28/08/2016
NGỌC TRONG ĐÁ
Tác giả: Nguyễn Đông Thức
Theo Nhà xuất bản trẻ
Phần 1
Tự dưng Hương thấy gương mặt mẹ mình nhòe hẳn. Hương chớp mắt mấy cái, nhìn cảnh vật rõ lại, nhưng hai má đã thấy âm ấm những giọt lệ mới trào ra. Nếu là những ngày trước, thấy Hương ứa nước mắt, chắc chắn mẹ Hương đã cười và nói: “ Con nhỏ mít ướt này lại đòi gì phải không?”. Nhưng bây giờ, bà chỉ ngồi im lặng thẩn thờ, chưa chắc đã thấy Hương khóc…
Ông Cung, ba Hương, thì nãy giờ cứ thở dài từng hơi, theo thói quen của ông mỗi khi có sự suy nghĩ buồn bực. Chốc chốc ông lại đứng lên, bước qua mấy chiếc vali ngổn ngang giữa nhà, đến cửa sổ ngóng nhìn ra cổng rồi lại trở vào, vật mình xuống ghế.
Phước, em Hương, thì ngồi bó gối buồn hiu ở một góc đi văng gần đó. Mới mấy hôm thôi mà trông nó đã như một ông già, với mái tóc rối, cái miệng móm và cặp kính cận xệ trên sóng mũi không buồn đẩy lên cho ngay ngắn.
Cả gia đình Hương cũng đang chờ đợi phút ra đi. Tình trạng bồn chồn hiện nay không phải do họ còn do dự, mà chỉ vì tất cả cùng đang mong mõi một cách tuyệt vọng, trong những phút cuối cùng, sự trở về của Thành, anh Hương.
Nha Trang đã bị mất từ ngày mồng hai. Những người lính ở đó nếu không chạy thoát bằng đường biển thì cũng đã trở về tới Sài Gòn bằng cách nay hay cách khác. Nhưng Thành vẫn bặt tăm. Mấy hôm nay, ông Cung đã chạy đôn chạy đáo nhiều nơi tìm hỏi tin Thành, nhưng ngày 18 tháng trước, lúc Kontum và Pleiku bị mất, và qua báo chí được biết những tin kinh khủng về cảnh hỗn loạn trên đường rút lui, ông Cung đã vội đánh điện cho Thành với nội dung “ Ba mất, con về ngay!”. Đây là nội dung trầm trọng nhất so với những bức điện trước, mỗi khi ông muốn gọi Thành về, nhưng đến giờ vẫn chưa được tin gì của anh.
Trong khi ông Cung chạy hỏi tin thì bà Cung ngày nào cuãng bắt Hương chở đi coi bói. Hầu như mọi vị thầy nổi tiếng ở Sài Gòn, dù tận hang cùng ngõ hẽm nào, bà cũng đều tới. Từ ông Minh Triết chuyên bói bài Ta rô ở đường Minh Mạng, ông thầy áo đen Hakim bói lửa thiêng ở Tân Định, ông thầy Ấn Độ Sa-đa-kim bói quả cầu ở đường Hai Bà Trưng, cho đến ông thầy Kim ở Phú Nhuận chuyên coi tử vi và bói dịch, ông Ba La mù mắt vua bấm độn ở đường Nguyễn Phi Khanh, cô Sáu bói bài ở Hàng Xanh, và cả ông thiếu tá hải quân Kim Hoàng Sơn gì đó chuyên coi bói bằng quả lắc…. Toàn những thầy bói thứ thiệt của Sài Gòn và không câu trả lời của ai giống ai, vậy mà bà Cung đều tin. Chỉ tiếc là không ai làm bà an tâm được.
Chiều hôm qua, vì Hương đã đổi chiếc Yamaha Dame lấy ba chỉ vàng để đem theo, bà Cung đành đi xích lô lên ông thầy Tàu nào đó ở chợ Lớn, biết năm thứ tiếng và đã từng hành nghề khắp Đông Nam Á, chuyên coi cho những người tai to mặt lớn, và lần này chỉ ghé Việt Nam có ba tháng để làm phước, theo như quảng cáo trên báo. Ông ta cũng chỉ nói được, bằng tiếng Việt rất rành, là bà cứ yên tâm, chỉ trong vòng một tháng nữa, chắc chắn bà sẽ nhận được tin con.
Tới giờ thì mọi cố gắng của ông bà Cung đều vô ích. Hôm nay là ngày 29. Long Khánh đã bị mất từ tuần trước, “ họ” đã tới Biên Hòa và chiều hôm qua còn dám cho máy bay A37 chiếm được ở Đà Nẵng vào thả bom phi trường Tân Sơn Nhất… Giờ phút này, gia đình ông Cung đang chờ xe rước đến một điểm di tản của người Mỹ, mọi sự chuẩn bị đã xong, giờ chỉ còn chờ đợi, một nỗi chờ đợi mệt nhoài, khung khiếp.
Cũng may nhờ có Oanh, chứ không thì giờ này nhà Hương chắc còn khổ hơn. Từ khi mất Huế và Đà Nẵng, Sài Gòn như lên một cơn sốt. Những người lo xa và hiểu biết đều thấy là lần này đã hết hy vọng cứu vãn. Tất cả các ông lớn đều tìm mọi cách đưa vợ con chuồn dần ra nước ngoài. Ông Cung lo nghĩ tới bạc đầu vẫn không tìm ra lối thoát. Ông làm công chức hạng A trong ngành thuế, tin chắc mình sẽ khó sống nổi với Việt Cộng vì cái tội “ Có nợ máu thu gom tiền bạc của nhân dân phục vụ cho bộ mấy chiến tranh phản động”. Nhưng trước giờ vốn không giao du với người Mỹ, ông cũng không trông mong gì tìm được một chỗ trên các chuyến bay di tản. Ông đã nói ra vẻ bất cần: Tôi chết thì không hề gì, chỉ lo cho mẹ con bà không biết bị hành hạ ra sao.
Điều đó càng làm cho bà Cung khủng hoảng hơn. Ngoài việc đi coi bói, bà còn chạy khắp nơi quen biết, dù có khi không biết đến đó để làm gì, để rồi lại càng hoang mang. Mỗi lần đi đâu về, bà lại mang theo một số tin khủng khiếp, như Việt Cộng vào thì sẽ cho Sài Gòn tắm máu, mọi người có làm việc cho Mỹ, cho chính quyền đều sẽ bị đưa ra đấu tố và xử tử, thân nhân những người đó sẽ bị đưa đi tẩy não và con gái sẽ bị rút thăm làm vợ những phế binh Việt Cộng …. Đó là cái tin làm Hương rụng rời nhất. Như nhiều cô bạn, Hương đã mua trữ sẵn trong người một ống thuốc ngủ đầy ắp, phòng khi trường hợp đó xảy ra.
Giữa cơn khủng hoảng đó, buổi tối ngày 26, như sứ giả của một phép lạ. Oanh tới nhà Hương. Oanh là cô bạn thân nhất của Hương. Hai đứa đều là dân Cút, cùng học với nhau từ lớp sixieme lên đến bây giờ. Suốt bảy năm hai đứa ngồi cùng bàn và than nhau đến mức nhiều đứa bạn đã gọi hai đứa là pê-đê. Sự thật tính tình Hương và Oanh rất khác nhau. Oanh nhanh nhẹn, ồn ào sôi nổi, trong khi Hương chậm chạp, ít nói và hay mộng mơ kiểu “ tiểu thư tàu”, theo cách nói của Oanh. Cả hai đứa đều thích coi xi-nê, nghe nhạc ngoại quốc và đi nhảy, nhưng mỗi đứa một “ gu” khác nhau. Oanh thích phim hành động, trong khi Hương chỉ thích phim tình cảm nhẹ nhàng. Oanh thích nghe nhạc ồn ào và thích nhảy các điệ soul, bebop, chachacha, thì Hương thích nhạc êm và các điệu tango, rumba, boston. Cả màu sắc mỗi đưa cũng một tính, Oanh chuộng tong màu nóng, còn Hương màu lạnh. Vậy mà hai đứa lại chơi thân nhau, rất thân, mới kỳ.
Oanh là con gái út trong một gia đình giàu có. Ba Oanh là một trung tá ngành chiến tranh chính trị, thường mặc quần áo dân sự, có e và cận vệ riêng. Má Oanh đã ngoài bốn mươi nhưng coi còn rất trẻ đẹp, từng làm chủ một khách sạn lớn và mấy cái bar ở Sài Gòn và Vũng Tàu trong thời gian người Mỹ con đông đảo ở đây. Hiện giờ bà chuyên chạy áp phe các loại. Cả hai ông bà thường rất ít khi có mặt ở nhà. Hương thường đến chơi, có khi ăn ngủ và học thi ngay ở nhà Oanh. Ngược lại Oanh cũng thường đến Hương chơi luôn và coi gia đình Hương như của mình.
Mặt lo âu, Oanh lôi Hương ra vườn hỏi nhỏ:
- Sao, ba mày đã tính đường gì chưa?
Hương thở dài lắc đầu:
- Ông già còn chờ xem có hy vọng gì không …
Oanh bực bội:
- Chờ gì nữa? Liên hiệp hả? Ba tao nói còn lâu Việt Cộng mớ chịu liên hiệp! Người ta chạy gần hết rồi, còn ở đó chờ! Cha Thiệu dọt mất rồi. Tụi Mỹ đã ngưng phát giấy di tản rồi đó.
Hương cúi mặt lí nhí:
- Nhưng anh Thành chưa về…
Oanh gắt um lên, theo thói quen mỗi khi bực mình:
- Trời ơi! Đợi ổng về rồi cả nhà cùng chết hay sao? Chạy được người nào đỡ người nấy chứ! Biết đâu ổng cũng dọt mất rồi. Ở Nha Trang có phi trường, có quân cảng, thiếu gì đường chạy? Thằng Hùng mà tao còn dặn bay được lúc nào cứ bay, đừng để ý gì đến tao. Nước đến chân rồi mà còn ở đó chờ nhau, chết chum cả đám!
Hùng là bồ Oanh, trung úy phi công lái máy bay chiến đấu F.5 đóng ở sân bay Biên Hòa, vừa cao lớn vừa trắng trẻo đẹp trai, thỉnh thoảng vẫn tự lái chiếc DS19 màu trắng tới đón Oanh và Hương đi vũ trường chơi. Theo lời Oanh thì Hùng là con một người bạn của ông Hoàng, ba Oanh, nhà rất giàu có, dư sức lo được khỏi bị động viên, thậm chí muốn đi du học cũng quá dễ, nhưng anh ta cứ cương quyết đòi vào không quân, quân chủng sang trọng nhất, để “ giựt le” với bạn bè là chính. Quả thật, mỗi lần Hùng mặc bộ đồ bay màu cam có găn huy hiệu chiếc F5 trên vai chạy chiếc Honda Super 90 đến đón Oanh, mọi “ cây si” khác trước cổng trường đều nhìn anh ta lác mắt!
Nhắc tới Hùng, Oanh sực nhớ tới Dũng, tên con trai cũng thuộc loại con nhà giàu vẫn đeo đuổi Hương cả năm nay:
- Ủa, còn tên Dũng sao rồi? Nhà hắn chắc chắn phải có đường chạy, hắn cỏ rủ mày đi không?
Hương lắc đầu:
- Không biết nữ. Mấy hôm nay tao gọi tới nhà mà chẳng thấy ai bắt máy…
- Rồi! Vậy là nhà hắn đi rồi! Chẳng rủ mày mà cũng chẳng chào từ giả nữa à?
Hương lẳng lặng gật đầu. Oanh siết tay bạn:
- Tao biết thằng đó thế nào cũng vậy mà… rồi ba mày có tính được đường nào chưa?
Hương im lặng, không muốn nói Oanh biết ba mình cũng đã nghĩ đủ cách để đưa gia đình đi. Nếu có đủ giấy tờ, ông sẵn sàng chịu khó đứng nối đuôi hàng tuần giữa nắng tháng tư trước tòa đại sứ Mỹ để xin cho được tấm phiếu di tản. Nhưng … ông Cung là người thuộc thế hệ được Pháp đào tạo, dù chỉ tới đíplôm. Qua thời người Mỹ, ông chỉ là một công chức bình thường. Không biết có phải vì thế hay vì một lí do gì khác mà ông thường chê người Mỹ về đủ mọi mặt. Dĩ nhiên, cuối cùng ông không mong sẽ tìm ra tấm phiếu di tản cứu mệnh, cho phép cả gia đình có thể lọt qua các hàng rào dày đặc của quân cảnh v2 thủy quân lục chiến Mỹ, của quân cảnh và lính lôi hổ Việt Nam … trước khi vào được phi trường Tân Sơn Nhất.
Oanh có vẻ hiểu ra, suy nghĩ một chút rồi ra vẻ quả quyết, nắm chặt tay Hương:
- Nhà mày còn bốn người thôi phải không? Thôi, đi với nhà tao đi.
Hương ngạc nhiên nhìn Oanh. Oanh giải thích:
- Ba tao mạnh lắm! Ổng đã có sẵn giấy ưu tiên số một đi cả gia đình. Nhà tao chỉ có ba người, lại chẳng còn bà con nào ở đây. Hôm qua tao nghe ổng bả bàn nhau coi có bạn bè nào còn kẹt thì kéo đi. Để tao về năn nỉ ông cho nhà mày đi chung luôn.
Tuy chưa có gì chắc chắn nhưng cái tin đó cũng làm Hương mừng rỡ đến nghẹn lời. Ba Oanh biết Hương từ những năm đầu trung học, lúc ông chỉ mới là đại úy vừa đi tu nghiệp ở Okinawa về. Trước đó, viết thư cho ba, Oanh đã nói nhiều về Hương cũng như gởi ông coi hình hai đứa chụp chung, nên khi về nước, vừa gặp Hương là ông biết ngay. Thỉnh thoảng, ông vẫn thường tự tay lái xe đưa Oanh và Hương đi Cấp chơi. Ông rất thương Hương, khen Hương xinh, ngoan, và Oanh vẫn nói chưa có đứa bạn nào của mình được ông than mật như thế. Má Oanh thì cũng đã mấy lần nhờ ba Hương lo giúp những hồ sơ thuế gì đó. Có lẽ với tất cả những điều đó và khả năng dễ dàng ra đi của ông, ba Oanh sẽ đồng ý cho gia đình Hương được cùng đi.
Thế là không khí nhà Hương nhộn nhịp hẳn lên, sau khi được ba má Oanh bằng long nhận giúp. Rồi suốt ngày hôm qua, ông bà Cung tất tả chạy đi bán đổ bán tháo những gì bán được để kiếm tiền đổi thêm đôla. Giá một đôla gần đây đã vượt từ một nghìn đồng lên hai nghìn rưỡi, mấy hôm nay đã đến mức năm nghìn mà kiếm cũng chẳng ra. Chiếc Morris của ông Cung bình thường trị giá hơn triệu bạc, vậy mà giờ bán giấy tay chỉ lấy được hai trăm đôla. Ông Cung cười, nói người ta chịu mua cũng là may. Có lẽ vì người mua đó tin là sẽ có trung lập, mà ông ta trước giờ thân Pháp, chắc kỳ này sẽ có một ghế… Mua sẵn chiếc xe để đến lúc đó lấy uy với thiên hạ…
Đến chiều tối, mọi người cùng tụ họp ở nhà, mệt nhoài. Bà Cung, Hương và Phước cứ ngồi tần ngần hàng giờ trước những vali, không ai thiết ăn uống gì. Ông Cung phải đích than đi chiên trứng để ăn bánh mì, vì đã cho chị bếp nghỉ việc. Hương tiếc vô cùng những bộ quần áo phải bỏ lại vì không đủ chỗ, rồi sách vở, đĩa hát, các thứ. Phước thì ngồi ôm nhựng bộ Spirou, sách tem và hàng lô bộ sưu tập lỉnh kỉnh khác của nó. Bà Cung hì muốn đứt ruột về những chồng chén giã kiểu và một vài món chưa kịp bán của bà. Nhưng biết làm sao! Đi di tản chứ đâu phải dọn nhà. Ông Cung nói vậy và chỉ có ông là có vẻ dứt khoát nhất. Coi như bỏ. Người làm ra của mà, lo gì? Phải chạy để giữ lấy thân đã.
Trong khi chờ đợi, Hương liên tục ôm điện thoại gọi đến nhà Dũng. Đầu dây bên kia, tiếng chuông đổ hàng tràng dài nhưng mãi vân không người bắt máy…
Tin tức đến liền liền như bão táp. Tối qua, Oanh chạy đến cho biết Việt Cộng đang tiến vào Sài Gòn từ bốn phía, và nội ngày hôm nay sẽ có xe của cơ quan D.A.O đến từng nhà những người có phiếu ưu tiên của họ còn kẹt lại để đưa đến những điểm di tản bí mật trong thành phố chờ trực thăng đến đưa đi, chứ không kịp vào phi trường nữa, vả lại phi trường cũng đã nằm trong tầm khống chế oanh kích của đối phương. Ba Oanh đã được người Mỹ đưa đi trước theo cơ quan của ông, và chỉ kịp gửi người mang về cho mẹ Oanh cái phiếu di tản nhiệm màu có đề tên cả gia đình ông Cung trong đó. Nhìn thấy mặt Oanh như người mất hồn, Hương hỏi thì mới biết Hùng đã bất ngờ bị người Mỹ buộc lái máy bay qua Thái Lan rồi. Thế là gia đình Hùng phải kẹt lại mà cái kế hoạch giờ chót Oanh sẽ đi theo Hùng cũng bị phá vỡ. Hương phải an ủi Oanh là trước sau gì hai người cũng gặp lại nhau, Oanh mới hơi yên lòng.
Vì ông Cung đã bán xe, Oanh đã dặn nhà Hương chờ sang sớm nay anh tài xế sẽ đưa xe qua rước sang nhà Oanh, cùng đợi xe của D.A.O đến đón đi.Anh tài này đã được cho phép cùng 9i nên bây giờ bảo gì anh cũng sốt sắng.
Đã bảy giờ sang mà vẫn chưa thấy xe đến. Ông bà Cung đứng ngồi không yên. Giữa lúc ông Cung vừa nhấc điện thoại lên tính gọi đến nhà Oanh lần nữa thì đã nghe tiếng còi xe vang lên ngoài cổng. Oanh chạy nhanh và nhà bạn, hết sức tươi tắn và khỏe mạnh trong chiếc áo pull đỏ và chiếc quần jean nhung bó sát tấm thân cân đối.Cô g*i ríu rít như thể sắp đi nghỉ mát:
- Cả nhà xong hết chưa? Mình đi ngay kẻo không kịp. Rồi kéo tay Hương;
- Đi mày! Ngày mai là mình đã ở nước ngoài. Khỏi phải sợ gì nữa.
Cả gia đình lẳng lặng chuyển đồ ra xe. Theo thói quen, ông Cung cầm theo dây xích để khóa cổng như mỗi lần cả nhà cùng đi đâu xa. Oanh cười:
- Chi vậy Bác? Mình đâu còn trở về nữa.
“ Mình đâu còn trở về nữa”! Câu nói dội lên, nhức buốt tim Hương. Nước mắt vòng quanh, Hương quay lại nhìn căn nhà mà gia đình mình đã mười mấy năm chung sống. Lúc mới dọn về đây, Hương còn học tiểu học, căn nhà chưa có lớp rào ngoài và mới có một tầng trệt, mảnh vườn chung quanh còn xơ xác vài gốc ổi, mần cằn cõi, cỏ dại mọc um tùm. Bây giờ lớp hàng rào gỗ sơn xanh nhạt bên ngoài đã được một giàn hoa tigon hồng phủ kín. Trong vườn có cỏ nhung xanh mượt mời mọc, có lối đi rắc sỏi trắng reo vui dưới chân, có cây sứ đại nở từng chum trắng tinh, có chiếc ghế xích đu thong d**g dưới tàn trứng cá mát rượi… Căn nhà tương đối nhỏ so với nhiều căn nhà khác của bạn bè Hương, nhưng Hương yêu thích nó vô cùng. Chính ở nơi đây đã chứng kiến những ngày lớn lên cùng bao kỷ niệm không quên được của đời Hương. Rồi đây, ai sẽ vào làm chủ căn nhà than yêu này? Họ có biết nâng niu những cánh hồng trong mấy chậu hoa trước cửa sổ phòng Hương, có biết thay màn cửa màu khác vào mỗi sang chủ nhật, có thay nước cho bể cá Tàu hàng tuần…?
Hương cúi mặt bước vào xe. Bước chân này sẽ đưa Hương đến một chân trời nào và cuộc đời Hương từ nay sẽ thay đổi ra sao?