14/05/2026
HIỂU ĐÚNG VỀ GDP VÀ GRDP
Mỗi kỳ công bố số liệu kinh tế – xã hội, các chỉ tiêu GDP và GRDP luôn nhận được sự quan tâm lớn từ cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Được xem là thước đo sức khỏe nền kinh tế, các con số này giúp phác họa bức tranh sản xuất và định hướng đầu tư hiệu quả. Để đảm bảo tính chính xác, quy trình biên soạn GDP và GRDP phải tuân thủ hệ thống phương pháp luận khoa học cùng các quy định thống kê hiện hành.
GDP và GRDP là tổng giá trị tăng thêm theo ngành kinh tế, tức là đo lường kết quả sản xuất cuối cùng sau khi đã trừ đi chi phí trung gian, chứ không phải doanh thu hay tổng giá trị sản xuất. Việc không nắm vững bản chất chỉ tiêu dễ dẫn đến những đánh giá chưa đầy đủ về tình hình kinh tế. Chẳng hạn, tăng trưởng GDP cao chưa đủ để phản ánh mức sống hay sự giàu có của người dân; hoặc biến động số liệu có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố phi sản xuất như thuế, trợ cấp hay sự thay đổi về giá. Thực tế cho thấy, việc thống nhất cách hiểu đúng và đầy đủ về phương pháp luận của các chỉ tiêu này là điều cần thiết đối với cả nhà hoạch định chính sách lẫn cộng đồng doanh nghiệp để đưa ra các quyết định chính xác.
GDP, GRDP là gì và những hoạt động nào được tính vào GDP, GRDP?
Về khái niệm, GDP và GRDP là giá trị thị trường của tất cả sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm hoặc một quý); trong đó GDP tính cho phạm vi cả nước, còn GRDP tính cho phạm vi một tỉnh, thành phố.
Nguyên tắc quan trọng nhất của chỉ tiêu này là không tính trùng. Do đó, giá trị của các yếu tố đầu vào (chi phí trung gian) đã được sử dụng trong quá trình sản xuất sẽ bị loại trừ. Ví dụ: Nếu một doanh nghiệp bán sản phẩm với giá 100 nghìn đồng, nhưng đã chi 80 nghìn đồng để mua nguyên liệu, thì phần đóng góp vào GDP/GRDP chỉ là 20 nghìn đồng. Đây chính là phần giá trị tăng thêm thực tế mà nền kinh tế tạo ra.”.
Chỉ những hoạt động thuộc phạm vi sản xuất mới được tính vào GDP, GRDP. Theo đó, các hoạt động sau sẽ được tính vào GDP, GRDP
(1) Hoạt động sản xuất thị trường (nghĩa là sản phẩm vật chất và dịch vụ sản xuất ra được mua bán và định giá theo giá thị trường) bao gồm: hoạt động sản xuất, kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp (gồm cả doanh nghiệp FDI cho dù lợi nhuận có thể chuyển về nước hết), của các cơ sở kinh doanh cá thể và đơn vị sự nghiệp trong các ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
(2) Hoạt động sản xuất dùng cho mục đích tự sử dụng cuối cùng. Đây là các hoạt động sản xuất không qua trao đổi thị trường nhưng vẫn tạo ra tài sản hoặc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cuối cùng, bao gồm: Giá trị nông sản, lâm sản, thủy sản mà hộ gia đình sản xuất ra và giữ lại để tự tiêu dùng (ví dụ: nông dân trồng lúa để ăn); Giá trị dịch vụ nhà ở do các hộ gia đình tự có nhà để ở tạo ra (còn gọi là giá trị cho thuê được quy đổi); hoạt động xây dựng, lắp đặt, chế tạo máy móc, thiết bị mới để sử dụng cho hoạt động sản xuất hoặc tiêu dùng lâu dài của chính đơn vị đó.
(3) Hoạt động sản xuất phi thị trường là các hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước và các tổ chức không vì lợi phục vụ hộ gia đình (NPISH) cung cấp miễn phí hoặc mức phí tượng trưng nhằm đảm bảo công bằng xã hội và khả năng tiếp cận cho mọi người dân, không nhằm mục đích lợi nhuận. Ví dụ: dịch vụ công công, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính Nhà nước, giáo dục công lập, y tế công lập, v.v.
Tuy nhiên, các hoạt động sau KHÔNG thuộc phạm vi sản xuất và không tính vào GDP, GRDP:
(1) Hoạt động dịch vụ do thành viên HGĐ tự sản xuất ra (trừ dịch vụ nhà tự có tự ở) như: Dọn dẹp, trang trí và bảo dưỡng nhà ở của hộ dân cư, bao gồm cả sửa chữa nhỏ do người thuê nhà cũng như người trong gia đình sở hữu nhà cho thuê làm; Làm sạch, chăm sóc và sửa chữa các đồ dùng lâu bền hoặc các sản phẩm vật chất khác, bao gồm cả xe cộ phục vụ cho hộ dân cư; Chuẩn bị và dọn bữa ăn; Chăm sóc, dạy dỗ và giáo dục con cái; Chăm sóc người ốm, người tàn tật hoặc người già là thành viên của hộ dân cư; Chuyên chở các thành viên của hộ dân cư hoặc hành lý, của cải của chính họ. Ví dụ: Bố chở con đi học không được tính vào GDP, GRDP nhưng nếu cho con thuê cho hàng xóm lại được tính vào GDP. Người mẹ nấu ăn cho gia đình mình không được tính vào GDP, GRDP nhưng nếu sang nấu thuê cho nhà hàng xong lại được tính vào GDP.
(2) Hoạt động kinh tế bất hợp pháp gồm: Sản xuất các sản phẩm vật chất và dịch vụ mà việc bán, phân phối hay sở hữu chúng bị luật pháp nghiêm cấm; Các hoạt động sản xuất hợp pháp nhưng trở thành bất hợp pháp khi người sản xuất không có giấy phép, thí dụ các bác sỹ y khoa hành nghề không có giấy phép… Ở VN, các hoạt động bất hợp pháp như: hoạt động chế biến và phân phối ma túy; hoạt động buôn bán người; hoạt động mại dâm; hoạt động mê tín dị đoan, cho vay nặng lãi, đánh bạc … không thuộc phạm vi sản xuất và không tính vào GDP, GRDP
(3) Các khoản chuyển nhượng, chuyển giao thu nhập như Trợ cấp xã hội, lương hưu (trả từ quỹ BHXH), học bổng, phong bì, tiền cho tặng, v.v…; hoặc các khoản thu nhập từ sở hữu tài sản như cổ tức, tiền lãi ngân hàng, lãi trái phiếu, thu cho thuê vùng trời, vùng biển, vùng phủ sóng radio, vệ tinh v.v…
Ai là chủ thể tạo ra GDP, GRDP?
GDP của Việt Nam phải do các đơn vị thường trú của Việt Nam tạo ra trên lãnh thổ kinh tế quốc gia và GRDP của các tỉnh, thành phố phải do các đơn vị thường trú của tỉnh tạo ra trên lãnh thổ hành chính của tỉnh, thành phố.
Lãnh thổ kinh tế của một quốc gia bao gồm:
(1) Vùng đất, vùng trời, vùng nước bao gồm các đảo, thềm lục địa nằm trong lãnh hải quốc gia và quốc tế mà quốc gia có quyền bất khả xâm phạm về chủ quyền, về khai thác hải sản và các tài nguyên, khoáng sản, khí đốt,…;
(2) Vùng đất đặc quyền ngoại giao ở nước ngoài như: đại sứ quán, lãnh sự quán, khu quân sự, các trạm nghiên cứu khoa học, văn phòng nhập cư, văn phòng ngân hàng trung ương được miễn trừ ngoại giao… với sự thỏa thuận chính thức của Chính phủ nơi đặt trụ sở.
Đơn vị thường trú của Việt Nam bao gồm:
(1) Tổ chức kinh tế được thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam;
(2) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của Việt Nam hoạt động tại Việt Nam;
(3) Văn phòng đại diện tại nước ngoài của các tổ chức quy định tại các điểm 1 và 2;
(4) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự, cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế, đại diện quốc phòng, an ninh, trạm nghiên cứu của Việt Nam ở nước ngoài;
(5) Công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam; công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thời hạn dưới 12 tháng; công dân Việt Nam làm việc tại các tổ chức quy định tại điểm 3 và điểm 4 và cá nhân đi theo họ;
(6) Công dân Việt Nam đi du lịch, học tập, chữa bệnh và thăm viếng ở nước ngoài;
(7) Người nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam với thời hạn từ 12 tháng trở lên; trừ trường hợp người nước ngoài học tập, chữa bệnh, du lịch, người nước ngoài làm việc cho cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam không kể thời hạn;
(8) Chi nhánh tại Việt Nam của tổ chức kinh tế nước ngoài, các hình thức hiện diện tại Việt Nam của bên nước ngoài tham gia hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, văn phòng điều hành của nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam.
Ngoài các đối tượng nêu trên, các đối tượng còn lại là “Đơn vị không thường trú” của Việt Nam.
GDP chỉ phù hợp cho phạm vi quốc gia, còn GRDP là trường hợp vận dụng các nguyên tắc tính của quốc gia để áp dụng cho các tỉnh nên có sự khác nhau về khái niệm “lãnh thổ kinh tế” và “lãnh thổ hành chính” giữa GDP và GRDP. Lãnh thổ kinh tế chỉ có ở cấp quốc gia thuộc quản lý của chính quyền trung ương, không có ở cấp tỉnh, thành phố và thường rộng hơn lãnh thổ hành chính. Ngoài ra, xác định đơn vị thường trú ở cấp tỉnh, thành phố cũng chi tiết và phức tạp hơn so với cấp quốc gia vì lúc này ranh giới hành chính tỉnh xuất hiện thay vì ranh giới quốc gia như GDP
Phương pháp tính GDP, GRDP
GDP có thể được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau; mỗi góc nhìn cho thấy biểu hiện các mặt của GDP.
– Từ góc độ sản xuất cho thấy kết quả sản xuất cuối cùng của các ngành kinh tế tạo ra
GDP = Tổng giá trị tăng thêm + Thuế sản phẩm – Trợ cấp sản phẩm.
– Từ góc độ sử dụng (chi tiêu) phản ánh quá trình sử dụng kết quả sản xuất cuối cùng của các ngành kinh tế cho các mục đích tiêu dùng, tích lũy, xuất khẩu
GDP = Tiêu dùng cuối cùng + Tích lũy tài sản + Xuất khẩu – Nhập khẩu
– Từ góc độ thu nhập phản ánh thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy móc
GDP = Thu nhập lao động + Thuế sản xuất (trừ trợ cấp) + Khấu hao tài sản cố định + Thặng dư sản xuất/thu nhập hỗn hợp.
Ở Việt Nam, GDP được biên soạn chủ yếu theo phương pháp sản xuất, phương pháp sử dụng hằng quý, năm; còn phương pháp thu nhập chỉ biên soạn 5 năm/lần. nhưng tần suất công bố khác nhau. GRDP chỉ được biên soạn theo phương pháp sản xuất hằng quý, năm; không đủ thông tin để biên soạn theo phương pháp sử dụng
Hiểu GDP, GRDP thế nào cho đúng?
GDP/GRDP là chỉ tiêu dùng để đo lường kết quả và năng lực sản xuất của nền kinh tế, không phải là thước đo trực tiếp và duy nhất phản ánh mức sống hay phúc lợi xã hội. GDP/GRDP tăng cao chưa chắc đã đi kèm với chất lượng môi trường tốt hơn, phân phối thu nhập công bằng hơn, hoặc mức sống người dân tăng tương ứng.
Thu ngân sách cao chưa chắc là hệ quả của tăng trưởng. Thu Ngân sách bao gồm mọi loại thuế, phí và thu từ đất đai. Trong thu ngân sách, trừ thuế sản phẩm được tính vào GDP, còn lại đều KHÔNG được tính vào GDP. Ngoài ra, thu ngân sách luôn có độ trễ do các chính sách thuế như gia hạn nộp thuế, hoãn thuế, hoàn thuế… nên thuế cao chưa hẳn song trùng với sản xuất. Do đó, thu ngân sách cao nhất là thu từ đất đai hoặc từ thuế thu nhập không phản ánh tăng trưởng GDP.
Hoạt động du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp được tính vào GDP không chỉ gồm thu từ hoạt động bán vé ở các điểm du lịch mà còn bao gồm các khoản chi tiêu của khách du lịch cho các hoạt động hỗ trợ du lịch như: bán lẻ, vận tải, lưu trú ăn uống, thể thao, vui chơi giải trí v.v… Trong GDP, không có ngành kinh tế du lịch độc lập mà chỉ có hoạt động du lịch lữ hành; các hoạt động phụ trợ du lịch đã được tính theo ngành kinh tế tương ứng.
Tóm lại, để GDP và GRDP thực sự có giá trị rất cần sự hiểu biết đúng đắn của công chung về bản chất và các hạn chế của hai chỉ tiêu này. Hiểu đúng sẽ giúp cơ quan nhà nước và địa phương sẽ có cơ sở hoạch định chính sách dựa trên thực lực và đặc thù của từng vùng, tránh chạy theo thành tích. Đồng thời, người dân và doanh nghiệp sẽ tiếp cận thông tin kinh tế một cách khách quan và tỉnh táo, tránh các so sánh phiến diện. Hãy ghi nhớ là: GDP và GRDP là tăng trưởng nhưng không phải là tất cả . GDP và GRDP là thước đo không thể thiếu để đánh giá năng lực sản xuất của nền kinh tế. Tuy nhiên, chúng chỉ là một phần trong bức tranh toàn cảnh về sự phát triển. Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, các nhà hoạch định chính sách phải sử dụng GDP/GRDP một cách thận trọng, kết hợp với các chỉ số về môi trường, xã hội và phúc lợi để đánh giá đúng đắn chất lượng và khả năng bền vững của tăng trưởng.
Nguồn NSO