14/06/2023
Vào thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, Cyrus Đại đế (600-530 TCN) đã chinh phục các miền đất của người Hy Lạp ở phía tây vùng Anatolia và đặt chúng dưới sự cai trị của Đế chế Ba Tư hùng mạnh.
Người Hy Lạp ở đây không chấp nhận điều đó, họ vùng lên đấu tranh vì sự tự do của mình và kêu gọi các thành bang Hy Lạp đưa quân đến tương trợ nhưng sau tất cả, chỉ có Athens và Eretria là đồng ý giúp đỡ.
Cùng với nhau, những người Hy Lạp đã đốt phá thành Sardis và đền thờ nữ thần Cybele tại đây cũng bị thiêu trụi.
Đây rõ ràng là một chiến thắng lớn của người Hy Lạp trước người Ba Tư, tuy nhiên, khi chưa kịp ăn mừng chiến công này, quân Ba Tư đã tung đòn đáp trả với một tốc độ quá nhanh khiến quân Hy Lạp phải rút hoàn toàn về nước.
Sau tất cả, cuộc nổi dậy ở Tây Anatolia vẫn cứ tiếp diễn ngay cả khi quân Athens và Eretria đã rút đi và người Ba Tư phải mất 4 năm để dập tắt nó.
Sau sự kiện này, Cyrus Đại đế bắt đầu nhòm ngó vào đất Hy Lạp bên kia bờ biển, nơi có hai thành bang dám đem quân sang hỗ trợ quân nổi dậy tại Tây Anatolia.
Nhưng không muốn động binh quá sớm, Cyrus Đại đế sai sứ thần sang Hy Lạp và đến các thành bang và yêu cầu họ phải phục tùng Ba Tư và cống lễ vật hàng năm để đảm bảo nền hòa bình. Kết quả là, hầu hết các thành bang đều chấp thuận, trừ Athens và Sparta.
Hai thành bang Athens và Sparta đáp trả xứ thần Ba Tư bằng cách quẳng họ xuống giếng sâu và để mặc họ thiệt mạng ở dưới đấy.
Đến năm 490 TCN, Darius Đại đế (550-486 TCN) cho một đội quân với 600 chiến thuyền mở một cuộc tấn công vào Hy Lạp để "dằn mặt" các thành bang tại đây.
Đảo Naxos mau chóng thất thủ và thành bang Eretria bị cướp phá tàn bạo và bị thiêu rụi. Ngay sau đó, quân Ba Tư kéo đến tấn công vào Marathon, từ đây sẽ làm bước đệm tiến đánh Athens.
Quân đội Athens cùng đồng minh là Plataea đã chặn đánh quân Ba Tư ngay tại bờ biển. Dù bị áp đảo quân số và chỉ bằng một nửa lực lượng địch, quân Hy Lạp vẫn tấn công, bộ binh Hoplite được trang bị giáo và khiên lớn, chiến đấu trong các đội hình phalanx chặt chẽ đã áp đảo được bộ binh Ba Tư.
Quân Ba Tư bị tàn sát bên bờ biển, những người còn sống vội kéo về chiến thuyền, nhờ đó mà Athens được cứu.
Bốn năm sau, Darius Đại đế băng hà và con trai ông, Xerxes Đại đế (518-465 TCN) là người nối ngôi.
Nhiệm vụ trước mắt của Xerxes Đại đế là trả thù người Hy Lạp và gột rửa nỗi nhục thất bại Marathon của vua cha.
Để chuẩn bị một cuộc xâm lược nữa vào Hy Lạp, Xerxes Đại đế triệu tập quân đội từ khắp nơi trong đế chế và cho xây cầu bắc qua Hellespont để làm tuyến hành quân chính cho lực lượng tấn công Hy Lạp.
Mùa xuân năm 480 TCN, đội quân khổng lồ của Xerxes Đại đế hành quân từ Châu Á sang Châu Âu. Theo sử gia Herodotus (484-425 TCN), đội quân chinh phạt Hy Lạp của người Ba Tư có khoảng 2,3 triệu người, một con số quá lớn và gần như bất khả thi cho lực lượng hậu cần thời kỳ ấy. Đến tận ngày nay, số liệu chính xác vẫn còn gây ra rất nhiều tranh cãi.
Đội quân đông đảo ấy được hộ tống bằng một hạm đội rất lớn, khoảng 1.000 đến 1.200 chiến thuyền (con số còn gây tranh cãi) vốn được đóng tại Ba Tư và các nước chư hầu nhỏ bé ở Đông Địa Trung Hải.
Lại nói về Hy Lạp, lúc bấy giờ không phải một quốc gia thống nhất mà là một tập hợp lỏng lẻo bởi hàng loạt các thành bang khác nhau. Tình hình các thành bang là không ổn định khi họ liên tục đấu đá nhau. Tuy thế, trước kẻ thù chung là Đế chế Ba Tư, 31 thành bang Hy Lạp đã gác lại mọi hiềm khích và cùng kề vai sát cánh chống lại quân xâm lược.
Một hội đồng được triệu tập tại Corinth để lên kế hoạch bảo vệ Hy Lạp. Ngày nay, tại Delphi, chúng ta vẫn có thể thấy một cột đá khổng lồ được người Hy Lạp dựng nên để kỷ niệm chiến thắng trước quân Ba Tư, bên trên cột khắc tên các thành bang đã tham gia vào cuộc chiến ác liệt này.
Đứng đầu danh sách là người Lacedaemon (tức người Sparta), kế đó là người Athens, người Corinth,...
Biết được quân Ba Tư sẽ tràn xuống tấn công từ phía bắc, quân Hy Lạp cho 10.000 quân đến trấn giữ đèo Tempe, gần núi Olympus. Nhưng khi thấy quân Ba Tư kéo đến quá đông, quân Hy Lạp buộc phải bỏ đèo Tempe và rút về thủ tại Thermopylae.
Với vỏn vẹn 7.000 quân, dưới sự chỉ huy của Vua Sparta Leonidas I (540-480 TCN) và hạm đội Hy Lạp bảo vệ vùng sườn ven biển tại Artemisium, quân Hy Lạp đã đứng vững trước sức tấn công kinh hồn của quân Ba Tư.
Trận đánh Thermopylae đã trở thành huyền thoại về 300 chiến binh Sparta quả cảm chặn đánh quân Ba Tư, và đã được chuyển thể thành bộ phim "300" vào năm 2006 với vai Leonidas I do nam diễn viên Gerard Butler thủ vai.
Lại nói đến lực lượng hải quân Hy Lạp, giống như lực lượng trên bộ, hải quân cũng là tập hợp từ nguồn lực của các thành bang Hy Lạp. Trong số này, Athens đóng góp nhiều nhất với 127 chiến thuyền trong khi Styra và Ceos đóng góp ít nhất với chỉ 2 chiến thuyền cho mỗi thành bang.
Việc Athens có thể đóng góp được nhiều như vậy, ngoài việc quân đội của họ rất thạo thủy chiến thì còn nhờ vào mỏ bạc tại Laurium. Với nguồn tài chính dồi dào đó, hạm đội Athens mau chóng trở thành lực lượng mạnh nhất toàn cõi Hy Lạp.
Themistocles (524-459 TCN) là người đã thuyết phục thành công người dân Athens chi tiền cho việc xây dựng hạm đội. Và chính ông cũng là người thành lập nên lực lượng hải quân cho các thành bang Hy Lạp.
Themistocles hiểu rằng, để một người Athens thành lập và chỉ huy lực lượng này sẽ khiến các thành bang khác không phục, vì vậy, ông đã nhường vị trí chỉ huy cho các tướng lĩnh Sparta, dù rằng họ thạo việc chiến đấu trên đất liền hơn là thủy chiến.
Cả hạm đội Ba Tư và Hy Lạp đều sử dụng loại chiến thuyền Trireme có ba tầng chèo. Một chiến thuyền như vậy có 170 tay chèo và đạt tốc độ tối đa là 10 hải lý/giờ. Mũi thuyền có một đầu nhọn bọc đồng dùng để húc thuyền địch.
Việc tràn lên tàu địch cũng là một chiến thuật rất quan trọng của các hạm đội này. Một chiếc Trireme Hy Lạp thường chở mười bốn lính thủy đánh bộ, mười lính bộ binh Hoplite được trang bị giáo và khiên và bốn cung thủ.
Chỉ huy thuyền (tiếng Hy Lạp là Trihpapxos) ngồi ở đuôi thuyền, phía trước ông ta là người lái thuyền (tiếng Hy Lạp là Kybepnhths). Ngoài ra, còn có lực lượng sỹ quan sẽ giúp binh lính giữ nhịp và chọn được thời cơ thích hợp để tràn sang thuyền địch. Như vậy, một con thuyền Trireme Hy Lạp sẽ có thể chở được khoảng 200 người. Và lẽ dĩ nhiên, mỗi thuyền chiến Hy Lạp đều có một cái tên riêng. Đầu thuyền được vẽ những con mắt rất lớn để xua đuổi vận rủi trong quá trình di chuyển và chiến đấu.
Theo sử gia Herodotus, thuyền chiến Hy Lạp nặng nề hơn của Ba Tư và chở được ít người hơn (thuyền chiến của Ba Tư có thể chở 44 lính thủy đánh bộ).
Trong khi Leonidas I đang trấn giữ đèo Thermopylae, hạm đội Ba Tư tiến về phía nam, dọc theo bờ biển Magnesia. Nhưng trong một đêm nọ, khi đang thả neo, họ gặp phải một trận bão biển lớn khiến hàng trăm thuyền chiến bị đắm và hàng ngàn binh lính thiệt mạng.
Theo Herodotus, hạm đội Ba Tư còn tự làm suy yếu mình khi cho 200 thuyền Trireme đến Euboea để cắt đường rút của quân Hy Lạp nhưng cũng bị một cơn bão biển đánh đắm toàn bộ. Herodotus cung cấp rất ít những bằng chứng khách quan cho sự kiện này khiến đến tận ngày nay, không ít người vẫn hoài nghi tính xác thực của nó vì đây là một quyết định cực kỳ liều lĩnh.
Bất chấp những tổn thất đó, hạm đội Ba Tư vẫn quá đông, gấp ba lần hạm đội Hy Lạp tại Artemisium. Và không chỉ đông hơn, họ còn dạn dày kinh nghiệm chiến đấu hơn, nhất là các binh lính đến từ Phoenicia, nay thuộc Lebanon.
Trong ba ngày chiến đấu ngoan cường, hạm đội Hy Lạp vẫn kìm chân được hạm đội Ba Tư tại vịnh Artemisium. Nhưng vào ngày thứ ba, một tin thảm khốc đã đến, Leonidas I và phân nửa quân số của ông đã tử trận và đèo Thermopylae thất thủ chỉ còn là vấn đề thời gian. Một khi điều này xảy ra, con đường đến Athens sẽ mở toang.
Sau cùng, hạm đội Hy Lạp vẫn phải rút đi, quân Ba Tư lập tức tràn xuống tấn công về phía nam. Từng làng mạc, thành phố, kho dữ trự đều bị tàn phá nặng nề, duy chỉ có thành bang Thebes là an toàn bởi họ đã chọn đứng về phe Ba Tư.
Trong khi Athens gần như đã ở thế cá nằm trên thớt thì tại Peloponnese, các thành bang tại đây đã tập trung binh lực chặn quân Ba Tư tại eo đất Corinth và họ hiểu, đem quân cứu Athens là một việc bất khả thi.
Trong khi đó, tại Athens, binh lính bắt đầu dùng thuyền để sơ tán dân thường rời khỏi thành bang này, điểm đến của họ là thành bang Troezen, đảo Salamis và đảo Aegina.
Trước đấy vài tháng, khi cuộc chiến chưa nổ ra, người Athens đã gửi một phái đoàn đến ngôi đền linh thiêng nhất Hy Lạp để nhờ nhà tiên tri Delphi dự đoán và chỉ lối cho họ trong cuộc ác chiến sắp tới. Tại đây, nhà tiên tri Delphi chỉ thốt lên: "Sao các ngươi còn ngồi đấy? Những tên ngốc? Chạy ngay đi. Chạy đến nơi tận cùng Thế giới!"
Tuy vậy, một nhà tiên tri khác đã đưa ra một tia hi vọng cho thành bang Athens khi họ có thể trông cậy vào một "bức tường gỗ". Nhiều người Athens lập tức suy luận rằng "bức tường gỗ" đề cập tới một hàng rào cây g*i từng bao quanh vệ thành (Acropolis) của thành bang Athens.
Vì vậy, những người này quyết định ở lại Athens và sống mái với quân Ba Tư. Hậu quả là gần như không còn ai sống sót.
Khi Athens thất thủ, Xerxes Đại đế đã đốt phá mọi đền thờ ở đây như một cách trả thù cho sự tàn phá của thành Sardis xưa kia.
Trong khi đó, tướng Themistocles lại cho rằng "bức tường gỗ" chính là hạm đội mới của Athens. Tuy nhiên, vào tháng 9/480 TCN, khi các chỉ huy hải quân Hy Lạp hội quân tại Salamis, tình hình đã trở nên cực kỳ xấu khi Vua Leonidas I đã tử trận, Athens chỉ còn là đống hoang tàn và liên minh các thành bang Hy Lạp đang trở nên mong manh hơn bao giờ hết.
Nhiều đồng minh của Athens đã buông xuôi, hạm đội của các thành bang đến từ bán đảo Peloponnese nhụt chí và bắt đầu rút về eo Corinth.
Themistocles lập tức ngăn lại và cảnh báo họ rằng eo Corinth là đủ rộng để hạm đội Ba Tư đông hơn với các chiến thuyền to hơn có thể hoạt động linh hoạt và tận diệt hạm đội Peloponnese. Cách tốt nhất là ở lại và sống mái tại eo Salamis này, vừa đủ để hạm đội Hy Lạp hoạt động và quá chật hẹp cho hạm đội Ba Tư. Để các thành bang khác không rút đi, Themistocles cảnh báo, nếu không cùng hạm đội Athens ở lại chiến đấu, ông sẽ cùng họ, hạm đội mạnh nhất Hy Lạp, rút về bán đảo Ý.
Vì vậy, Tổng Chỉ huy hạm đội Hy Lạp là viên tướng người Sparta, Eurybiades (?-?) đã chấp thuận thực hiện kế hoạch của Themistocles. Nhưng Themistocles vẫn lo sợ những người Peloponnese sẽ đổi ý, vì vậy, ông cho một thuộc hạ thân tín trà trộn vào trại quân Ba Tư và phao tin tình hình quân Hy Lạp đang rối ren và sẽ rút khỏi eo Salamis ngay bình minh hôm sau.
Trong khi đó, cách Salamis tám dặm, tại Phaleron, Xerxes Đại đế đang cùng các tướng lĩnh thân tín họp bàn về kế hoạch tác chiến. Hầu hết họ đều khuyên ông lập tức tấn công, nhất là khi tin đồn về nội bộ quân Hy Lạp lục đục được truyền đi.
Hầu hết, trừ Vương hậu Artemisia I xứ Caria (?-?), người chỉ huy năm chiến thuyền từ xứ Caria. Bà khuyên ngăn Xerxes Đại đế tấn công vào eo Salamis, bởi chỉ riêng việc gây áp lực trên đất liền cũng đủ để quân Peloponnese rút về lại bán đảo này và cố thủ, khi ấy, mối liên minh giữa các thành bang Hy Lạp tự khắc tan rã và thất bại là điều sớm muộn mà thôi.
Từ đây, ta cũng hiểu ra lý do mà Themistocles cho người phao tin vào trại quân Ba Tư bởi ông biết, canh bạc cho toàn cõi Hy Lạp sẽ là ở eo Salamis, nếu quân Ba Tư không tấn công vào đây mà tiếp tục triển khai các chiến dịch trên bộ, hi vọng của Hy Lạp sẽ lụi tàn.
Nhưng Xerxes Đại đế đang tỏ ra ngạo mạn và khao khát dứt điểm cuộc chiến sau những vinh quang liên tục trên đất Hy Lạp, ông vẫn muốn tấn công hạm đội Hy Lạp tại eo Salamis. Cùng lúc, thuộc hạ của Themistocles được đưa vào gặp Xerxes Đại đế, tại đây, ông ta lặp lại những gì mà Xerxes muốn nghe: Quân Hy Lạp đang lục đục nội bộ và rất sợ hãi, chắc chắn sẽ rút đi sớm và quân Ba Tư cần tấn công ngay.
Ngay lập tức, trong đêm, Xerxes Đại đế thúc quân chuẩn bị ra trận, đánh tan hạm đội Hy Lạp trước khi họ rút đi vào bình minh (theo như tin đồn được lan truyền).
Bên kia, trong trại quân Hy Lạp, một chiến binh Athens tên Aristides (?-?), người có nhiều chiến công khi tham chiến ở đảo Aegina được đưa đến động viên tinh thần binh lính. Tại đây, anh ta thông báo luôn cho toàn quân việc hạm đội Ba Tư đã xuất kích và eo biển Salamis sẽ bị bao vây trong một thời gian ngắn nhất.
Đây là tin tốt nhất trong ngày hôm ấy mà Themistocles được nghe. Việc hạm đội Ba Tư tấn công eo Salamis là đúng những gì ông mong đợi, dù nó cực kỳ rủi ro bởi nếu thua, ông sẽ mất tất cả.
Nửa đêm, quân Ba Tư xuất kích và nhằm hướng eo Salamis mà đến. Với 600 chiến thuyền Trireme, lực lượng của họ đông hơn hạm đội Hy Lạp khoảng hai đến ba lần.
Ở lối vào eo biển, trên hòn đảo nhỏ Psyttaleia, 400 quân Ba Tư đã đổ bộ lên đây, họ sẽ đảm nhận nhiệm vụ tiêu diệt bất kỳ người Hy Lạp nào sống sót trong trận hải chiến sắp tới và tìm cách trốn lên đảo này. Sau đó, men theo bờ biển, hạm đội Ba Tư âm thầm tiến vào eo Salamis.
Theo sử gia Diodorus Siculus (?-?), hạm đội Ba Tư còn gửi một hải đội Ai Cập đến chặn đường rút của quân Hy Lạp, phòng trường hợp họ rút về vịnh Megara. Nhưng Siculus là một sử gia sinh sau thời kỳ này hơn 400 năm, và trước ông, không có sử liệu nào ghi nhận sự kiện này nên đến nay, điều này vẫn được cho là chưa có tính xác thực.
Rạng sáng, Xerxes Đại đế lên một đài quan sát và nhìn ra eo biển Salamis, nơi mà ông hi vọng sẽ kết thúc cuộc chiến. Đi cùng ông là những người ghi chép, sẵn sàng cho việc ghi công và tội của những thuyền trưởng Ba Tư. Trong niềm phấn khích, Xerxes Đại đế muốn hạm đội khổng lồ của mình phải chiến đấu xuất sắc hơn những gì họ đã từng ở vịnh Artemisium vài tuần trước đó.
Hạm đội Ba Tư dàn hàng ngang ở phía bắc eo Salamis để bao vây hạm đội Hy Lạp với hi vọng tiêu diệt toàn bộ hạm đội này. Tuy nhiên, mọi chuyện có vẻ không đúng lắm khi những gì họ thấy là 368 chiếc thuyền Trireme Hy Lạp đang lao về phía mình.
Hạm đội Hy Lạp dàn trận theo hàng ngang với hai bên cánh là lực lượng đến từ các thành bang giỏi hải chiến nhất. Cánh phải do quân Athens trấn giữ trong khi cánh trái được bảo vệ bởi hạm đội Aegina.
Những chiến binh Hy Lạp tiến về phía kẻ thù trong khi cùng nhau hát vang những bài ca để úy lạo tinh thần chiến đấu. Lúc đầu, họ tiến lên với một tốc độ vừa phải để đợi hạm đội Ba Tư vào hết trong eo Salamis.
Ngay sau đó, một chiếc Trireme Hy Lạp nhìn thấy sơ hở và lao lên tấn công, trận hải chiến Salamis bắt đầu.
Eo biển Salamis mau chóng trở nên rối như canh hẹ. Các thuyền chiến Trireme lao lên ầm ầm, đâm húc nhau đồng thời cũng né tránh những miếng đòn của kẻ thù.
Với một chiến trường chật hẹp như eo Salamis, hạm đội Ba Tư gặp khó khăn trong di chuyển khi thuyền của họ to hơn khá nhiều so với quân Hy Lạp. Thuyền sau háo hức lao lên tấn công để gây ấn tượng cho Xerxes Đại đế thì húc phải thuyền trước đang tìm cách rút lui.
Các tay chèo Ba Tư đã làm việc thâu đêm và mau chóng mệt rã rời trong khi bên kia, hạm đội Hy Lạp đang ở trạng thái sung mãn về thể lực cũng như ý chí chiến đấu vì toàn bộ miền đất Hy Lạp.
Hải đội đến từ Phoenicia là chịu tổn thất nặng nề nhất khi giao chiến với quân Hy Lạp. Nhiều thuyền trưởng nhảy xuống biển, bơi vào bờ và được đưa đến trước mặt Xerxes Đại đế. Họ mau chóng đổ lỗi thất bại do các hải đội đến từ Caria và Ionia có kỹ năng chiến đấu quá yếu kém và hèn nhát.
Vừa hay lúc đó, Xerxes Đại đế quan sát thấy một thuyền chiến Ionia đâm vào một thuyền chiến Athens trước khi bị hạ bởi một thuyền chiến Aegina. Ngay lập tức, ông tỏ ra rất phẫn nộ bởi rõ ràng rằng những người Ionia không hề hèn nhát, đặng, ra lệnh xử tử tất cả thuyền trưởng Phoenicia bỏ chạy về bờ.
Càng về sau, quân Ba Tư càng núng thế, xác thuyền đắm và các binh lính bỏ mạng đông đến nỗi làm eo biển Salamis bị tắc nghẽn. Nhà viết kịch Aeschylus (525-455 TCN), cựu chiến binh của hải chiến Salamis đã mô tả người Hy Lạp ra tay với người Ba Tư như thể các ngư dân đang đánh bắt cá ngừ vậy.
Khi đã quá đuối, hạm đội Ba Tư bắt đầu rút lui, lúc này, hạm đội Aegina của Hy Lạp bắt đầu lao lên cắt đường rút của họ.
Thuyền của Vương hậu Artemisia I cũng nằm trong số những thuyền của Ba Tư phải rút lui, phía sau lưng bà, ba chiến thuyền Athens đuổi sát theo một cách gấp gáp.
Thấy phía trước mình có một chiến thuyền Ba Tư đang bị kẹt, Artemisia I hạ lệnh đâm thẳng vào đó. Nhờ vậy, ba chiến thuyền Athens kia lầm tưởng rằng họ đang truy đuổi chính đồng đội của mình nên lập tức quay thuyền đi và tấn công chỗ khác. Nhờ đó mà Artemisia I mới được an toàn.
Sau đó, lực lượng Ba Tư còn sót lại mau chóng rút về Phaleron. Lúc này, Aristides nhận lệnh đưa một đạo quân gồm toàn bộ binh Hoplite tràn lên đảo Psyttaleia và tiêu diệt sạch sẽ 400 quân Ba Tư trên đảo này.
Tổng cộng, hải chiến Salamis đã làm quân Ba Tư mất khoảng 200 chiến thuyền và khoảng 12.000 quân, gồm cả chỉ huy Ariabignes (?-480 TCN), anh em của Xerxes Đại đế. Bên kia, hạm đội Hy Lạp chỉ mất vỏn vẹn khoảng 40 thuyền.
Quân Hy Lạp đã giáng cho Xerxes Đại đế một đòn quá đau đớn và nhục nhã, chấm dứt hy vọng về việc thôn tính Hy Lạp một cách dễ dàng.
Giờ đây, ông buộc phải nghe theo Artemisia I, hạ lệnh cho tướng Mardonius (?-479 TCN) đem quân tấn công Hy Lạp một lần nữa vào một năm sau đó. Artemisia I lập luận cho đề nghị của mình, nếu Mardonius thắng, vinh quang là của Xerxes Đại đế, nếu ông ta thua, lỗi là do ông ta.
Và lịch sử đã chọn vế thứ hai, năm 479 TCN, Mardonius thất bại trước quân Hy Lạp và tử trận trong cuộc chiến Plataea. Cùng ngày mà Mardonius thất trận, hạm đội Hy Lạp, theo ghi chép của sử gia Herodotus, đã tấn công và thắng lớn tại Mycale. Mối đe dọa từ Ba Tư cũng chấm dứt từ đây.
Những năm sau đó, người Hy Lạp bắt đầu đáp trả người Ba Tư với sự lãnh đạo của Liên minh Delia.
Còn hải chiến Salamis sẽ mãi mãi lưu danh sử sách như một trong những trận đánh quan trọng nhất lịch sử văn minh phương Tây khi lúc đó, nền văn hóa và khoa học Hy Lạp đang phát triển rực rỡ. Vì vậy, trận đánh còn được ví von như là cứu cánh cho "Cái nôi của văn minh phương Tây".
Ngoài ra, nó đã truyền cảm hứng rất lớn cho các khu vực khác như Macedonia, Thrace, Aegea,... khi bị người Ba Tư tấn công, họ không còn đặt mình ở thế thủ như trước kia nữa. Gió thực sự đã có phần đảo chiều.
—-------------------
Viết bài: .
.
.