.

Đế quốc Ottoman tiếp tục nhập khẩu gia vị từ Ấn Độ và Indonesia trong cả thế kỷ. Mặc dù thường thiếu hụt nguồn hàng, họ đồng thời cũng hay trao đổi, buôn bán các loại hàng hoá Ấn Độ với người châu Âu ở các chợ Aleppo, Cairo, Istanb... à nhầm, Kostantiniyye và Bursa. Năm 1554, chỉ tính riêng Venice đã mua hơn 6000 tạ gia vị từ Alexandria, và mức mua 12000 tạ gia vị hàng năm của Venice từ năm 1560 đến năm 1664 là bằng với mức mua trước khi Vasco de Gama tìm được đường biển đến Ấn Độ. Kết quả là thị trường Lisbon phải trải qua một giai đoạn khủng hoảng, và vào năm 1564, một gián điệp của Bồ Đào Nha ở Ai Cập đã báo với chính phủ rằng hơn 30000 tạ gia vị đã được vận chuyển đến Alexandria. Cứ mỗi năm hơn 20 tàu thuyền chất đầy gia vị lại cập bến tại Jidda, cảng biển ở Mecca, và những người hành hương trở về từ Mecca lại đem gia vị, thuốc nhuộm và quần áo từ Ấn Độ đi khắp đế quốc.

Năm 1562, số tiền thuế hải quan của Damascus lên các gia vị mà những người hành hương mang theo đã lên đến 110000 đồng ducat. Các thương gia châu Âu cũng mua một số gia vị từ Damascus, xuất khẩu qua Beirut, phần lớn khác được vận chuyển tới Bursa và Kostantiniyye sau đó được đưa tới Balkan ở phía bắc. Các quy định xuất khẩu ở Bursa năm 1545 cho thấy các thương gia châu Âu cũng mua bán tại đó, và đến năm 1582, các biên lai hải quan của gia vị ở Bursa đã lên tới 7250 ducat, gấp 4 lần năm 1487. Các tài liệu cho thấy đến tận năm 1590, người Venice đã mang và quần áo đến Kostantiniyye để mua gia vị. Năm 1547, một thương gia Hungary đã mang kersey đến Bursa và mua 110 kantâr gia vị, nhưng đến giữa thế kỷ 16, Hungary bắt đầu nhập khẩu gia vị từ các nước phương tây.

Gia vị tiếp tục được nhập khẩu từ Ấn Độ suốt thế kỷ 16 từ cảng biển Basra cũng như Biển Đỏ. J. Eldred thăm Basra năm 1583 viết “Từ cảng Balsara (Basra) này, hàng tháng có vô số các tàu thuyền đến từ Ormuz cập bến, chất đầy đủ loại hàng hoá từ Ấn Độ như gia vị, thuốc men, quần áo indico và cadico.

Đường biển từ cảng Syria và Ai Cập tới Antalya, Alanya và Kostantiniyye cũng không kém phần quan trọng như đường bộ. Malipiero viết vào những năm 1470, rằng Antalya vẫn có thể được coi là trung tâm buôn bán gia vị tại Tiểu Á. Dựa theo sổ sách hải quan của Antalya vào 1559 thì mỗi năm có hơn 50 tàu buôn bán ghé tại đây, mỗi tàu gồm từ 20 đến 30 thương gia, phần lớn là người Hồi giáo. Theo đó, hàng hoá chính xuất khẩu từ Tiểu Á sang Ai Cập và Syria là gỗ, sắt, vải lụa Bursa, vải lông thú Ankara, bông dệt, thảm, hoa quả sấy khô, lông thú, xáp, và nhựa thông. Tàu từ Syria và Ai Cập mang theo gia vị và quần áo của Ấn Độ, vải sợi, gạo và đường của Ai Cập và xà phòng từ Syria.

CÁI KẾT CỦA  NADER SHAH NHÀ CHINH PHẠT VĨ ĐẠI CUỐI CÙNG Ở CHÂU Á    Thành Cát Tư Hãn có lẽ là một trong số ít các nhà ch...
17/08/2020

CÁI KẾT CỦA NADER SHAH NHÀ CHINH PHẠT VĨ ĐẠI CUỐI CÙNG Ở CHÂU Á

Thành Cát Tư Hãn có lẽ là một trong số ít các nhà chinh phục vĩ đại có cái kết cuộc đời tương đối dễ chịu. Julius Ceasar, Alexandre Đại Đế, Napoleon Bonaparte hay nhiều cái tên khác không may mắn như vậy. Trong số những Hoàng đế đứng đầu các đế chế rộng lớn, Nader Shah của Ba Tư có lẽ là cái tên nhận kết cục bi thảm nhất. Nader Shah đã chết vì bị chính những người thân cận của mình ám sát một cách công khai dù đang ở đỉnh cao của danh vọng.

Nader Shah là một trong những nhà quân sự vĩ đại nhất Châu Á cận đại. Ông vực dậy vùng đất quê hương ở Ba Tư từ một quốc gia đứng trước bờ vực suy tàn trong những ngày cuối cùng của vương triều Safavid, trở thành một Đế chế rộng khắp Trung Đông, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung và Nam Á. Ông đẩy lùi Vương triều Hotak của người Afghanistan tới tận Kandahar, để rồi hủy diệt hoàn toàn họ tại đây. Tiếp sau đó, lãnh thổ Ba Tư ngày càng được ông mở rộng bằng các chiến dịch thành công trước Đế quốc Mogul ở Nam Á, Khả Hãn quốc Bukhara ở Trung Á, Đế chế Ottoman ở Tây Á. Trong thời đại của mình, Nader Shah là tướng lĩnh tài năng nhất. Sau cùng, ông lên ngôi “shah” (từ dùng để gọi Hoàng đế) mới của Ba Tư khi lật đổ triều đại Safavid, đế chế Afsharid của ông tồn tại trong thời gian ngắn.

Song song với con đường thăng tiến quyền lực như vũ bão của ông là sự gia tăng mức độ hoang tưởng và tàn bạo. Hoàng đế Nader ngày một tàn bạo theo thời gian. Nhà cai trị tăng thuế lên mức rất cao để chi trả cho các chiến dịch của mình. Hậu quả là các cuộc khởi nghĩa diễn ra nhiều hơn, và Nader dập tắt chúng một cách vô cùng tàn nhẫn, chẳng hạn như việc cho dựng một tòa tháp sọ người như thần tượng Timur của ông ta từng làm. Ông thậm chí còn ra lệnh móc mắt con trai cả của mình, Reza Qoli Mirza Afshar, vì nghi ngờ anh này có liên quan tới vụ phục kích mình trước đó. Các biểu hiện bất ổn tâm lý của vị Hoàng đế này ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn, người thân của Nader giờ cũng nằm ngoài vòng an toàn, kẻ thù của ông ngày một gia tăng, trong đó có cả những người trước đây là bề tôi trung thành. Sau cùng, chẳng ai còn đặt lòng tin vào vị shah điên loạn, kể cả gia đình của ngài.

Năm 1747, Nader lên đường đến Khorasan để đàn áp cuộc nổi loạn do cháu trai ông, Ali Qoli, người sau này trở thành shah kế nhiệm cầm đầu. Trạng thái tinh thần không ổn định, sự đa nghi và hoang tưởng của ông khiến nhiều sĩ quan dưới quyền Nader sợ hãi bỏ đi, và hợp tác với phe địch. Các hình phạt vô lí của vị shah hung bạo cũng góp phần thúc đẩy tâm lý muốn làm phản của họ hơn.

Nader Shah nghi ngờ Saleh Khan, đốc công làm việc cho gia đình và Mohammad Qoli Khan Qereqlu, đội trưởng đội cận vệ là những kẻ cố liên lạc với Ali Qoli, cũng như nhiều sĩ quan khác đang có ý làm phản. Ông lập tức triển khai một kế hoạch thanh trừng nội bộ bằng ý tưởng sử dụng các sĩ quan không phải người Ba Tư. Nader giao nhiệm vụ này cho Ahmad Khan Adbali, một chỉ huy trẻ người Afghanistan, mang ơn Nader khi được giải cứu khỏi nhà ngục Herat. Adbali có trong tay một đội kỵ binh riêng gồm 4,000 thành viên người Adbali rất thiện chiến. Nader Shah nói rõ mối nghi ngờ giành cho các sĩ quan dưới trướng mình, yêu cầu Ahmad dẫn theo đội kỵ binh của mình vào sáng mai, bắt giữ tất cả những kẻ tình nghi, và giết chúng nếu cần thiết. Ahmad Khan Adbali trung thành và đã thề giữ kín kế hoạch cho tới sáng ngày mai, nhưng không may có người đã nghe lỏm được kế hoạch và đem tin này tới cho các sĩ quan bị tình nghi, trong đó có Saleh Khan và Mohammad Qoli Khan. Họ biết sẽ chẳng có bất cứ cơ hội nào để bào chữa trước vị vua điên và họ cũng còn rất ít thời gian trước khi trời sáng, họ phải hành động trước. Vậy là, khoảng 70 thành viên được tập hợp nhanh chóng tham gia vào âm mưu sát hại Hoàng đế. Nhóm này gồm những người dự kiến sẽ bị bắt vào ngày mai, họ gấp rút lên và thực hiện kế hoạch của mình trước khi đoàn kỵ binh Afghanistan ập đến.

Đêm ngày 20/6/1747, đêm xảy ra sự kiện. Đám sát thủ tụ tập ngoài lều của Nader, nơi ông đang say giấc với sủng phi Chuki. Hầu hết chúng không dám đột nhập, khi một nhóm dẫn đầu bởi Mohammad Qoli Khan và Saleh Khan dứt khoát đột kích vào trại, chúng giết một hoạt quan trước khi làm Nader thức giấc. Những diễn biến tiếp theo được nhân chứng Chuki kể lại và được bác sĩ Pere Louis Bazin tường thuật ngay khi Nader qua đời:

“Khoảng mười lăm người nóng lòng muốn thực hiện âm mưu hoặc là những kẻ đến trước hẹn để nhận mặt nhau đã đứng tại địa điểm trước thời gian ấn định ban đầu. Đám người ập vào lều hoàng gia, xô đổ mọi trướng ngại vật và nhanh chóng vào buồng ngủ của quân vương. Tiếng ồn mà chúng gây ra làm ông ấy thức giấc và hỏi to: “Ai đến đó?”. Ngay sau đó, ông nhanh chóng nhận ran guy hiểm và thét: “Kiếm của ta. Mang kiếm tới cho ta”. Vài tên sát thủ trở nên sợ hãi, và đã toan bỏ chạy. Trước khi hai kẻ thủ lĩnh vực lại tinh thần của chúng bằng cách can đảm xông lên phía trước. Nader Shah lúc này thậm chí còn chưa kịp mặc quần áo, Muhammad Qoli Khan nhảy vào trước, tấn công ông bằng một nhát kiếm chính xác khiến ông quỵ xuống đất. Hai hoặc ba tên thủ thế tiếp sau gã đầu lĩnh. Lúc này, vị quân vương đã quá yếu để có thể đứng lên chiến đấu, ông chỉ có thể kêu lên: “Tại sao các người lại muốn giết ta chứ? Chẳng phải các người rồi sẽ cũng sẽ cùng hưởng tất cả những gì ta có hay sao?”. Ông vẫn khẩn khoản van nài trước khi Saleh Khan tiến tới phía trước, vung kiếm lấy đầu ông, và cả thân thể ông nằm gọn trong tay một tên lính đang chờ sẵn. Vị vua giàu có nhất thế giới đã kết thúc như thế đấy.”

Về phần anh chàng Ahmad Khan Adbali, anh nghe tin về cái chết của Hoàng đế từ trước khi lên ngựa nhưng vẫn chưa tin lắm. Anh quyết định dẫn binh đoàn của mình, bất chấp nguy cơ giao tranh, tiến về phía doanh trại của Nader để cứu nhà vua. Nhưng tới lều của Hoàng đế thì chỉ còn trơ trọi một chiếc đầu bị chặt. Những người Adbali trung thành đã khó lóc thảm thiết trước cái chết của vị lãnh tụ, và quyết định trở về Kandahar. Trên hành trình này, những người Adbali tôn Ahmad Khan lên làm thủ lĩnh của họ, người sau này trở thành Ahmad Shah lừng danh, nhà khai quốc của Đế quốc Durrani, tiền thân của Afghanistan ngày nay.

Điều thú vị về vụ ám sát này là có khá ít nguồn khẳng định sự liên quan của người cháu Adil Shah trong âm mưu sát hại chú mình. Hay có thật sự Mohammad Qoli Khan Qereqlu và Saleh Khan là những kẻ phản bội không, hay tất cả chỉ là sự hoang tưởng thái quá của Nader Shah dựng lên? Rốt cuộc kết cục của người được gọi là “Napoleon của Ba Tư” là do yếu tố khách quan gây nên hay đơn thuần do chính phản ứng chủ quan của ông gây nên?

[MEHMED II: SULTAN VĨ ĐẠI ĐÃ ĐƯA OTTOMAN LÊN LÀM ĐẾ QUỐC]Khi Mûrad II băng hà năm 1451, ông đã khôi phục lại Ottoman sau...
13/08/2020

[MEHMED II: SULTAN VĨ ĐẠI ĐÃ ĐƯA OTTOMAN LÊN LÀM ĐẾ QUỐC]

Khi Mûrad II băng hà năm 1451, ông đã khôi phục lại Ottoman sau 11 năm nội chiến, tạo tiền đề cho Mehmed II và các cuộc chinh phục của mình. Mặc dù trong triều đình, mâu thuẫn vẫn diễn ra giữa phái chủ chiến, đứng đầu là Şehabeddin và Zaganos, với phái chủ hoà, đứng đầu là Grand Vizier (Tể tướng) Çandarlı Halîl. Về cơ bản, quyền lực đã rơi vào tay phái chủ chiến khi họ có được sự ủng hộ của Sultan Mehmed II. Mục tiêu chính yếu của Mehmed là lấy lại vùng đất mà tổ tiên ông, Bâyezîd, đã chinh phục bằng cách chiếm toàn bộ mảnh đất châu Âu phía nam Sông Danube, và toàn bộ mảnh đất châu Á phía tây Sông Euphrate, khiến chúng phải nằm dưới sự thống trị của Ottoman; nhưng không giống với cụ cố của mình, mục tiêu đầu tiên của Mehmed là chinh phục Kostantiniyye, hay Constantinople theo ngôn ngữ của châu Âu. Ông nhận ra việc này sẽ giúp tạo tính chính danh và quyền lực lớn để tạo nên một đế quốc ông hằng mong ước. Mặc dù vẫn để Çandarlı làm Grand Vizier, vị Sultan mới lên ngôi bắt đầu công cuộc chinh phục vĩ đại của mình. Sau một chiến dịch ngắn vào mùa hè năm 1451, ông nhanh chóng đánh bại Công quốc Kamaran nổi loạn ở châu Á sau cái chết của Mûrad, và chuyển mũi dùi tấn công sang Kostantiniyye.

Một nửa thế kỷ sau cuộc chinh phạt của Thiếp Mộc Nhi, Đế quốc Byzantine vẫn có khả năng tạm ngưng được cuộc tấn công của Ottoman bằng cách lợi dụng sự tranh giành đoạt vị trong nội bộ Ottoman và quân Thập Tự. Đại sứ Byzantine đe doạ thả Orhan, cháu của Bâyezîd, về Ottoman để tranh giành ngôi vị, gây ra nội chiến trong lúc Mehmed đang đánh Kamaran. Ngày 12 tháng 12 năm 1452, Hoàng đế Byzantine hứa Hiệp nhất Giáo hội với Giáo hoàng và làm lễ Hiệp nhất đầu tiên tại Hagia Sophia; mục đích để khiến Sultan thấy châu Âu đồng lòng đánh đuổi Ottoman.

Lý do chính trị cả trong nước và quốc tế buộc Mehmed phải chiếm Kostantiniyye nhanh nhất có thể. Để tránh sự nghi ngờ của họ, Çandarlı Đã ký hiệp ước với Hungary và Venice. Tại thời điểm Venice gửi hạm đội của mình đến hỗ trợ Byzantine vào tháng 5 năm 1453, thời gian đang dần cạn kiệt. Trước khi tiến hành bao vây thành phố, Mehmed II đã kiểm soát được Bosphorus nhờ xây dựng pháo đài Rumeli Hisarı ở bờ châu Âu, đối diện với pháo đài Anadolu Hisarı mà cụ cố ông, Bâyezîd, đã xây dựng. Tất cả tàu thuyền giờ đây muốn vượt Bosphorus thì phải có sự cho phép của ông. Trận vây thành Kostantiniyye kéo dài 54 ngày, từ ngày 6 tháng 4 đến ngày 29 tháng 5 năm 1453, quân Venice và Orhan, người giành ngôi với Mehmed, cũng tham gia phòng thủ thành phố với Byzantine.

Ở phía bên kia chiến tuyến, mâu thuẫn vẫn tiếp tục diễn ra giữa Çandarlı, người cho rằng chiến dịch này sẽ không thành công và nên dừng lại, với Sultan và phía quân đội, biết rằng tương lai của họ sẽ phụ thuộc vào cuộc chiến này. Mâu thuẫn diễn ra ngày càng sâu sắc hơn khi tin Venice và Hungary huy động quân đội đến tai Ottoman. Nhưng việc gì đến rồi cũng sẽ đến, khi Hoàng đế Byzantine từ chối đầu hàng, Mehmed hạ lệnh tấn công lần cuối cùng. Và rồi mặc dù quân phòng thủ chống trả quyết liệt, Zaganos cũng hạ được thành vào ngày 29 tháng 5, kết thúc 1058 năm tồn tại của Đế quốc Byzantine, nhường chỗ cho một đế quốc mới: Đế quốc Ottoman. Hagia Sophia ngay sau đó được được chuyển từ nhà thờ Kitô giáo sang Hồi giáo.

Vị Sultan trẻ tuổi giờ đây đang ngồi trên ngôi vị của các Caesar (Caesar tước hiệu, không phải Caesar chỉ người). Cuộc chinh phục và Thánh Chiến của Mehmed đã vượt qua tất cả những lãnh đạo Hồi giáo trước đây, giúp ông có được quyền lực tuyệt đối trong đế quốc của mình. Ngay sau khi chiến dịch kết thúc vang dội Çandarlı bị buộc tội phản quốc, bị bắt và xử tử, để quyền lực rơi vào tay các đối thủ của ông. Để không ai có thể giành ngôi vị của mình, Mehmed lập tức cho người tìm và giết Orhan, em trai 8 tuần tuổi của Mehmed là Ahmed cũng bị giết.

Vào một phần tư thế kỷ sau đó, nhà chinh phục mở từ chiến dịch này đến chiến dịch khác, xây dựng một chính quyền tập trung tại Rumelia và Anatolia. Dựa theo Ibn Kemâl, Mehmed II cũng thi hành chính sách tử hình tất cả những người Hy Lạp trong Hoàng tộc có nguy cơ giành lại ngôi vị. Sultan hiểu được tầm quan trọng của chiến lược của Kostantiniyye, tin rằng nếu có một hạm đội thương trú tại đây, ông có thể một ngày nào đó thống trị thế giới.

Như cách ông đã làm để chặn Bosphorus năm 1452, năm 1463, ông đưa cả Dardanelles xuống dưới quyền kiểm soát của Ottoman bằng cách xây hai pháo đài ở hai bờ Çanakkale. Và với việc tăng cường phòng thủ Bozcaada (Tenedos), Sultan đã hoàn thành hệ thống phòng thủ bảo vệ Kostantiniyye, và giữ được đường liên lạc giữa Ântolia và Rumelia. Vào những năm 1470, hạm đội hải quân của Ottoman đã tăng từ 30 lên 92 tàu chiến.

Năm 1454, hạm đội của Ottoman được đưa tới Biển Đen, khuất phục toàn bộ những vùng đất mà nó đi qua và buộc các Thuộc địa của Genoa -Vương quốc Trebizond và Moldavia - phải nộp cống phẩm và công nhận quyền bá chủ của Ottoman.

Sultan Mehmed II cũng muốn biến Sông Danube thành biên giới phía bắc của đế quốc. Việc này chính thức trở thành một chính sách của ông để ngăn chặn bất cứ quốc gia nào có lãnh thổ ở Balkan phía nam Sông Danube, và để chiếm tất cả những quốc gia đã có lãnh thổ ở đây; bằng chứng có thể thấy qua chiến dịch chinh phục Morea năm 1460, miền bắc Albania năm 1464-1479, và Bosnia năm 1463. Bởi vì luôn có nguy cơ chính quyền địa phương và các hoàng tộc những nước này sẽ hợp tác với kẻ địch trong lúc Sultan thực hiện chiến dịch, Mehmed thường tìm cách đưa “tiền hưu” cho những người trong hoàng tộc rồi đuổi họ đi những tỉnh xa xôi làm quản lý. Ví dụ, sau khi chinh phục được Morea, ông đưa Demetrios Palaeologus số tiền tổng cộng là 300000 Akçe để dưỡng già ở những vùng đất xa xôi. Nhưng với những Hoàng tộc mà Mehmed cho là nguy hiểm thì Sultan cũng không ngừng ngại cho người giết sạch như ở Trebizond và Bosnia.

Mục đích chính của Mehmed ở Balkan là để đẩy lui ảnh hưởng của Hungary. Năm 1451, Lãnh chúa của Serbia là Branković, với sự hỗ trợ của Hungary đã kiểm soát vùng Kruševac, từ đó mở rộng ảnh hưởng của Hungary vượt quá Sông Danube. Sau khi chinh phục Kostantiniyye, Mehmed II, với 4 chiến dịch quân sự đã đánh bại hoàn toàn Serbia, cuối cùng thôn tính luôn nước này vào năm 1459. Tuy nhiên, năm 1456, quân Hungary buộc ông phải bỏ bao vây Belgrade. Năm 1461, Quốc vương của Wallachia là Vlad Drakul đã liên minh với Hungary tấn công Ottoman trên bờ Sông Danube. Ngay năm tiếp theo, nhà chinh phục trả đũa bằng cách xâm chiếm Wallachia, truất ngôi Drakul và đưa Radul lên thay, nhờ đó làm suy giảm mối đe doạ từ Hungary.

Ở Morea và Albania, ảnh hưởng của Venice cũng đe doạ đến sự kiểm soát của Ottoman trong khu vực. Tại Morea, cuộc chiến đã nổ ra giữa Palaeologi và Demetrios, nhờ Ottoman giúp đỡ, với Thomas, nhờ Venice giúp đỡ. Trong hai chiến dịch năm 1458 và 1460, nhà chinh phạt đã thôn tính được Morea, đẩy xung đột giữa Venice và Ottoman lên cao trào. Ở vùng núi phía bắc Albania, Iskander Beg nhờ có sự hỗ trợ từ các lãnh chúa địa phương, Venice, Giáo hoàng và Vua Aragon đã thành công kháng chiến giữ chân được Ottoman, quân Venice thì chiếm đóng Scutari (Shkodër) và Durazzo (Durrës); nhưng thế mạnh của Venice vẫn là trên biển và Ottoman là trên bộ, nên cả hai phe đều tránh giao tranh trực diện. Trận vây thành Salonica năm 1423 đến 1430 đã cho thấy một cuộc chiến như vậy sẽ kéo dài như thế nào. Nhưng khi quân Ottoman thành công chiếm được Argos, cuộc xung đột này chính thức trở thành một cuộc chiến tranh toàn diện, kéo dài từ năm 1463 đến năm 1479. Hungary đáp trả hành động xâm lược Bosnia và Herzegovina của Mehmed năm 1963 bằng cách đưa quân vào Bosnia, chiếm thủ đô nước này và ký hiệp ước với Venice. Giáo hoàng thúc giục các lãnh đạo Kitô giáo khác tham gia liên minh. Ở Albania, Iskander Beg hợp tác với Venice, trong khi đó, Venice cũng tìm các đồng minh khác ở phía đông. Vào mùa thu năm 1463, họ đàm phán với lãnh đạo Akkoyunlu, Uzun Hasan, đối thủ lớn nhất của Ottoman ở phía đông Anatolia. Khi cuộc tranh giành ngôi vị diễn ra ở Karaman năm 1464, Uzun Hasan đã can thiệp vào nội bộ Anatolia. Mặc dù Mehmed chiếm đóng Kamaran năm 1468, ông vẫn chưa hoàn toàn thu phục được các bộ tộc du mục Turcoman sống rải rác trên các vùng núi khắp bờ Địa Trung Hải. Các bộ tộc này sẽ không bị chinh phục hoàn toàn trong 50 năm tiếp theo, liên tục nổi dậy giành ngôi vị Karaman.

Sau khi Ottoman thảo phạt Karaman, Uzun Hasan chuyển sang áp dụng một số chính sách hiếu chiến hơn; đến năm 1471, vấn đề ở Karaman đã trở thành mối nguy lớn cho Ottoman. Uzun Hasan giờ đã kiểm soát được của Iran cũng như phía tây Anatolia, một mối nguy ngang ngửa với Thiếp Mộc Nhi trước đây. Ông đã liên minh với Venice, đàn phán với các Hiệp sĩ Đảo Rhodes, Vua Cyprus và Bey Alanya. Hứa rằng sẽ viện trợ cho họ 3 vạn quân lính. Ông cũng dự định mở đường liên lạc trực tiếp với Venice bằng cách đưa quân tới bờ biển Địa Trung Hải qua dãy núi Ta**us, lúc bấy giờ kiểm soát bởi các bộ lạc Turcoman. Mặc dù một hạm đội Venice có đổ bộ vào bờ biển và mang theo một số súng ống để viện trợ Uzun Hasan, họ lại không tìm vị trí đóng quân của ông. Trong khi hạm đội châu Âu đang tấn công bờ biển Ottoman vào năm 1472, Uzun Hasan với sự ủng hộ của các bộ lạc địa phương đã mang quân đến đánh đuổi Ottoman khỏi Karaman và tiến vào Bursa.

Dựa theo hiệp ước giữa Uzun Hasan và Venice thì sau khi đánh bại Ottoman, họ sẽ phân chia lãnh thổ với nhau. Hasan sẽ có toàn bộ vùng Anatolia, với điều kiện ông không xây dựng pháo đài ở các vùng bờ biển gần tàu của Venice. Phía Venice thì sẽ có chiếm đóng Morea, Le**os, Euboea và Argos, họ còn dự đính sẽ lấy luôn Kostantiniyye.

Mehmed lập tức đáp trả lại. Ngoài quân đội thường trực ra, ông còn tuyển thêm quân lính từ các công dân Hồi giáo lẫn Kitô giáo của mình, mỗi ngôi làng Thiên Chúa giáo ở Balkan phải chọn ra 2 người khỏe mạnh gia nhập quân đội của Sultan. Ông mang nhanh chóng đến đẩy lùi quân Uzun Hasan và Karaman về Sông Euphrates. Trong Trận Başkent ngày 11 tháng 8 năm 1473, Mehmed II đã giành một chiến thắng vang dội trước Uzun Hasan. Hy vọng chiến thắng của Venice cũng tan biến và Mehmed một lần nữa chuyển hướng tấn công chống lại Venice, ông bao vây thành Scutari ở Albania năm 1474. Năm 1478, Sultan đích thân tới chỉ đạo cuộc chiến; đường liên lạc trên biển của Venice bị cắt đứt, và sự hỗ trợ từ Hungary vẫn mãi chưa đến. Ngày 25 tháng 1 năm 1479, Venice ký hoà ước với Ottoman, đồng ý bỏ Scutari, nhượng lại các vùng đất mà họ mất trong cuộc chiến - Maina ở Morea, Đảo Limni và Euboea - cũng như hoàn trả lại các vùng đất mà họ chiếm được, đồng thời trả chiến phí 1 vạn ducat.

Sau khi củng cố quyền lực tại Anatolia và Rumelia, Mehmed II bắt đầu chuyển hướng tấn công sang nơi khác. Các Hiệp sĩ Đảo Rhodes lúc bấy giờ là lực lượng duy nhất ngăn cản Ottoman mở rộng ảnh hưởng vào Địa Trung Hải. Vì vậy, vào năm 1480, Mehmed gửi một đội quân đến chiếm đóng Rhodes dưới sự chỉ huy của Vizier Mesîl Pasha; cùng lúc đó Gedik Ahmed Pasha chỉ huy một hạm đội từ Avlonya (Vlorë) đến đổ bộ vào miền nam nước Ý, chuẩn bị cho một cuộc chinh phạt của Ottoman. Mesîl thất bại, nhưng Gedik Ahmed chiếm được Otranto vào ngày 11 tháng 8 năm 1480, giúp Ottoman có được bàn đạp trong khu vực. Ông trở lại Rumelia và để đưa một đội quân lớn hơn đến đó, chuẩn bị cho cuộc thảo phạt Ý. Giáo hoàng lúc bấy giờ kêu gọi tất các nước Tây Âu đến hỗ trợ, và chuẩn bị bỏ Rome đến Pháp trong trường hợp tệ nhất. Vào mùa xuân năm tiếp theo, Mehmed cũng quân đội của mình đích thân lãnh đạo một đội quân cực lớn đến đó, nhưng băng hà trên đường đi.

Mehmed II có thể nói là cha đẻ của Đế quốc Ottoman. Ông xây dựng một đế quốc từ châu Âu đến châu Á với thủ đô ở Kostantiniyye, một hạt nhân quan trọng của Đế quốc Ottoman khắp 4 thế kỷ. Ông sử dụng tước hiệu “Lãnh chúa của Hai vùng Đất” -Anatolia và Rumelia - “và Hai vùng Biển” - Địa Trung Hải và Biển Đen. Ông không chỉ là một chiến binh mà còn là một người yêu văn hoá. Ông ra lệnh cho Gennadius, người được ông chỉ định làm Thượng phụ Đại kết thành Constantinopolis (e hèm, Kostantiniyye 🐧), viết một bài luận tóm tắt về giáo lý của Kitô giáo trong khu vực. Các thành viên thuộc giới Ulama được mời đến Hoàng cung mỗi tuần, thường là để hỗ trợ các vấn đề về tôn giáo cho ông. Ông tuyển các nhiều học giả nhân văn Hy Lạp vào triều đình. Ông còn mời Gentile Bellini từ Venice đến vẽ bích hoạ trong cũng điện của mình. Nhưng với ông, quan trọng nhất vẫn là những đóng góp cho Gâzâ - Thánh chiến Hồi giáo - nhằm đưa đất nước trở thành một cường quốc mạnh nhất thế giới.

[GIÁO DỤC CỦA ĐẾ QUỐC OTTOMAN]——Nguồn: Cuốn “The Ottoman Empire: The Classical Age 1300-1600” của Halil İnalcık.Cuốn “Th...
13/08/2020

[GIÁO DỤC CỦA ĐẾ QUỐC OTTOMAN]

——

Nguồn:
Cuốn “The Ottoman Empire: The Classical Age 1300-1600” của Halil İnalcık.
Cuốn “The Genesis of Darulfunun: An Overview of Attempts to Establish the First Ottoman University” của Ekmeleddin İhsanoğlu.
Cuốn “Encyclopedia of the Ottoman Empire” của Gabor với Bruce.

——

Trong hàng trăm năm, hệ thống giáo dục ở Ottoman được tiến hành ở cả trường công lẫn trường tư. Một trong những trường công quan trọng nhất là Enderûn Mektebi, chuyên đào tạo các kul từ devşirme trở thành những lãnh đạo quân sự và dân sự phục vụ đế quốc. Enderûn Mektebi được xây dựng ngay trong Hoàng cung của Sultan, là lò luyện những cá nhân sau này sẽ nắm các chức quan lớn, với đủ mọi loại môn học như: Giáo lý Quran, hadith, hùng biện, tiếng Ả Rập, thơ ca, triết học, lịch sử, toán học và địa lý. Điểm khác biệt giữa Enderûn Mektebi với các trường học khác ở Ottoman là Enderûn Mektebi chỉ tập trung dạy các môn cần thiết để phục vụ cho Sultan.

Trường học thông dụng nhất tại Ottoman là các trường tôn giáo gọi là “medreses.” Trường tiểu học hay “sıbyan mektebi,” được xây dựng bởi Sultan, quan chức Ottoman hoặc các nhà hảo tâm, thường nằm ngay trong külliye, hoặc một khoảng đất trống giữa làng hay thành phố. Những trường học hoạt động nhờ vào tiền từ các vakıf và có thể dạy chung hoặc chia khu nam nữ tuỳ vào ý muốn người xây dựng. Những trường tiểu học này không có một chương trình học thống nhất mà tuỳ vào truyền thống của từng địa phương. Thường thì trẻ em từ 5 tuổi trở lên có thể theo học ở đây. Các giáo viên được lựa chọn giảng dạy là những người đã được giáo dục qua medreses, ở những địa phương còn khó khăn thì đơn giản là những người biết chữ hoặc được người dân tin tưởng bầu chọn. Thông thường những người này là các imam, hoặc các muezzin, hoặc người trông coi Thánh đường Hồi giáo. Phụ nữ nhớ được Kinh Quran cũng được phép dạy ở bậc tiểu học dành riêng cho nữ sinh. Mục đích chung của những trường này là dạy học sinh cách đọc, cách viết, cộng trừ nhân chia cơ bản, và nhớ một số đoạn quan trọng trong Kinh Quran, những năm cuối cấp trẻ sẽ được dạy văn học trong tiếng Ả Rập và Ba Tư.

Quay trở lại với medreses, những học sinh tốt nghiệp sıbyan mektebi nếu muốn tiếp tục chương trình giáo dục sẽ được học tại đây. Mặc dù những người tốt nghiệp được medreses sẽ được coi là giới tinh hoa của đế quốc, những trường học này luôn rộng mở với tất cả những người Hồi giáo từ khắp miền đất nước, tạo cơ hội giáo dục công bằng cho mọi tầng lớp xã hội. Các giáo viên medreses đâu tiên có thể là những người sinh ra và lớn lên ở vùng Anatolia trước khi bị chinh phục bởi Ottoman và được giáo dục ở các trung tâm văn hoá Hồi giáo.

Khái niệm về tri thức và việc phân chia các loại khoa học của Taşköprüzade là bước đầu để đi sâu vào nghiên cứu giáo dục medreses thời Đế quốc Ottoman. Taşköprüzade cho rằng có 4 loại tri thức - tâm linh, lý trí, nói và viết. Khoa học tâm linh theo ông có hai nhánh, lý thuyết và thực hành. Từ đây, ông lại chia thành nhóm tri thức dựa hoàn toàn vào logic và tri thức dựa vào giáo lý Hồi giáo. Vì vậy, mọi ngành khoa học đều có thể chia làm 8 loại sau:

A/ Khoa học thư pháp: nghiên cứu các dụng cụ dùng để viết, các kiểu viết chữ đẹp,...

B/ Khoa học lời nói: nghiên cứu về tiếng Ả Rập, ngữ âm học, từ điển học, từ nguyên học, ngữ pháp và cú pháp, hùng biện, thơ ca, lịch sử và các ngành khoa học ngữ văn khác.

C/ Khoa học lý trí: logic, biện chứng,...

D/ Khoa học tâm linh: Loại này ông phân chia như sau:

- 1/ Khoa học lý thuyết lý tính: thần học cơ bản, khoa học tự nhiên, toán học,...

- 2/ Khoa học thực hành lý tính: đạo đức học, khoa học chính trị,...

- 3/ Khoa học lý thuyết tôn giáo: nghiên cứu Kinh Quran và truyền thống của Hồi giáo cũng như những ngành khoa học ảnh hưởng đến truyền thống đó, thần học Hồi giáo, những quy tắc và luật lệ của Hồi giáo.

- 4/ Khoa học thực hành tôn giáo: đạo đức học thực tế, nghiên cứu các lễ nghi, ihatisâb, và các ngành khác liên quan tới đời sống và tín ngưỡng của đạo Hồi.

Mục đích của tất cả các tri thức nói chung, và các tri thức tâm linh nói riêng, là để có tìm đến tri thức của Allah.

Việc phân chia khoa học còn có một khía cạnh khác, được chia theo độ hữu dụng của nó, các ngành khoa học quan trọng như chính trị được gọi là “fen.” Ngoài ra khoa học cũng được phân ra làm tốt hoặc xấu, khoa học hỗ trợ tôn giáo là tốt, khoa học như chiêm tinh là xấu. Quan điểm về tôn giáo của Taşköprüzade còn có kết hợp một số khía cạnh của chủ nghĩa thần bí. Giống với al-Ghazâlî, ông cho rằng chiêm nghiệm là thứ quan trọng để bổ sung với khoa học tâm linh, sự chiêm nghiệm này là một phần của khoa học thần bí, mục đích là để con người tìm hiểu sâu hơn về thuyết ngộ đạo, từ đó có thể biết nhiều hơn về “thế giới xung quanh.” Theo đó, những học giả mà chỉ nghiên cứu về khoa học tôn giáo thông thường thì thật đáng thương, họ đã rời xa khỏi “thế giới xung quanh.” Một học sinh, theo Taşköprüzade, phải học hết tất cả các môn khoa học, bởi nó sẽ bổ sung cho nhau để tạo thành một khối thống nhất. Người học giả dành cả đời của mình chỉ để học một lĩnh vực sẽ không thể tiếp cận với tri thức của Đấng tối cao.

Yếu tố quan trọng nhất trong việc giáo dục của Hồi giáo là các “müderris,” một người được công nhận là có quyền, hiểu biết về tôn giáo và khoa học tâm linh, họ có thể là những chuyên gia tập trung về một lĩnh vực nào đó, nhưng tất cả các học sinh trước đó đều phải được giáo dục qua khoa học tôn giáo, ngoài ra người đó phải biết được tiếng Ả Rập - ngôn ngữ của khoa học. Nếu một học sinh cần luyện chuyên một lĩnh vực nào đó, người học sinh đó sẽ đến tìm chỗ ở của người thầy đó và theo học tại đây, nên thứ quan trọng là müderris, không phải medreses.

Medreses đầu tiên của Ottoman được xây dựng ở Iznik năm 1331, dành cho một học giả nổi tiếng là Dâvûd xứ Kayseri. Vào những năm sau đó, khi một Sultan muốn xây dựng medreses, ông sẽ mời các học giả từ trung tâm văn hoá cũ của Anatolia, như Konya, Kayseri, hoặc Aksaray, hoặc từ những nơi khác trong thế giới Hồi giáo như Ba Tư, Turkestan, Ai Cập hoặc Syria. Vào thời Mûrad II, Alâ al-Dîn xứ Tus và Fakhr al-Dîn, đến từ Ba Tư, đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của medreses. Trong giai đoạn hình thành văn hoá Ottoman vào thế kỷ 14 và 15, các ulema của Ottoman đi khắp Ai Cập, Ba Tư, và Turkestan để học hỏi những học giả nổi tiếng ở đây. Để học về luật lệ và giải thích Kinh Quran, họ thường đến Ai Cập hoặc Ba Tư; Mehmed al-Fanarî, Alî al-Fanarî, Şeyh Bedreddîn và nhiều học giả nổi tiếng khác đều từng học tại những vùng này. Vào thế kỷ 15, các học giả như Sa’d al-Dîn al-Taftazânî và Sayyid Sharîf al-Jurjânî, chuyên về nghiên cứu khoa học tôn giáo, nổi tiếng dưới thời Thiếp Mộc Chân, và ngày càng thu hút nhiều học sinh. Để học toán thì các ulema sẽ đến Samarkand.

Mehmed II từng than phiền rằng mặc dù ông đã xây dựng nên một đế chế rộng lớn và vĩ đại, triều đình của ông không có các ulema giỏi để đem so sánh với nơi khác. Các ulema bản địa mà ông tự hào chỉ có Molla Hüsrev và Hocazâde. Sau khi chinh phục Kostantîniyye, ông cho chuyển 8 nhà thờ Kitô giáo thành medreses cho 8 học giả nổi tiếng; và từ năm 1463 đến 1470, khi xây dựng Fatih Camii, ông xây dựng xung quanh đó 8 medreses nổi tiếng nữa gọi là “Sahn-i semân” hay “Semâniye,” mỗi medreses cho một học giả. Các medreses này được làm bằng đá, xây dựng hai bên Thánh đường Hồi giáo; có tất cả 8 medreses cấp cao, nơi luyện chuyên về một lĩnh vực nào đó, và 8 medreses cấp thấp, nơi luyện học sinh để chuẩn bị cho cấp cao. Tiền lương của mỗi müderris quản lý một medreses là 50 akçe mỗi ngày, bằng khoảng 1 đồng vàng ducat. Mỗi medreses có 19 phòng và 1 phòng học, 15 trong số này dành cho các học sinh đặc biệt, hay “dânişmend,” những người tài giỏi được müderris lựa chọn trong số các học sinh đã hoàn thành khoá học ở medreses cấp thấp. Các học sinh này được nhận 2 akçe mỗi ngày từ vakıf và nhận thức ăn từ các nhà nghỉ gần đó. Mỗi medreses đều có những thư viện riêng. Müderris sẽ lựa chọn một trong các dânişmend làm trợ lý của mình, người này có nhiệm vụ dạy lại các bài giảng và quản lý kỷ luật học sinh, nhận 5 akçe mỗi ngày. Tất cả các học sinh đều được yêu cầu dành toàn thời gian vào việc học.

Trong giai đoạn này, Semâniye medreses là trường giáo dục tôn giáo ở cấp cao trong đế quốc. Thấp hơn là Dâlülhadîs medreses mà Mûrad II thành lập ở Edirne, và dưới nữa là các medreses xây ở Bursa. Ngoài những trường học hoàng gia này còn có nhiều medreses khác xây dựng bởi các quan chức Ottoman, nổi tiếng là medreses của Alî Pasha ở Edirne, Şihâbeddîn Pasha ở Filibe (Plovdiv), Mahmûd Pasha ở Kostantîniyye, Eski Alî Pasha ở Bursa và Ishâk Bey ở Üsküp (Skopje),... Cùng với đó là các medreses cũ ở Anatolia thời tiền Ottoman.

Medreses của Ottoman chia làm 2 loại chính. Loại thứ nhất là “hâriç” - ngoại - medreses dạy những tri thức cơ bản. Loại thứ 2 là dâhil - nội - medreses, dạy những tri thức cấp cao hơn nữa. Từ đây cũng được chia ra làm nhiều loại:

1/ HÂRIÇ MEDRESES

(a) Medreses cấp thấp nhất, được gọi là “ibtidâ-yi hâriç,” dạy những điều cơ bản về ngữ pháp và cú pháp Ả Rập, logic học, thần học cao cấp, thiên văn học, hình học và hùng biện. Các medreses còn này được gọi là “Tajrid medreses,” đặt tên theo bài luận của Sayyid Sharîf về “Tajrid’” của Nasîr al-Dîn xứ Tus, sách giáo khoa chính cho khoá học ở đây. Ngoài ra còn có một cái tên khác là “medreses hai mươi” vì müderris ở đây nhận mức lương 20 akçe mỗi ngày.

(b) Bậc cao hơn là các “medreses ba mươi” hay “Miftâh medreses,” đặt tên theo sách giáo khoa chính là cuốn “Miftâh” của al-Sakkakî viết về hùng biện. Trường này dạy sâu hơn về hùng biện và khoa học ngữ văn.

Các “medreses hai mươi” và “medreses ba mươi” thường nằm ở các vùng nông thôn.

(c) Cao hơn nữa là các “medreses bốn mươi” và “năm mươi,” được các Hoàng tử, Công chúa trong Hoàng tộc và các Vizier xây dựng ở Kostantîniyye, Edirne và Bursa. Ở mức sơ cấp họ học diễn giải Miftâh, ở mức trung cấp học thần học cao cấp theo “Mawakîf” của ‘Adûd al-Dîn, ở mức cao cấp học luật theo “Hidâya” của al-Marghînânî

2/ DÂHIL MEDRESES

(a) Dâhil “medreses năm mươi,” hay “ibtidâ-yi dâhil” cũng được xây dựng bởi các Công chúa, Hoàng tử, hoặc các Vizier. Ở mức sơ cấp dạy về “Hidâya,” ở mức trung cấp dạy về các nguyên tắc của luật theo “Talwîh” của al-Taftazânî; ở mức cao cấp họ dạy về diễn giải Kinh Quran theo “Kashshâf” của al-Zamakhsharî.

(b) Cao hơn là 8 medreses được Mehmed II xây đầu tiên, được gọi là “tetimme” hay “mûsile-yi sahn.”

(c) Ở cấp cao nhất là các Semâniye medreses, nơi học sinh tập trung luyện chuyên 3 lĩnh vực - luật học Hồi giáo, diễn giải Kinh Quran hoặc thần học cao cấp, hùng biện và các môn học liên quan - và nhận được các khoá học đặc biệt.

Süleymân I sau này đưa ra một số cải cách giáo dục quan trọng. Xung quanh Thánh đường Hồi giáo ông xây dựng ở Kostantîniyye năm 1550 đến 1556, ông xây dựng 4 medreses chung, thêm 2 medreses đặc biệt dùng riêng để luyện chuyên, trong đó 1 dùng để học các ngành khoa học liên quan đến Hadîth, 1 dùng để học ngành y. Loại này được ông xếp thứ hạng cao nhất, và thứ hạng này tồn tại cho tới khi đế quốc sụp đổ. Hàng trăm medreses trải rộng khắp đế quốc đều được phân chia theo 11 cấp bậc này.

Medreses tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn. Năm 1529, có 14 medreses ở Edirne. Đến thế kỷ 17, chỉ tính riêng Kostantîniyye có đến 95 medreses; đến thế kỷ 19, con số này tăng lên 170. 49 medreses này được xây dựng bởi Pasha, 35 bởi các thành viên trong giới quý tộc, 35 bởi các ulema, 26 bởi Sultan và còn lại bởi những người khác. Trong số 350 medreses xây từ thế kỷ 14 đến thể kỷ 16, 40 medreses xây ở thế kỷ 14, 97 thế kỷ 15 và 189 thế kỷ 16. Nếu tính trong suốt quá trình tồn tại của Đế quốc Ottoman, có đến khoảng 665 medreses được xây dựng chỉ riêng ở Rumelia.

Medreses dù thời tiền Ottoman cũng như thời Ottoman là một tổ chức được hỗ trợ bởi vakıf và là một phần của külliyesi. Các mütevellî ở đây sẽ đưa tiền tài trợ medreses cho müderris giữ; các müderris chịu tránh nhiệm lựa chọn học sinh và chia số tiền tài trợ này lại cho các học sinh và lao công ở medreses, và cũng là người quản lý medreses. Như vậy mỗi một medreses là một đơn vị tự quản lý riêng bên trong vakıf. Các müderris muốn giảng dạy thì phải có giấy phép từ Hoàng gia.

Các ulema cũng được tuyển từ các medreses này. Theo nguyên tắc thì Hồi giáo không chấp nhận giai cấp tăng lữ làm trung gian giữa Allah và người phàm đại diện cho quyền lực tôn giáo. Tuy nhiên, các ulema, một nhóm tôn giáo giống với giai cấp tăng lữ ở phương Tây, cũng phát triển trong thế giới Hồi giáo và có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội và chính trị tại các nền văn minh Cận Đông cũ. Tất cả các ulema đều có cả quyền và nghĩa vụ diễn giải và thi hành luật Hồi giáo, các müftî chỉ có quyền thứ nhất và các kâdî chỉ có quyền thứ hai. Họ chịu trách nhiệm về việc thi hành Şerîat trong nhà nước. Quyền lực chính trị, có được thông qua sức mạnh quân sự, là yếu tố quan trọng nhất của chính phủ Ottoman, nhưng theo giáo lý đạo Hồi, quyền lực chính trị chỉ là công cụ để thi hành Şerîat: “Nhà nước nằm dưới quyền tôn giáo.” Vì vậy giai cấp ulema coi quyền lực thế tục là cấp thấp hơn và luôn tìm cách đưa thi hành giáo lý.

Các ulema sử dụng các kiến thức về Şerîat của mình để áp dụng vào khoa học. Để vào hàng ngũ ulema thì thí sinh đầu tiên phải học khoa học, để có thể dùng những tri thức đó hiểu được Kinh Quran. Một trong các ulema sau đó sẽ đến kiểm tra năng lực của thí sinh. Ulema được coi là những người thừa kế tri thức từ Thiên xứ Muhammad. Ở đế quốc Ottoman có một hệ thống phân cấp ulema - müderris, müftî và kâdî - rất khắc khe, được phát thảo qua sơ đồ bên dưới.

Các müderris của hâriç medreses hoặc những người tốt nghiệp Semâniye medreses có thể trở thành kâdî ở các thị trấn nhỏ, tiền lương từ 50 đến 150 akçe mỗi ngày. Các kâdî cấp cao hơn, với mức lương từ 300 akçe trở lên, được coi là những người chuyên nghiệp trong ngành luật và tôn giáo, được gọi “molla.” Ví dụ, kâdî có mức lương 300 akçe mỗi ngày có khả năng trở thành defterdâr hoặc dîvân Hoàng gia. Các müderris của Semâniye hoặc các medreses cấp cao hơn có thể trở thành molla với mức lương 500 akçe, sau này còn có cơ hội thăng tiến làm kâdî ở Kostantîniyye hoặc kâdîasker. Kâdî với mức lương 500 akçe có khả năng làm nişancı hoặc dîvân Hoàng gia. Do đó không chỉ có quyền lực tôn giáo mà các chức quan lớn trong chính phủ cũng mở rộng cửa với họ, rất nhiều ulema cũng được làm các Vizier.

Kâdîasker của Rumelia và Anatolia, kâdî của Kostantîniyye và 8 thành phố quan trọng nhất là các ulema cấp cao. Chính những người này, cùng với şeyhüislâm đứng đầu, là nhóm công nhận quyền cai trị mỗi khi Sultan mới lên ngôi, mỗi khi Sultan bị cướp ngôi hay đảo chính, cũng chính nhóm ulema là người sẽ hợp pháp hoá việc đó. Tuy nhiên, cần nhớ rằng người đứng đầu cộng đồng Hồi giáo về mặt tôn giáo luôn là Sultan-Caliph, và các ulema luôn phải thi hành quyền lực của mình dưới danh nghĩa của Sultan. Ở Đế quốc Ottoman, quyền lực chỉ định và cách chức ulema nằm trong luôn nằm trong tay Sultan và Grand Vizier.

Tuy nhiên, şeyhüislâm lại là một vị trí rất đặc biệt, đây là chức vụ đứng đầu ulema, cho đến thế kỷ 16 được lựa chọn bởi các müdderis có danh tiếng với sự thống nhất của Sultan. Nhiệm vụ của họ là đưa ra fetvâ về những việc Şerîat giải quyết được. Một số người khác với quyền lực tôn giáo nhất định cũng có thể viết fetvâ và trong taat cả các thị trấn và thành phố của Ottoman đều có müftî để làm việc này. Những người này tạo thành một giai cấp khác dưới quyền şeyhüislâm.

Tầm quan trọng của şeyhüislâm lớn đến mức các họ giả phương tây thường so sánh ông với giáo hoàng ở châu Âu. Kânnûnâme của Mehmed II nâng quyền lực của şeyhüislâm ngang với Grand Vizier và bắt mọi người phải tôn trọng chức vụ này. Cho tới cuối thế kỷ 16, các şeyhüislâm gần như không thể bị cách chức, với tư cách là đại diện Şerîat thường được hoạt động độc lập với quyền lực chính trị thế tục. Vào thế kỷ 16 khi Şerîat ngày càng ảnh hưởng nhiều đến nền chính trị nhà nước, quyền lực của şeyhüislâm cũng từ đó tăng cao, nhưng cũng vì vậy mà họ ngày càng phụ thuộc vào quyền lực chính trị.

Tuy nhiên trên đây chỉ là về giai đoạn đầu, bắt đầu từ thế kỷ 18 đến khi đế quốc sụp đổ, Đế quốc Ottoman trải qua nhiều thay đổi, thường bao gồm cả những cải cách cực đoan. Một trong những thay đổi quan trọng này là sự ra đời của hệ các trường học dựa trên mô hình của châu Âu và từ đó phát triển theo sự cần thiết của nhà nước. Phong trào cải cách giáo dục bắt đầu từ trong quân đội, nổ ra để ngăn chặn những thất bại liên tiếp của Ottoman và lấy lại sức mạnh quân sự cho đế quốc. Sau đó phong trào nhanh chóng lan rộng đến các ngành dân sự.

Address

Quan Nhan

Telephone

010101010101

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Văn minh Đế quốc Hồi giáo A Rập posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share