Công an xã Nghĩa Hưng, tỉnh Ninh Bình

Công an xã Nghĩa Hưng, tỉnh Ninh Bình Tiếp nhận, giải đáp thắc mắc của công dân xã Nghĩa Hưng, tỉnh Ninh Bình

🫡🇻🇳CÔNG AN XÃ NGHĨA HƯNG TỔ CHỨC LỄ TRAO QUYẾT ĐỊNH THĂNG CẤP BẬC HÀM ⏰️ Sáng ngày 02/6/2026, Công an xã Nghĩa Hưng tổ c...
02/06/2026

🫡🇻🇳CÔNG AN XÃ NGHĨA HƯNG TỔ CHỨC LỄ TRAO QUYẾT ĐỊNH THĂNG CẤP BẬC HÀM
⏰️ Sáng ngày 02/6/2026, Công an xã Nghĩa Hưng tổ chức Lễ công bố các Quyết định thăng cấp bậc hàm cho cán bộ, chiến sỹ Công an xã. Đồng chí Thượng tá Dương Văn Thắng – Bí thư Chi bộ, Trưởng Công an xã chủ trì buổi Lễ.
🇻🇳 Trong không khí trang nghiêm, Công an xã đã công bố Quyết định của Giám đốc Công an tỉnh về thăng cấp bậc hàm, nâng bậc lương năm 2026 đối với 10 cán bộ, chiến sỹ Công an xã. Đây là sự ghi nhận xứng đáng đối với những nỗ lực, cố gắng của từng cán bộ, chiến sỹ Công an xã trong công tác, học tập và rèn luyện.
👏Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Thượng tá Dương Văn Thắng ghi nhận, biểu dương những nỗ lực, cố gắng của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong thời gian qua; đồng thời chúc mừng các đồng chí được thăng cấp bậc hàm, nâng lương và được khen thưởng. Đồng chí đề nghị mỗi cán bộ, chiến sĩ tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, nêu cao ý thức phục vụ Nhân dân, không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

01/06/2026
01/06/2026

“Chống tiêu cực” hay chống phá?

Tác giả: PHAN TUỆ

Không công khai phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, không trực diện kêu gọi chống đối bằng những luận điệu cực đoan như trước đây, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đang chuyển sang một thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm hơn: Đội lốt “đấu tranh chống tiêu cực” để từng bước dẫn dắt dư luận theo hướng sai lệch.

Đây là một dạng thức mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng, thông tin; "mềm hóa" phương thức chống phá nhưng lại nguy hiểm hơn bởi tính ngụy trang và khả năng len lỏi sâu vào đời sống xã hội. Vì vậy, nhận diện đúng bản chất, đấu tranh kiên quyết với thủ đoạn này là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Khi “chiêu bài chính nghĩa” bị lợi dụng

Những năm gần đây, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng được đẩy mạnh với quyết tâm chính trị rất cao. Nhiều vụ án lớn được điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh; nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý vi phạm đều bị xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Điều đó không chỉ thể hiện tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực mà còn khẳng định bản lĩnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng cầm quyền.

Tuy nhiên, chính từ quyết tâm đó, các thế lực thù địch lại tìm cách lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Điểm đáng chú ý là phương thức chống phá hiện nay đã thay đổi đáng kể. Nếu trước đây, các luận điệu chống phá thường trực diện, cực đoan, ví như: Từ sai phạm của một số cán bộ, chúng ra mặt phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước nên dễ nhận diện thì nay các đối tượng lại chủ động khoác lên mình vỏ bọc “người yêu nước”, “người dám nói sự thật”, “người đấu tranh vì nhân dân” để khoét sâu tâm lý bức xúc trước tiêu cực nhằm dẫn dắt nhận thức xã hội theo hướng cực đoan, từ đó làm suy giảm niềm tin của nhân dân.

Theo PGS, TS Vũ Đình Đắc (Trường Sĩ quan Chính trị), những đối tượng phản động, cơ hội chính trị hiểu rằng những lời kêu gọi công khai chống đối rất khó tạo được ảnh hưởng rộng rãi trong xã hội. Vì vậy, thay vì đối đầu trực diện, chúng lựa chọn cách len lỏi vào đời sống xã hội dưới danh nghĩa “đồng hành chống tiêu cực”, qua đó từng bước dẫn dắt dư luận theo hướng sai lệch.

Điều nguy hiểm của thủ đoạn này nằm ở tính ngụy trang tinh vi. Một luận điệu công kích trắng trợn thường dễ bị nhận diện và phản bác; nhưng khi thông tin được gắn nhãn “đồng hành” thì nhiều người dễ mất cảnh giác. Các đối tượng thường không khẳng định trực tiếp mà “đặt nghi vấn”; không kết luận rõ ràng mà “gợi mở suy diễn”; không công khai xuyên tạc mà sử dụng lối nói "nửa kín nửa hở" để kích động tâm lý đám đông. Chúng hiểu rằng chỉ cần gieo được sự hoài nghi thì niềm tin xã hội sẽ từng bước bị bào mòn.

TS Lê Thị Chiên (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng, mục tiêu sâu xa của các thủ đoạn này là tạo ra cảm giác xã hội “toàn màu xám”, rằng “không còn gì đáng tin”, từ đó thúc đẩy tâm lý bi quan, mất phương hướng trong một bộ phận quần chúng. Đây là phương thức chống phá nguy hiểm bởi nó tác động trực tiếp vào nền tảng tinh thần của xã hội.

Làm rõ hơn vấn đề này, nhiều chuyên gia, nhà khoa học ở Trường Sĩ quan Chính trị như: PGS, TS Lê Duy Thắng, PGS, TS Nguyễn Minh Cường, TS Nguyễn Văn Tượng dẫn chứng, thực tế thế giới đã cho thấy không ít cuộc khủng hoảng chính trị-xã hội bắt đầu từ chiến tranh thông tin, từ việc đầu độc nhận thức cộng đồng, làm đứt gãy niềm tin xã hội trước khi xuất hiện xung đột công khai. Đó cũng chính là bản chất của chiến lược “diễn biến hòa bình”: Phá từ bên trong bằng sự lung lay về tư tưởng, niềm tin và nhận thức xã hội.

Không thể đội lốt “chống tiêu cực” để chống phá

Cần khẳng định rõ, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta nhằm xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị lại cố tình đội lốt “chống tiêu cực” để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và toàn dân ta. Đây là thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm.

Theo PGS, TS Đỗ Ngọc Hanh và TS Lê Tuấn Anh (Trường Sĩ quan Chính trị): Đấu tranh với thủ đoạn đội lốt “chống tiêu cực” để dẫn dắt dư luận sai lệch cần được tiến hành đồng bộ, kiên quyết và tỉnh táo trên cả phương diện nhận thức, truyền thông và pháp luật. Điều quan trọng trước hết là phải bóc trần bản chất chính trị của các luận điệu ngụy trang dưới chiêu bài “chống tiêu cực”. Thực tế cho thấy, các đối tượng này thường sử dụng thủ pháp đánh tráo khái niệm rất tinh vi: Từ “chống tiêu cực” chuyển thành phủ nhận toàn bộ hệ thống; từ phê phán sai phạm của một cá nhân quy kết thành bản chất của cả bộ máy.

Trong bối cảnh trên, theo quan điểm của nhiều nhà khoa học, báo chí cách mạng phải giữ vững vai trò chủ công trên mặt trận thông tin, tư tưởng. Nếu thông tin chính thống chậm trễ, thiếu chiều sâu hoặc thiếu sức thuyết phục thì khoảng trống thông tin rất dễ bị các đối tượng xấu lợi dụng để thao túng dư luận. Vì vậy, báo chí chính thống phải thông tin nhanh, đúng, trúng và có tính định hướng cao; đồng thời nâng cao chất lượng các tác phẩm chính luận, tăng sức chiến đấu trên mặt trận tư tưởng. Việc phản bác các luận điệu sai trái phải dựa trên lập luận chặt chẽ, chứng cứ xác thực và thái độ đấu tranh kiên quyết, không né tránh, không mơ hồ.

Cùng với đó, cần đặc biệt chú trọng xây dựng “sức đề kháng nhận thức” cho xã hội trước những thủ đoạn thao túng thông tin ngày càng tinh vi. Trong thời đại số, mỗi người dân không chỉ là người tiếp nhận mà còn có thể trở thành người lan truyền thông tin. Vì vậy, việc nâng cao khả năng nhận diện tin giả, tin xấu độc và kỹ năng kiểm chứng thông tin là yêu cầu rất quan trọng. Bên cạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng và truyền thông, đấu tranh pháp lý cũng phải được thực hiện nghiêm minh. Những hành vi cố ý bịa đặt, vu khống, xuyên tạc, kích động chống phá, gây hoang mang dư luận dưới danh nghĩa “chống tiêu cực” cần bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Sự nghiêm minh đó nhằm bảo vệ sự thật, bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh và giữ vững ổn định chính trị-xã hội.

Trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, các thế lực thù địch đang ngày càng sử dụng nhiều thủ đoạn "mềm hóa", tinh vi và ngụy trang kỹ hơn. Đội lốt “chống tiêu cực” để dẫn dắt dư luận sai lệch chính là một trong những thủ đoạn nguy hiểm như vậy. Nhận diện đúng bản chất, giữ vững bản lĩnh trước dòng chảy hỗn độn của thông tin, kiên quyết đấu tranh với những “ngọn cờ giả” không chỉ là yêu cầu về nhận thức mà còn là trách nhiệm chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước.

Báo QĐND

“Chống tiêu cực” hay chống phá?Ảnh minh họa: thoibaotaichinhvietnam.vn

29/05/2026
28/05/2026

Vun đắp quan hệ Việt Nam - Thái Lan

Chuyến thăm Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước thể hiện quyết tâm của 2 nước về việc làm sâu sắc hơn quan hệ hữu nghị, mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại

Chiều 27-5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến sân bay quốc tế Udon Thani (tỉnh Udon Thani), bắt đầu thăm chính thức Vương quốc Thái Lan theo lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thái Lan Anutin Charnvirakul và phu nhân từ ngày 27 đến 29-5.

Tình cảm gắn bó giữa hai dân tộc

Ngay sau khi xuống sân bay quốc tế Udon Thani, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến dâng hương, dâng hoa tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan khu di tích nơi Bác Hồ đã từng sinh sống và hoạt động cách mạng.

Sau lễ dâng hương, thăm khu nhà lá, nơi lưu lại nhiều dấu ấn về những năm tháng Bác từng sống và hoạt động cách mạng trên đất Thái Lan từ năm 1928-1929, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã viết lưu bút, tặng sách, tư liệu... về Bác Hồ cho Ban Quản lý khu di tích.

Trong lưu bút, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ xúc động khi đến thăm khu di tích; trân trọng đánh giá cao những nỗ lực, tâm huyết của cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan trong việc giữ gìn, tôn tạo khu di tích, đồng thời luôn đoàn kết hướng về cội nguồn, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc và vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Thái Lan.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, khu di tích không chỉ là địa chỉ lịch sử và văn hóa có ý nghĩa thiêng liêng đối với cộng đồng người Việt Nam ở Thái Lan, mà còn là biểu tượng sinh động của tình cảm gắn bó giữa hai dân tộc Việt Nam - Thái Lan suốt nhiều thập kỷ qua.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, ngày càng có nhiều đóng góp tích cực cho quê hương, đất nước và đóng vai trò cầu nối quan trọng cho quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và Thái Lan.

Nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, để lan tỏa tinh thần học tập và làm theo những lời căn dặn quý báu của Bác, tại khu di tích, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân đã trồng cây lưu niệm.

Phát huy nguồn lực kiều bào

Cùng ngày, tại Udon Thani, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán, Tổng Lãnh sự quán Việt Nam và gần 600 kiều bào đang sinh sống, học tập, làm việc tại Thái Lan và đại diện kiều bào từ Lào sang.

Thông tin với kiều bào về tình hình trong nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết chuyến thăm này sẽ trao đổi với lãnh đạo cấp cao Thái Lan về các định hướng hợp tác thời gian tới; khẳng định trong tiến trình đó, cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan luôn là cầu nối quan trọng, góp phần thắt chặt tình hữu nghị và quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước ghi nhận cộng đồng người Việt tại Thái Lan đã ổn định cuộc sống, hội nhập tốt, giữ gìn bản sắc văn hóa và luôn hướng về quê hương; trong đó có việc giữ gìn, phát triển Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, phố Việt Nam, các di tích, công trình văn hóa của cộng đồng ở Udon Thani.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định Đảng, Nhà nước luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có cộng đồng Việt Nam tại Thái Lan, là bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết dân tộc, là nguồn lực quý báu của đất nước và cầu nối quan trọng vun đắp quan hệ hữu nghị Việt Nam - Thái Lan. Trên tinh thần đó, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm, hỗ trợ để bà con có địa vị pháp lý vững chắc, ổn định cuộc sống, hội nhập tốt với xã hội sở tại, đồng thời phát huy bản sắc văn hóa, hướng về cội nguồn và gắn bó với quê hương, đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong cộng đồng người Việt tại Thái Lan tiếp tục đoàn kết, ổn định, phát triển vững mạnh, hội nhập tốt, đóng góp tích cực cho xã hội sở tại, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hướng về quê hương và làm sâu sắc thêm tình hữu nghị Việt Nam - Thái Lan.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đề nghị Tổng hội người Việt Nam tại Thái Lan và các hội thành viên phát huy vai trò mái nhà chung, tập hợp, đoàn kết, hỗ trợ kiều bào cùng phát triển. Các cơ quan đại diện Việt Nam tại Thái Lan tiếp tục làm tốt công tác đối ngoại, bảo hộ công dân, chăm lo và đồng hành với cộng đồng.

Sau khi kết thúc các hoạt động tại tỉnh Udon Thani, chiều 27-5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến Bangkok, tiếp tục chuyến thăm chính thức Vương quốc Thái Lan. Dự kiến trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ hội kiến Nhà vua và Hoàng hậu Thái Lan; hội đàm với Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul; tham dự Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Thái Lan…

Thúc đẩy liên kết doanh nghiệp hai nước

Chiều 27-5, tại thủ đô Bangkok, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp ông Thapana Sirivadhanabhakdi - Chủ tịch điều hành Tập đoàn TCC, Tổng Giám đốc Tập đoàn ThaiBev (Thái Lan).

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hoan nghênh Tập đoàn TCC và các tập đoàn lớn phát triển hệ thống phân phối, logistics và chuỗi cung ứng hiện đại, tích cực liên kết với doanh nghiệp Việt Nam để phát triển các mô hình sản xuất, phân phối, tiêu dùng theo hướng xanh, bền vững, bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng an toàn thực phẩm, trách nhiệm xã hội và bảo vệ người tiêu dùng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tin tưởng các tập đoàn, doanh nghiệp của Thái Lan sẽ tiếp tục hoạt động bảo đảm tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, tạo thêm giá trị cho quan hệ hợp tác song phương.

Báo Người Lao động

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan Ảnh: TTXVN

27/05/2026

11 nghị quyết của Chính phủ và cuộc giải phóng sức sáng tạo
Trong nhiều năm, khi nói đến nguồn lực phát triển, chúng ta thường nghĩ ngay đến vốn, đất đai, tài nguyên, lao động hay công nghệ. Nhưng thực tế phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, những nền kinh tế bứt phá nhanh nhất thường không phải là những quốc gia giàu tài nguyên nhất, mà là những quốc gia biết giải phóng tốt nhất nguồn lực con người, sức sáng tạo và động lực của xã hội.
Ở một nghĩa nào đó, nguồn lực lớn nhất của một quốc gia không nằm trong lòng đất, mà nằm trong lòng người. Đó là khát vọng vươn lên của doanh nghiệp, tinh thần dám nghĩ dám làm của người dân, năng lượng đổi mới sáng tạo của xã hội và niềm tin vào một môi trường phát triển thông thoáng, minh bạch và có thể dự đoán được.
Khi "ma sát thể chế" làm hao mòn động lực phát triển
Trong kinh tế học hiện đại, có một khái niệm rất đáng suy ngẫm: "ma sát thể chế".
Đó là những lực cản vô hình làm chậm sự vận động của nền kinh tế: thủ tục kéo dài, quy định chồng chéo, giấy phép con, sự thiếu rõ ràng trong thực thi, tâm lý sợ trách nhiệm và những chi phí phát sinh ngoài dự kiến.
Những lực cản này không gây ra khủng hoảng ngay lập tức, nhưng chúng âm thầm làm suy giảm năng lượng phát triển của xã hội. Một doanh nghiệp mất vài tháng chỉ để hoàn tất thủ tục có thể mất luôn cơ hội thị trường. Một dự án đầu tư bị chậm trễ không chỉ làm tăng chi phí, mà còn làm giảm niềm tin của nhà đầu tư. Một startup phải dành quá nhiều thời gian cho các quy trình hành chính sẽ đánh mất thứ quý giá nhất của đổi mới sáng tạo: tốc độ.
Đó là lý do vì sao thời gian qua Chính phủ liên tục thúc đẩy một làn sóng cải cách mạnh mẽ. Tiếp tục triển khai Kết luận số 18 của Hội nghị Trung ương 2 và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Sau 8 Nghị quyết cải cách được ban hành trước đó, Chính phủ tiếp tục ban hành thêm hàng loạt Nghị quyết mới như Nghị quyết 66.16/2026/NQ-CP về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và quy định liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh; Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP về cắt giảm, sửa đổi ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP về phân quyền, cắt giảm điều kiện kinh doanh và giảm mạnh tiền kiểm; cùng các cơ chế đặc biệt tháo gỡ khó khăn pháp lý theo tinh thần Nghị quyết 206 của Quốc hội.
Chỉ riêng 11 Nghị quyết mới đã giúp cắt giảm hàng trăm thủ tục hành chính, hàng nghìn điều kiện kinh doanh, danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cũng được cắt giảm từ 198 xuống còn 142, và dự kiến tiết kiệm khoảng 23 nghìn tỷ đồng chi phí tuân thủ mỗi năm cho xã hội.
Nhưng ý nghĩa lớn nhất của các Nghị quyết này không chỉ nằm ở những con số. Điều quan trọng hơn là Chính phủ đang trực tiếp tháo bỏ những "ma sát thể chế" đã làm chậm sự vận động của nền kinh tế.
Không thể bước vào kỷ nguyên phát triển mới với tư duy vận hành cũ
Việt Nam đang đặt ra những mục tiêu phát triển rất lớn: tăng trưởng cao, phát triển kinh tế tư nhân, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Nhưng khát vọng lớn đòi hỏi một hệ điều hành phát triển mới. Không thể xây dựng một nền kinh tế đổi mới sáng tạo bằng một bộ máy vận hành quá nặng về quy trình và tầng nấc. Không thể thúc đẩy doanh nghiệp tăng tốc nếu mọi quyết định đều phải chờ đợi quá lâu. Không thể khuyến khích đổi mới nếu môi trường thể chế tạo cảm giác làm thì khó, xin thì lâu, mà rủi ro trách nhiệm lại lớn.
Trong nhiều năm, một phần không nhỏ năng lượng xã hội đã bị "đóng băng" bởi tâm lý ngại đầu tư, ngại đổi mới, ngại thử nghiệm, ngại quyết định. Ở khu vực doanh nghiệp, đó là tâm lý co cụm để giảm rủi ro. Ở khu vực công, đó là tâm lý "an toàn là trên hết". Khi những tâm lý ấy lan rộng, nền kinh tế rất dễ rơi vào trạng thái tăng trưởng thiếu đột phá, đổi mới sáng tạo chậm, bộ máy vận hành cầm chừng, xã hội suy giảm động lực hành động.
Bởi vậy, điều mà các Nghị quyết cải cách mới đang hướng tới không chỉ là giảm thủ tục. Điều quan trọng hơn là khơi thông lại động lực phát triển của toàn xã hội.
Từ "quản cho chặt" sang "tạo điều kiện để phát triển"
Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất hiện nay là sự chuyển dịch dần từ tư duy "quản cho chặt" sang tư duy "tạo điều kiện để phát triển".
Đây là thay đổi rất lớn về tư duy quản trị.
Trong mô hình cũ, cơ quan quản lý thường có xu hướng kiểm soát trước thật kỹ, đặt thêm điều kiện để giảm rủi ro và ưu tiên sự an toàn của bộ máy quản lý. Nhưng trong một nền kinh tế hiện đại, nếu mọi hoạt động đều phải "xin phép trước", thì chi phí xã hội sẽ ngày càng lớn. Doanh nghiệp mất cơ hội. Địa phương mất động lực. Bộ máy trở nên quá tải. Và cuối cùng, cả nền kinh tế mất tốc độ.
Đó là lý do vì sao các Nghị quyết mới của Chính phủ không chỉ cắt giảm thủ tục, mà còn thúc đẩy giảm điều kiện kinh doanh, tăng phân cấp, trao thêm quyền cho địa phương và tháo gỡ các rào cản pháp lý cho sản xuất kinh doanh.
Điều rất đáng chú ý là lần cải cách này không còn tiếp cận theo hướng "sửa từng thủ tục riêng lẻ", mà đang chuyển sang xử lý cả logic vận hành của hệ thống. Tức là chuyển từ quản lý bằng kiểm soát chi tiết sang quản trị bằng mục tiêu, tiêu chuẩn và trách nhiệm.
Đây chính là điều kiện quan trọng để xây dựng một môi trường phát triển năng động hơn, linh hoạt hơn và khuyến khích đổi mới mạnh mẽ hơn.
Một cuộc giải phóng sức sáng tạo đang được mở ra
Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, bước ngoặt lớn nhất thường xuất hiện khi xã hội được "cởi trói".
Đổi mới năm 1986 là một cuộc giải phóng sức sản xuất. Còn những cải cách thể chế hôm nay, ở một góc độ nào đó, đang hướng tới giải phóng sức sáng tạo. Đó là sức sáng tạo của doanh nghiệp, của địa phương, của đội ngũ công vụ và của toàn xã hội.
Đó chính là những nguồn lực phát triển sâu xa và bền vững nhất. Bởi xét đến cùng, tăng trưởng không chỉ được tạo ra bởi vốn đầu tư hay tài nguyên thiên nhiên. Tăng trưởng được tạo ra trước hết bởi niềm tin, động lực và tinh thần hành động của con người.
Và không chỉ có thêm tăng trưởng, Việt Nam sẽ có thêm động lực để bước vào một giai đoạn phát triển mới với một tâm thế mới, một năng lượng mới và một khát vọng phát triển mạnh mẽ hơn nhiều.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng
CP

27/05/2026
26/05/2026

Nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong phòng, chống tội phạm mạng
Có hiệu lực từ ngày 1/7 tới đây, Luật An ninh mạng đã tạo cơ sở pháp lý để mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh mạng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia. Đồng thời, luật cũng đã nội luật hóa các nội dung cơ bản của Công ước Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội).
Luật An ninh mạng thể hiện rõ tư duy đối ngoại chủ động, tích cực và thực chất của Việt Nam trong lĩnh vực an ninh mạng, xuất phát từ nhận thức rằng các nguy cơ trên không gian mạng có tính xuyên biên giới, ẩn danh, tốc độ lan truyền nhanh nên không quốc gia nào có thể bảo đảm an ninh mạng hiệu quả nếu chỉ dựa vào nguồn lực và cơ chế trong nước.
Trên cơ sở đó, luật đã thiết kế một khung pháp lý về hợp tác quốc tế vừa đủ rộng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào các cơ chế hợp tác (song phương, đa phương, khu vực), vừa đủ chặt để bảo đảm lợi ích quốc gia-dân tộc, chủ quyền và an ninh quốc gia trong quá trình trao đổi thông tin, phối hợp nghiệp vụ và xử lý sự cố, tội phạm mạng.
Luật đã khẳng định nguyên tắc hợp tác quốc tế gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia, tạo “hàng rào pháp lý” cho hội nhập. Khoản 1, Điều 6 quy định các nguyên tắc nền tảng khi thực hiện hợp tác quốc tế về an ninh mạng như: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp công việc nội bộ; bình đẳng, cùng có lợi và phù hợp pháp luật Việt Nam.
Cách quy định này có ý nghĩa kép vừa mở đường hội nhập khẳng định Việt Nam sẵn sàng tham gia quản trị và hợp tác không gian mạng nhưng đồng thời đặt giới hạn rõ ràng mọi hợp tác (chia sẻ dữ liệu, phối hợp điều tra, hỗ trợ kỹ thuật…) đều phải nằm trong khung nguyên tắc, tránh nguy cơ bị lợi dụng hoặc phát sinh cam kết làm phương hại đến chủ quyền và an ninh quốc gia.
Luật cũng đã nội luật hóa nghĩa vụ hợp tác theo điều ước quốc tế, tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác tư pháp và chứng cứ điện tử xuyên biên giới. Khoản 2, Điều 6 nêu rõ Việt Nam thực hiện hợp tác quốc tế về an ninh mạng theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Trong bối cảnh Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội) đã được mở ký tại Hà Nội và đặt trọng tâm vào hợp tác phòng, chống tội phạm mạng, chia sẻ chứng cứ điện tử, hỗ trợ lẫn nhau trong điều tra, truy tố, xét xử, quy định của luật đã tạo “cầu nối” quan trọng giữa pháp luật trong nước và nghĩa vụ quốc tế, giúp các cơ quan có thẩm quyền triển khai hợp tác theo đúng trình tự pháp luật.
Điểm đáng chú ý ở đây không chỉ là “thừa nhận nguyên tắc”, mà là tạo căn cứ pháp lý rõ để Việt Nam chủ động tham gia các cơ chế hợp tác đang ngày càng quan trọng với tội phạm mạng: Yêu cầu bảo toàn dữ liệu, truy tìm dòng tiền số, thu thập/chia sẻ chứng cứ điện tử và phối hợp truy vết đối tượng hoạt động ngoài lãnh thổ.
Luật An ninh mạng cũng thiết lập cơ chế hợp tác thực chất: Kênh liên lạc, chia sẻ cảnh báo sớm và phối hợp nghiệp vụ. Khoản 3, Điều 6 quy định các nội dung hợp tác quốc tế theo hướng ưu tiên những hoạt động có hiệu quả trực tiếp: Thiết lập, duy trì kênh liên lạc; trao đổi/chia sẻ thông tin về nguy cơ, phương thức, thủ đoạn tấn công; phối hợp đào tạo, diễn tập, nâng cao năng lực.
Đây là cách tiếp cận rất thực tế vì an ninh mạng là cuộc “đua thời gian”. Nếu thiếu kênh liên lạc và cơ chế chia sẻ sớm, Việt Nam có thể bị chậm nhịp trước các chiến dịch tấn công có tổ chức, mã độc lây lan diện rộng hoặc các vụ việc lừa đảo xuyên biên giới. Việc luật quy định nội dung hợp tác giúp chuyển hợp tác từ “chủ trương” thành công cụ vận hành, tạo cơ sở để xây dựng/duy trì các đầu mối phối hợp (tương tự cơ chế liên lạc nhanh 24/7 trong nhiều khuôn khổ quốc tế), chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, xác minh, phản hồi khi có cảnh báo từ nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế.
Khi đặt nguyên tắc chủ quyền và tuân thủ pháp luật Việt Nam làm “trục” (khoản 1, Điều 6), luật còn tạo dư địa để Việt Nam chủ động lựa chọn mức độ, phạm vi chia sẻ thông tin phù hợp tính chất vụ việc, phân loại dữ liệu (bí mật nhà nước, dữ liệu quan trọng, dữ liệu cá nhân…) và yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia. Điều này đặc biệt quan trọng trong hợp tác an ninh mạng vì hợp tác càng sâu thì yêu cầu “tin cậy, kiểm soát, bảo đảm an ninh mạng” càng cao. Nếu thiếu nền tảng pháp lý, hợp tác có thể làm phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin nhạy cảm hoặc bị lợi dụng về chính trị, kinh tế.
Như vậy, Luật An ninh mạng không chỉ góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về an ninh mạng, mà còn trang bị cho lực lượng chức năng khuôn khổ pháp lý cần thiết để mở rộng phạm vi đấu tranh, phòng ngừa và xử lý tội phạm mạng một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Nguyễn Hương
Báo CAND
Đại diện các nước ký Công ước Hà Nội trong lễ mở ký diễn ra tại Hà Nội.

Address

Thôn 2 Liễu Đề, Xã Nghĩa Hưng, Tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình

Telephone

+84823312368

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công an xã Nghĩa Hưng, tỉnh Ninh Bình posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share