Công an phường Mường Lay - Công an tỉnh Điện Biên

Công an phường Mường Lay - Công an tỉnh Điện Biên Công an phường Mường Lay tiếp nhận thông tin liên quan đến tình hình an ninh trật tự, quản lý hành chính.

CẦN XỬ LÝ NGHIÊM HÀNH VI LỢI DỤNG TIN GIẢ ĐỂ CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚCTrong thời đại số, thông tin đã trở thành một nguồn lực đ...
02/06/2026

CẦN XỬ LÝ NGHIÊM HÀNH VI LỢI DỤNG TIN GIẢ ĐỂ CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC
Trong thời đại số, thông tin đã trở thành một nguồn lực đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp đến nhận thức, thái độ và hành vi của con người. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh và kết nối internet, một thông tin có thể lan truyền tới hàng triệu người trong thời gian rất ngắn. Bên cạnh những lợi ích to lớn mà công nghệ mang lại, sự phát triển của không gian mạng cũng tạo điều kiện cho tin giả, tin sai sự thật và các thông tin xuyên tạc xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều. Đáng lo ngại hơn, một số đối tượng đã cố tình lợi dụng tin giả như một công cụ để chống phá Nhà nước, gây mất ổn định xã hội và làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Chính vì vậy, việc xử lý nghiêm các hành vi này không chỉ là yêu cầu của pháp luật mà còn là đòi hỏi khách quan để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền lợi chính đáng của người dân.
Tin giả vốn không phải là hiện tượng mới. Tuy nhiên, trong môi trường số hiện nay, mức độ nguy hiểm của nó đã gia tăng đáng kể. Nếu như trước đây một thông tin sai lệch chỉ ảnh hưởng trong phạm vi hẹp thì ngày nay, với sự hỗ trợ của mạng xã hội, các nền tảng chia sẻ trực tuyến và công nghệ truyền thông hiện đại, những nội dung bịa đặt có thể lan truyền với tốc độ rất nhanh. Một thông tin chưa được kiểm chứng nhưng đánh trúng tâm lý đám đông có thể tạo ra những tác động xã hội lớn hơn nhiều lần so với một thông tin chính xác nhưng được truyền tải chậm hơn.
Điều đáng nói là nhiều đối tượng không đơn thuần đăng tải thông tin sai sự thật vì thiếu hiểu biết mà chủ động tạo dựng, cắt ghép, xuyên tạc hoặc bóp méo thông tin nhằm phục vụ mục đích chống phá. Chúng thường lợi dụng những sự kiện được dư luận quan tâm như thiên tai, dịch bệnh, các vụ việc phức tạp về kinh tế, xã hội hoặc các quyết sách lớn của Nhà nước để tung ra những thông tin thất thiệt, từ đó kích động tâm lý hoang mang, bất mãn hoặc nghi ngờ trong xã hội.
Một trong những tác hại lớn nhất của việc lợi dụng tin giả để chống phá Nhà nước là làm suy giảm niềm tin xã hội. Khi người dân liên tục tiếp xúc với các thông tin bịa đặt, xuyên tạc hoặc bị dẫn dắt bởi những câu chuyện không có thật, họ có thể hình thành những nhận thức sai lệch về tình hình đất nước, về hoạt động của các cơ quan công quyền hoặc về các chính sách đang được triển khai. Nếu không được ngăn chặn kịp thời, những nhận thức sai lệch đó có thể dẫn đến sự hoài nghi, mất đoàn kết và ảnh hưởng tiêu cực đến sự đồng thuận xã hội.
Không chỉ dừng lại ở tác động về nhận thức, tin giả còn có thể gây ra những hậu quả trực tiếp đối với đời sống kinh tế và xã hội. Có những thông tin thất thiệt làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; có những tin đồn gây tâm lý hoảng loạn trong cộng đồng; cũng có những nội dung xuyên tạc khiến hình ảnh, uy tín của tổ chức và cá nhân bị tổn hại nghiêm trọng. Trong nhiều trường hợp, hậu quả vật chất và tinh thần mà tin giả gây ra rất khó khắc phục hoàn toàn.
Các thế lực thù địch thường coi không gian mạng là một mặt trận để tiến hành các hoạt động chống phá bằng phương thức phi truyền thống. Thay vì sử dụng những luận điệu công khai cực đoan, họ thường lựa chọn cách tiếp cận tinh vi hơn thông qua việc gieo rắc thông tin sai lệch, tạo dựng các câu chuyện có vẻ hợp lý, sử dụng hình ảnh hoặc video đã bị cắt ghép để đánh lừa người xem. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra sự nhiễu loạn thông tin, làm suy yếu niềm tin vào các thiết chế chính trị, từ đó phục vụ những ý đồ chống phá lâu dài.
Trong bối cảnh đó, việc xử lý nghiêm hành vi lợi dụng tin giả để chống phá Nhà nước là hoàn toàn cần thiết. Đây không phải là việc hạn chế quyền tự do ngôn luận hay ngăn cản người dân bày tỏ chính kiến, mà nhằm bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng như bảo đảm sự ổn định của xã hội. Một xã hội dân chủ không thể tồn tại trên nền tảng của những thông tin giả mạo, xuyên tạc hoặc cố tình bịa đặt.
Mặt khác, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm còn góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người khi tham gia môi trường mạng. Trong thời đại mà bất kỳ ai cũng có thể trở thành người tạo lập và chia sẻ nội dung, việc sử dụng thông tin có trách nhiệm là yêu cầu không thể thiếu. Mỗi lượt chia sẻ, mỗi bình luận hoặc mỗi bài đăng đều có thể tạo ra những tác động nhất định đối với cộng đồng. Vì vậy, việc tuân thủ pháp luật và tôn trọng sự thật cần trở thành chuẩn mực ứng xử trên không gian số.
Để ngăn chặn hiệu quả việc lợi dụng tin giả chống phá Nhà nước, bên cạnh các biện pháp pháp lý, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục kỹ năng số và nâng cao khả năng nhận diện thông tin sai lệch cho người dân. Mỗi công dân cần chủ động kiểm chứng nguồn tin, không vội vàng tin theo hoặc chia sẻ những nội dung chưa được xác thực. Đồng thời, các cơ quan báo chí, truyền thông cần phát huy vai trò định hướng dư luận, cung cấp thông tin nhanh chóng, chính xác và khách quan.
Có thể khẳng định rằng, xử lý nghiêm hành vi lợi dụng tin giả để chống phá Nhà nước là yêu cầu cần thiết nhằm bảo vệ sự thật, bảo vệ lợi ích quốc gia và giữ gìn môi trường thông tin lành mạnh. Trong kỷ nguyên số, bảo vệ an ninh thông tin không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Khi mỗi người dân trở thành một chủ thể có trách nhiệm trong tiếp nhận và chia sẻ thông tin, sức sống của tin giả sẽ bị thu hẹp, còn sự thật sẽ có điều kiện được lan tỏa mạnh mẽ hơn trong đời sống xã hội./ Ẩn bớt

THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY
02/06/2026

THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY

THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta hệ thống tư tưởng lý luận có giá trị to lớn, trong đó có vấn đề thực hành dân chủ trong Đảng. Trước yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, việc quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng để góp phần tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động. Điều này được Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần khẳng định, xem tư tưởng Hồ Chí Minh như “ngọn đuốc soi đường, đưa cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng vượt mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên nhiều kỳ tích”(1). Đặc biệt, trong bài phát biểu định hướng tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2024, triển khai công tác năm 2025 của Chính phủ và chính quyền địa phương, Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết về xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân “trên nguyên tắc dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch và trong sạch”; đồng thời, khẳng định “cán bộ, đảng viên phải gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”(2).

Những quan điểm nêu trên của người đứng đầu Đảng ta cho thấy, muốn củng cố và nâng cao sức mạnh của Đảng, trước hết cần thực hành và phát huy dân chủ từ trong Đảng; đồng thời, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng, xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân. Trong bối cảnh đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển vươn mình, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, việc làm rõ nội dung, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng

Trên hành trình tìm đường cứu nước và với tầm nhìn thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ giá trị của dân chủ và mục đích phải hiện thực hóa giá trị dân chủ tại Việt Nam. Theo Người, mục đích của thực hành dân chủ là “để làm cho dân ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do”(3); vai trò của thực hành dân chủ là giúp việc khó hóa dễ, “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(4); cách thức “thực hành dân chủ, nghĩa là công việc đều phải bàn bạc với xã viên, cán bộ không được quan liêu, mệnh lệnh”(5).

Trong lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, thực hành dân chủ trong Đảng là một nội dung quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh và được thể hiện qua một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, thực hành dân chủ trong công tác lập kế hoạch, xây dựng chủ trương, đường lối.

Trong công tác lập kế hoạch, xây dựng và triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, yêu cầu quan trọng là cần thông tin, bàn bạc với đảng viên và quần chúng nhân dân để thâu thái được nhiều ý kiến đóng góp; qua đó, đi đến quyết định, lựa chọn tốt nhất. Người chỉ rõ: “Tập trung trên nền tảng dân chủ là các đảng viên có quyền thảo luận chính sách của Đảng, rồi tập trung ý kiến lên Trung ương, còn dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung là vì nếu cái gì không nên bàn cũng cứ bàn ắt hỏng, cái gì đã bàn rồi thì phải đưa lên. Khi bên trên ra lệnh thì bên dưới phải thi hành, phải tuân theo. Tập trung mà không dân chủ thì đi đến độc tài, dân chủ mà không tập trung thì dân chủ quá trớn,... càng dân chủ thì càng phải tập trung”(6).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”(7). Có lãnh đạo tập thể mới huy động được trí tuệ, tri thức, sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân vào việc xây dựng chủ trương, đường lối, cách thức, bước đi đúng hướng, đạt hiệu quả tối đa. Trái lại, “lãnh đạo không tập thể thì sẽ đi đến cái lệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc”. Còn phụ trách phải do cá nhân đảm nhiệm thì công việc mới đạt kết quả cao. Nếu “phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc”(8). Vì vậy, nguyên tắc tập trung dân chủ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong các khâu thực hành dân chủ trong Đảng.

Hơn nữa, trong công tác triển khai chủ trương, đường lối của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng khâu kiểm tra, giám sát. Người coi đây là một trong những nội dung cốt yếu của thực hành dân chủ trong Đảng và nâng lên thành một trong những phong cách lãnh đạo dân chủ.

Thứ hai, tạo dựng phong cách lãnh đạo dân chủ trong Đảng.

Về cơ bản, thực hành dân chủ trong Đảng không thể thiếu việc tạo dựng phong cách lãnh đạo dân chủ ở người cán bộ, đảng viên. Phong cách lãnh đạo dân chủ của người cán bộ, đảng viên thể hiện ở việc luôn lắng nghe ý kiến của tập thể, của nhân dân. Người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, phải tôn trọng, lắng nghe và chịu sự kiểm tra của cấp dưới, của quần chúng nhân dân. Không chỉ thảo luận một cách dân chủ trong nội bộ đảng viên, mà theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “còn phải nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng. Nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với nhân dân. Đó là một vấn đề rất trọng yếu cho cách làm việc của Đảng”(9).

Người lãnh đạo, quản lý phải bàn bạc, liên hệ chặt chẽ với cấp dưới và quần chúng nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giải thích điều nhân dân chưa hiểu để có quyết sách phù hợp với lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Có như vậy, chủ trương, đường lối của Đảng mới phù hợp với lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, mới thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống. Do vậy, muốn thực hiện phong cách lãnh đạo dân chủ một cách thực chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”. Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng”(10)
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hành dân chủ là phải khéo kiểm soát để bao nhiêu khuyết điểm bộc lộ ra hết và dần dần sẽ bớt đi. Tuy nhiên, để kiểm soát đạt kết quả tốt, cần thực hiện theo hai cách: “Một cách là từ trên xuống. Tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả những công việc của cán bộ mình. Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó”(11). Nếu không được giám sát chặt chẽ thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý rất dễ rơi vào tha hóa, lạm quyền, lộng quyền và cuối cùng trở nên độc đoán, độc tài. Điều này làm giảm sút tính chiến đấu của tổ chức đảng, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, cơ quan, đơn vị, đặc biệt là sẽ làm mất đi niềm tin của nhân dân. Tạo dựng phong cách lãnh đạo dân chủ sẽ khuyến khích tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên; qua đó, tăng cường sự trong sạch, văn minh trong Đảng.

Thứ ba, thực hành dân chủ trong cách thức sinh hoạt đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của việc thực hiện nền nếp nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Theo Người, trong Đảng không tránh khỏi khuyết điểm, nhưng một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Vì vậy, chỉ có “thang thuốc” hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình với mục đích là cho mọi người học hỏi ưu điểm của nhau và giúp nhau sửa chữa khuyết điểm - đó chính là cách thức sinh hoạt đảng hữu hiệu.

Không dễ để phê bình, người bị phê bình có thể không chấp nhận ý kiến nhận xét, đánh giá về mình. Người phê bình có thể chịu thái độ thù địch hoặc oán giận; có thể không thấy lợi ích gì mà chỉ thấy mất đoàn kết; hoặc cũng có khi do động cơ cá nhân mà dùng lời cay nghiệt để làm tổn thương người bị phê bình. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, phê bình phải triệt để, trung thực, không phóng đại, không giảm bớt. Người phê bình phải chỉ rõ cả ưu điểm và khuyết điểm, phê việc chứ không phê người, tránh nói lời cay độc, phải giúp đỡ nhau khắc phục lỗi lầm; còn người bị phê bình phải chấp nhận việc phê bình để sửa chữa, không nản lòng, thù hận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú trọng quyền được nêu ý kiến trong sinh hoạt đảng. Người căn dặn, phải thực hành dân chủ trong sinh hoạt đảng để bảo đảm quyền làm chủ, khuyến khích tính chủ động, tâm huyết của đảng viên, làm gương cho quần chúng nhân dân noi theo. Cần khuyến khích đảng viên phát biểu ý kiến, thực hiện phê bình và tự phê bình một cách thiết thực; qua đó, nâng cao tính tự chủ, tính năng động, sáng tạo của đảng viên, ngăn ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong cuộc vận động xây dựng Điều lệ Đảng chuẩn bị cho Đại hội III của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”(12).

Để thực hành dân chủ trong sinh hoạt đảng thực sự hiệu quả, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài khuyến khích việc nêu ý kiến của cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng, thì còn phải lưu ý đến thái độ, phong cách của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng. Người chỉ rõ, “muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc. Muốn như thế phải thực hành những điểm này: 1. Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến… Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng... Việc gì cấp trên cũng nhúng vào, cán bộ cũng như một cái máy, việc gì cũng chờ mệnh lệnh, sinh ra ỷ lại, mất hết sáng kiến”(13). Như vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần đặt niềm tin vào cán bộ cấp dưới của mình, khuyến khích họ nêu ý kiến, làm cho họ thấy rõ lợi ích thiết thực từ những gì họ đang tham gia đóng góp.

Thứ tư, thực hành dân chủ trong công tác tổ chức - cán bộ.

Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ và tầm quan trọng của công tác cán bộ. Người nhiều lần nhấn mạnh, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(14). Chính vì vai trò quan trọng của công tác tổ chức - cán bộ, mà ngay từ khâu lựa chọn kết nạp đảng viên mới, Người nhấn mạnh phải giữ đúng điều kiện Trung ương đã quy định và kết hợp với công tác khác; đặc biệt, phải dựa vào quần chúng nhân dân mà xem xét cẩn thận. Quần chúng nhân dân chính là “tai mắt” của Đảng trong đánh giá trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, chất lượng của người đảng viên.

Trong quá trình xem xét bổ nhiệm cán bộ vào vị trí chủ chốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý cần xem người đó có gần gũi quần chúng nhân dân không, có được nhân dân tin cậy và mến phục, có hiểu dân chúng, có liên lạc mật thiết với dân chúng không?... Bởi vì quần chúng nhân dân rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong công việc chỉnh đốn Đảng, cũng như trong mọi công việc khác, quyết phải thực hành cách liên hợp sự lãnh đạo với quần chúng và liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng. Phải dùng cách “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng””(15).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Đồng thời, do sự dùi mài của dân chúng, cán bộ và dân chúng đều tiến bộ, lại do đó, cán bộ và dân chúng đoàn kết chặt chẽ thêm”(16). Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không thể đạt kết quả tốt nếu không có sự tham gia của quần chúng nhân dân. Tôn trọng góp ý của quần chúng nhân dân chính là thể hiện sự tin tưởng của Đảng đối với nhân dân; qua đó, cũng là cách thức phát huy dân chủ trong nhân dân.

Ý nghĩa, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng đối với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Tình hình trong nước và thế giới hiện nay có nhiều thay đổi, tác động không nhỏ đến nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên. Trình độ giác ngộ chính trị, tư tưởng, việc rèn luyện đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng viên không ngừng được nâng cao, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh chính trị, dễ bị lôi kéo, tác động tiêu cực, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng có ý nghĩa, giá trị sâu sắc; cụ thể:

Một là, củng cố niềm tin của nhân dân, đảng viên vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân Việt Nam biết ơn, tôn vinh và được thế giới kính trọng, biết đến là vị anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, danh nhân văn hóa kiệt xuất. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị trong đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước, là ngọn cờ dẫn dắt dân tộc Việt Nam đến phồn vinh, hạnh phúc. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn, nhất quán, quán triệt, vận dụng, bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Đây chính là nhân tố quyết định, làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Do đó, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ tạo ra niềm tin vững chắc trong quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Cuộc đời và sự nghiệp của Người đã trở thành biểu tượng cách mạng, khơi dậy khát vọng và niềm tin cho nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ thế giới trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội”(17).

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay sẽ là một trong những yếu tố vun đắp niềm tin của mỗi cán bộ, đảng viên và của quần chúng nhân dân vào sự thành công của công tác này, góp phần làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: “Hồ Chí Minh đã làm gương mẫu để xây dựng Đảng. Tấm gương của lãnh tụ được sự hưởng ứng tự nguyện và nhiệt tình của toàn Đảng, đã tạo nên khuôn phép chặt chẽ và thiêng liêng, để lại truyền thống tốt đẹp về Đảng và sự lãnh đạo của Đảng”(18).

Hai là, tạo dựng nền tảng lý luận cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng trở thành nền tảng lý luận vững chắc trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Những lý luận của Người về thực hành dân chủ trong Đảng cho thấy sự chặt chẽ trong cách thức thực hành, phù hợp với điều kiện và thực tiễn cách mạng nước ta. Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn, nhất quán, quán triệt và vận dụng linh hoạt, hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta luôn nhấn mạnh, Đảng phải liên hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đảng luôn khuyến khích đội ngũ cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám tham gia thảo luận, mạnh dạn phát biểu ý kiến, dám chịu trách nhiệm, dám đảm đương công việc vì lợi ích chung. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng hoàn toàn vì lợi ích của nhân dân và lợi ích của quốc gia - dân tộc.

Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ cũng chính là công cụ hữu hiệu nhằm củng cố bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đẩy lùi hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Ba là, góp phần phát huy vai trò to lớn của thực hành dân chủ trong Đảng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Thực hành dân chủ trong Đảng không chỉ là nguyên tắc tổ chức, mà còn là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự minh bạch, công bằng và hiệu quả trong mọi hoạt động của Đảng. Điều này đòi hỏi quá trình thực hiện dân chủ được tiến hành một cách thuần thục, thường xuyên, trở thành chế độ và nền nếp trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng. Nếu không có sự duy trì và thực hành dân chủ thực chất thì công tác triển khai rất dễ rơi vào hiện tượng dân chủ hình thức, làm mất đi giá trị cốt lõi của dân chủ và không thấy được vai trò thực sự của dân chủ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Trong những năm gần đây, Đảng ta đã thực hiện một cách linh hoạt và nền nếp nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Các biện pháp, như lấy phiếu tín nhiệm tại các cơ quan, tổ chức đảng và nhận xét đảng viên sinh hoạt nơi cư trú đã trở thành một khâu quan trọng trong việc thúc đẩy dân chủ nội bộ. Các biện pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng lãnh đạo, mà còn góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo đức và trình độ chuyên môn của mỗi cán bộ, đảng viên. Cùng với đó, thông qua quá trình tự phê bình và phê bình, mỗi đảng viên có điều kiện tự nhìn nhận lại bản thân mình; từ đó, không ngừng tu dưỡng phẩm chất đạo đức và trau dồi trình độ chuyên môn để xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân và sự tin tưởng của Đảng.

Với niềm tin yêu sâu sắc của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về thực hành dân chủ trong Đảng đã trở thành “kim chỉ nam”, góp phần vào thành công chung của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Sự thành công này không chỉ thể hiện qua việc củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, mà còn thể hiện trong nâng cao hiệu quả lãnh đạo và quản lý, bảo đảm cho Đảng ta luôn giữ vững vai trò tiên phong, dẫn dắt sự phát triển của đất nước. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng đã chứng minh giá trị bền vững, mang lại hiệu quả thiết thực trong các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi Đảng phải đối mặt với nhiều thách thức mới, phức tạp hơn trong quá trình lãnh đạo, phát triển đất nước.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng thể hiện tầm nhìn thời đại của Người, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận và tổng kết thực tiễn về thực hành dân chủ trong Đảng, giúp Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”./.

LÒNG TIN VÀ LUẬT LỆ
02/06/2026

LÒNG TIN VÀ LUẬT LỆ

LÒNG TIN VÀ LUẬT LỆ

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh mọi điều chỉnh của trật tự quốc tế phải diễn ra bằng “luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế”... giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin
Có những cuộc khủng hoảng đến rất nhanh. Một sự cố trên tuyến hàng hải chiến lược có thể làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu. Một điểm nóng khu vực có thể tác động tới giá năng lượng thế giới. Một tính toán sai lầm có thể đẩy những khác biệt lợi ích thành đối đầu quân sự. Nhưng đáng suy ngẫm là phần lớn những cuộc khủng hoảng lớn không bắt đầu từ biến cố lớn mà từ những nghi kỵ không được hóa giải, những tín hiệu không được giải mã đúng và những cơ chế phòng ngừa không kích hoạt kịp thời. Đó cũng là một trong những thông điệp xuyên suốt trong phát biểu đề dẫn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23.
Trong bối cảnh thế giới đứng trước nhiều bất định, bài phát biểu người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam không chỉ nhìn vào những điểm nóng trước mắt mà còn chỉ ra những nguyên nhân sâu xa đang làm gia tăng rủi ro đối với hòa bình, ổn định và phát triển. Từ đó, gợi mở một yêu cầu ngày càng cấp thiết: Chuyển từ ứng phó bị động sang kiến tạo chủ động; từ quản lý khủng hoảng sau khi xảy ra sang giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát.
Điều đáng chú ý là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không tiếp cận những bất ổn hiện nay như những hiện tượng riêng lẻ. Đằng sau các cuộc xung đột, những căng thẳng thương mại, cạnh tranh công nghệ hay các điểm nóng trên biển là ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời. Đó là khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Ba cuộc khủng hoảng ấy tác động lẫn nhau và đang làm cho môi trường quốc tế trở nên khó dự báo. Khi luật lệ vẫn được nhắc đến nhưng sức ràng buộc suy giảm, khi cam kết vẫn được tuyên bố nhưng hành động thực tế lại không nhất quán, khi sức mạnh có nguy cơ được đặt cao hơn luật pháp quốc tế, bất ổn sẽ gia tăng. Trong những hoàn cảnh như vậy, các quốc gia vừa và nhỏ thường là những bên chịu tác động đầu tiên và buộc phải đối mặt với sức ép chọn phe.
Và khi ấy, tư duy “cá lớn nuốt cá bé” có nguy cơ quay trở lại trong quan hệ quốc tế dưới những hình thức mới!
Bởi vậy, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh mọi điều chỉnh của trật tự quốc tế phải diễn ra bằng “luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế”, không thể bằng cưỡng ép, áp đặt hay tạo ra “sự đã rồi”, đó không chỉ là một nguyên tắc ứng xử. Đó còn là một đòi hỏi của thực tiễn.
Lịch sử Việt Nam là minh chứng cho điều ấy. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh, dân tộc ta hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình và một bài học quan trọng là hòa bình chỉ thực sự bền vững khi gắn liền với phát triển. Chính trong bài phát biểu lần này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững”. Đây không phải là nhận định mang tính lý luận đơn thuần mà là kết luận được đúc rút từ chính thực tiễn phát triển của Việt Nam.
Năm 1986, khi công cuộc Đổi mới bắt đầu, đất nước đứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng với mức siêu lạm phát đỉnh điểm lên tới 774%. Nền kinh tế khép kín, chủ yếu dựa vào bao cấp, hàng hóa khan hiếm còn đời sống người dân nhiều thiếu thốn, mức thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 100 USD/năm.
Nhưng sau 40 năm Đổi mới, quy mô nền kinh tế Việt Nam đã vượt 500 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người năm 2025 khoảng 5.026 USD, còn tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hơn 930 tỷ USD. Từ quốc gia thiếu lương thực, Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, đồng thời tham gia sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Những con số ấy không chỉ phản ánh sự tăng trưởng của nền kinh tế. Quan trọng hơn, chúng cho thấy phát triển tạo ra nguồn lực để bảo đảm an sinh xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, nâng cao sức chống chịu của quốc gia và tăng cường vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
Thực tiễn ấy chính là minh chứng sinh động cho luận điểm mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu cơ hội vươn lên bị thu hẹp, thì sự "tròng trành" về kinh tế của các nước đang phát triển rất dễ chuyển hoá thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược.
Nhìn ra khu vực, ASEAN cũng là minh chứng thuyết phục cho sức mạnh của đối thoại, hợp tác. Nửa thế kỷ trước, Đông Nam Á từng là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của Chiến tranh Lạnh. Những khác biệt về thể chế, lợi ích và lựa chọn phát triển từng tạo ra nhiều chia rẽ. Nhưng thay vì để những khác biệt ấy trở thành đường ranh chia cắt, đối đầu, các quốc gia trong khu vực đã lựa chọn đối thoại, xây dựng lòng tin và thúc đẩy hợp tác.
Ngày nay, ASEAN là cộng đồng với khoảng 700 triệu dân, chiếm 8,5% tổng dân số toàn cầu và tổng GDP ước khoảng 4.000 tỷ USD, nằm trong nhóm những trung tâm tăng trưởng năng động nhất thế giới. Thành công ấy không đến từ xóa bỏ khác biệt hay phủ nhận cạnh tranh, mà từ quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Và thành công đó dựa trên trật tự khu vực bền vững chứ không phải nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau.
Nên khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh đối đầu đó không chỉ là một cảnh báo trước những xu hướng phân mảnh đang nổi lên. Đó còn là sự đúc kết từ chính bài học phát triển của khu vực châu Á -Thái Bình Dương.
Nếu nhìn lại những lần Việt Nam tham gia Đối thoại Shangri-La trong hơn một thập niên qua, có thể thấy phát biểu lần này không phải là một thông điệp xuất hiện riêng lẻ.
Từ yêu cầu xây dựng lòng tin chiến lược, đề cao trách nhiệm của các quốc gia trong duy trì hòa bình, ổn định khu vực, đến chủ trương không tham gia liên minh quân sự, không dựa vào nước này để chống nước kia, tôn trọng luật pháp quốc tế; từ quan điểm không để Biển Đông trở thành điểm nóng xung đột đến thông điệp hôm nay là không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh đối đầu- tất cả đều phản ánh sự nhất quán trong tư duy đối ngoại của Việt Nam.
Tư duy ấy đang được phát triển thêm một bước, đó là quản trị khủng hoảng lòng tin chiến lược, giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa. Và thay vì tập trung vào những thách thức truyền thống, nay mở rộng sang các thách thức mới như AI, dữ liệu lớn, không gian mạng, hạ tầng số và an ninh thông tin.
Vì vậy, điều châu Á - Thái Bình Dương hôm nay cần không phải là những tuyên bố nguyên tắc, mà là những cơ chế có thể vận hành trong thực tế, là nhận diện và giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát. Sự lựa chọn không phải là giữa cạnh tranh hay không cạnh tranh, mà quan trọng hơn là giữa cạnh tranh thiếu kiểm soát và cùng tồn tại có trách nhiệm; giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin.
Từ lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, từ 40 năm Đổi mới và từ những kinh nghiệm hợp tác của khu vực, Việt Nam có cơ sở để khẳng định rằng hòa bình, ổn định và phát triển không phải là những mục tiêu tách rời. Đó là những giá trị gắn bó với nhau và chỉ có thể được bảo đảm bằng đối thoại, hợp tác, tôn trọng luật pháp quốc tế cùng nỗ lực kiến tạo ổn định từ sớm, từ xa.
Trong một thế giới nhiều biến động, đó không chỉ là lựa chọn của Việt Nam!./.

Address

Muong Lay

Telephone

02153852486

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công an phường Mường Lay - Công an tỉnh Điện Biên posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Công an phường Mường Lay - Công an tỉnh Điện Biên:

Share

Category