Công an phường Cẩm Châu

Công an phường Cẩm Châu Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Công an phường Cẩm Châu, Law enforcement agency, 265 Cửa Đại, Hoi An.

14/11/2024
14/11/2024

BẢO ĐẢM AN NINH CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Đảng, Nhà nước Việt Nam coi trọng vấn đề an ninh con người trên cơ sở quan điểm nhất quán, xuyên suốt luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đưa ra tư duy mới về an ninh con người, tạo nền tảng quan trọng để hiện thực hoá khát vọng, mục tiêu phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, vì con người và cho con người.

VẤN ĐỀ AN NINH CON NGƯỜI VÀ ĐỊNH HƯỚNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

An ninh con người (Human Security) là vấn đề mang tính sống còn, gắn liền với sự ổn định và thịnh vượng các quốc gia trên thế giới. Báo cáo phát triển con người năm 1994 của chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã đề cập một cách khá toàn diện khái niệm an ninh con người. Theo đó, “An ninh con người là sự an toàn của con người trước các mối đe doạ kinh niên như nghèo đói, bệnh tật, đàn áp và những sự cố bất ngờ, gây tổn thương trong cuộc sống hàng ngày, dù ở trong nhà, ở nơi làm việc hay trong cộng đồng”[1].

Ở Việt Nam, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam lần đầu tiên đã đưa ra vấn đề “an ninh con người” vào Văn kiện Đại hội và với tư cách là một nội dung lý luận mới. Thuật ngữ an ninh con người cũng được sử dụng 12 lần trong việc xác lập định hướng phát triển đất nước thời kỳ 2021 - 2030 và nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ đại hội, cũng như các nhiệm vụ, phương hướng, giải pháp cụ thể khác. Có thể thấy, tư duy của Đảng về an ninh con người tại Đại hội XIII bao hàm nhiều nội dung cơ bản: (1) An ninh con người là trung tâm của chiến lược phát triển; (2) An ninh con người là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Trong 12 định hướng phát triển đất nước được đưa ra tại Đại hội XIII, trong đó định hướng 5 nhấn mạnh: “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trường văn hoá, đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh...”[2]. Định hướng thứ 7 là “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương…”[3]. Như vậy, bảo vệ an ninh con người nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của con người và xã hội.

BẢO ĐẢM AN NINH CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, kinh tế phát triển và tăng trưởng nhanh, chính trị ổn định, văn hoá phát triển, quốc phòng an ninh được bảo đảm, đối ngoai được rộng mở. Tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước không ngừng được nâng cao. Điều đó có ý nghĩa quan trọng việc đảm bảo an ninh con người và an ninh quốc gia.

Tuy nhiên, trong điều kiện mới, trước diễn biến phức tạp và khó lường của tình hình quốc tế và khu vực, với các thách thức mới về an ninh trên các lĩnh vực, trong đó đặc biệt là an ninh con người. Cùng với vấn đề trật tự, an toàn xã hội, xu hướng bạo lực gia tăng, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, rác thải, dịch bệnh; vấn đề việc làm, nạn thất nghiệp, sự mất cân đối trong phát triển kinh tế, an toàn lao động, an toàn giao thông, an ninh cộng đồng, nguy cơ “tự diễn biến:, “tự chuyển hoá”, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, nạn quan liêu, hách dịch, cửa quyền, xa rời quần chúng, xung đột xã hội, dịch bệnh toàn cầu Covid-19… tất cả đã và đang đe doạ nghiêm trọng đến an ninh xã hội, an ninh con người ở nước ta. Tình hình trên cho thấy, vấn đề an ninh xã hội, an ninh con người đang đặt ra vừa cấp thiết vừa có tầm chiến lược đối với sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Bảo đảm an ninh con người tại Việt Nam đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ, căn cơ, vừa mang tính sách lược, vừa phài thể hiện được tầm chiến lược lâu dài.

Một là, nâng cao nhận thức cho các cấp, ngành, lực lượng và toàn xã hội về những biểu hiện mới và các mối đe doạ đến an ninh con người. Yêu cầu đối đặt ra đối với các chủ thể chịu trách nhiệm quản trị an ninh phi truyền thống, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cần nhận thức rõ các nguy cơ, thách thức về an ninh con người, từ đó cần phải định hướng giá trị, hành vi, thái độ và xây dựng kịnh bản ứng phó phù hợp.

Hai là, chủ động, tích cực ngăn ngừa, ứng phó với các nguy cơ đe doạ đến an ninh con người. Cần phải làm tốt công tác dự báo chiến lược, dự báo tình huống giữ vững sự chủ động chiến lược, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống. Nhiệm vụ trọng tâm là đảm bảo gắn tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện mục tiêu tiến bộ xã hôi; kiểm soát phân tầng xã hội; tích cực xóa đói, giảm nghèo, chăm lo cho con người thông qua hệ thống an sinh xã hội để bảo đảm cho con người được có môi trường và điều kiện phát triển lành mạnh.

Ba là, xây dựng và hoàn thiện thể chế quản trị an ninh phi truyền thống, nâng cao tính tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về phòng ngừa và ứng phó với các thách thức an ninh con người. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong quản trị và kiểm soát các mối đe doạ an ninh con người.

Bốn là, Tăng cường hợp tác quốc tế về phòng ngừa, kiểm soát và ứng phó với các thách thức của an ninh con người. Quán triệt quan điểm của Đảng ta, tích cực chủ động và hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc ứng phó với những thách thức an ninh phi truyền thống; từ đó nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ quốc tế vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế./.

-----
[1] UNDP (1994), Human development Report, New York, Oxford University Press, p.23.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr116.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr117.

13/11/2024
12/11/2024

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH LIÊN QUAN CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN, CỨU HỘ

Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 55/2024/TT-BCA ngày 31/10/2024; trong đó sửa đổi, bổ sung một số điều của 04 Thông tư liên quan đến công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Thông tư gồm 8 điều, có hiệu lực thi hành từ 16/12/2024.

Theo đó, Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 141/2020/TT-BCA ngày 23 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định công tác kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ của lực lượng Công an nhân dân.

Cụ thể, sửa đổi bổ sung một số quy định, như: Kiểm tra trách nhiệm phòng cháy, chữa cháy của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cơ sở; kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy của cơ sở, khu dân cư, hộ gia đình, hộ gia đình kết hợp sản xuất kinh doanh theo nội dung quy định tại các Điều 5, 6 và Điều 7 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy, được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Nghị định số 50/2024/NĐ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Nghị định số 83/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy.

Điều 2 sửa đổi, bổ sung các khoản 1, 3 và khoản 4 Điều 5 Thông tư số 150/2020/TT-BCA ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trang bị phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho lực lượng dân phòng, lực lượng phòng cháy và chữa cháy cơ sở, lực lượng phòng cháy và chữa cháy chuyên ngành.

Cụ thể, sửa đổi, bổ sung Danh mục, số lượng phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ trang bị cho 01 Đội phòng cháy, chữa cháy cơ sở và Danh mục, số lượng phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ trang bị cho 01 Đội phòng cháy, chữa cháy chuyên ngành.

Ngoài danh mục phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trang bị cho lực lượng phòng cháy và chữa cháy cơ sở, lực lượng phòng cháy và chữa cháy chuyên ngành, Thông tư quy định: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cơ sở căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm về cháy, nổ tại cơ sở và khả năng bảo đảm kinh phí, có thể quyết định việc trang bị thêm cho lực lượng phòng cháy và chữa cháy cơ sở, lực lượng phòng cháy và chữa cháy chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý các loại phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cần thiết khác quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định số 50/2024/NĐ-CP.

Điều 3 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 82/2021/TT-BCA ngày 06 tháng 8 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, tập huấn, kiểm tra nghiệp vụ thẩm duyệt thiết kế, nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy của lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Cụ thể, sửa đổi bổ sung về Đối tượng tập huấn, gồm: Lãnh đạo phòng, chỉ huy đội, cán bộ thực hiện công tác thẩm duyệt thiết kế, nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy; lãnh đạo phòng, chỉ huy đội, cán bộ được dự kiến phân công thực hiện công tác thẩm duyệt thiết kế, nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy.

Điều 4 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 06/2022/TT-BCA ngày 17 tháng 01 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định quy trình thực hiện nhiệm vụ công tác phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ trong Công an nhân dân.

Trong đó, sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan Hồ sơ thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy, như sau:

Về hồ sơ và việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy thực hiện theo quy định tại các khoản 4, 6, 7 và khoản 8 Điều 13 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 5 Điều 1, khoản 1, 2, 3 và khoản 5 Điều 4, điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 50/2024/NĐ-CP.

Trường hợp hồ sơ đề nghị thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy không thuộc thẩm quyền giải quyết, cán bộ, chiến sĩ tiếp nhận hồ sơ ghi thông tin vào Phiếu từ chối tiếp nhận giải quyết hồ sơ theo Mẫu số 03 Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 01/2018/TT-VPCP ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính (sau đây viết gọn là Thông tư số 01/2018/TT-VPCP) hoặc thông báo qua thư điện tử hoặc tin nhắn điện thoại trong trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến và trả hồ sơ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân.”.

Sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm tra kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy, cụ thể:

- Về hồ sơ và việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy thực hiện theo quy định tại các khoản 4, 6, 7 và khoản 8 Điều 13 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 5 Điều 1, khoản 1, 2, 3 và khoản 5 Điều 4, điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 50/2024/NĐ-CP.

- Trường hợp hồ sơ đề nghị thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy không thuộc thẩm quyền giải quyết, cán bộ, chiến sĩ tiếp nhận hồ sơ ghi thông tin vào Phiếu từ chối tiếp nhận giải quyết hồ sơ theo Mẫu số 03 Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 01/2018/TT-VPCP ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính (sau đây viết gọn là Thông tư số 01/2018/TT-VPCP) hoặc thông báo qua thư điện tử hoặc tin nhắn điện thoại trong trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến và trả hồ sơ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân.”.

Sửa đổi, bổ sung quy định về cấp, cấp đổi, cấp lại Giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ phòng cháy và chữa cháy: Hồ sơ và việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ cấp, cấp đổi, cấp lại Giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ phòng cháy và chữa cháy thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và khoản 9 Điều 45 Nghị định 136/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại các điểm a, b, c, d và điểm đ khoản 17 Điều 1, điểm c, điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định 50/2024/NĐ-CP.

12/11/2024

ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI THỐNG NHẤT SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG LUẬT DỮ LIỆU

Vừa qua, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Dữ liệu. Các đại biểu Quốc hội thống nhất sự cần thiết xây dựng Luật nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về dữ liệu, đảm bảo công tác chuyển đổi số quốc gia; đồng thời cũng đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của Cơ quan soạn thảo (Bộ Công an chủ trì), dù đây là dự án luật mới và rất khó, song đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan, đến nay đã cụ thể hóa được các chính sách.

CẤP THIẾT XÂY DỰNG LUẬT DỮ LIỆU

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Phạm Thị Hồng Yến (Bình Thuận) cho biết, những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, giải pháp đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ để phục vụ công cuộc chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, trong đó, việc hoàn thiện pháp luật quy định những chính sách phát triển và ứng dụng dữ liệu vào công tác quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) được xác định là nhiệm vụ quan trọng.

"Vì vậy, tôi cho rằng việc xây dựng Luật dữ liệu là hết sức cần thiết và cấp thiết để có thể bao quát đầy đủ các nội dung, nhiệm vụ đã được xác định trong công tác chuyển đổi số, tạo được sự thống nhất, đồng bộ, sử dụng hiệu quả dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước, cũng như phát triển KTXH, bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu, phù hợp với tiến trình hội nhập và hợp tác quốc tế", bà nêu quan điểm.

Đại biểu cũng đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của Cơ quan soạn thảo, dù đây là dự án luật mới và rất khó, song đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan, đến nay đã cụ thể hóa được các chính sách. Nữ đại biểu tỉnh Bình Thuận đề nghị chỉnh lý khái quát các điều kiện trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu tại Điều 49 dự thảo Luật. Đối với những nội dung hết sức chi tiết, đề nghị nên giao Chính phủ quy định để phù hợp với thực tiễn, đảm bảo công tác quản lý, tổ chức thực hiện được linh hoạt, hiệu quả và khả thi.

ĐBQH Phạm Văn Hoà (Đồng Tháp) cho rằng, việc xây dựng dự thảo Luật Dữ liệu đã có căn cứ pháp lý. Về thực tiễn, nước ta đã có 7 cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu kết nối liên thông, góp phần cải cách, đơn giản hoá thủ tục hành chính cho người dân... Tuy nhiên, còn những bất cập như một số bộ, ngành, địa phương chưa có đủ hạ tầng để triển khai, dữ liệu thu thập, lưu trữ trùng lắp, chồng chéo, nhiều hệ thống thông tin còn lỗ hổng bảo mật, không đủ điều kiện kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, khó khăn trong khai thác, liên thông... "Cho nên, việc luật hoá dữ liệu là hết sức cần thiết", đại biểu nhấn mạnh.

Theo ĐBQH Nguyễn Đại Thắng (Hưng Yên), đây là dự án Luật quan trọng, cần thiết để bảo đảm công tác chuyển đổi số quốc gia, phù hợp với xu thế chung của các nước trên thế giới hiện nay, giúp tạo lập, hình thành các hệ thống dữ liệu tin cậy, ổn định của Nhà nước; đồng thời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc khai thác, vận hành Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và phát triển Trung tâm dữ liệu quốc gia, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

ĐỀ NGHỊ QUY ĐỊNH CỤ THỂ TRƯỜNG HỢP DỮ LIỆU BỊ CẤM CHUYỂN RA NƯỚC NGOÀI

Liên quan việc chuyển dữ liệu ra nước ngoài cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, ĐBQH Phạm Văn Hoà bày tỏ đồng tình. Tuy nhiên, đề nghị cần thận trọng việc bảo vệ dữ liệu bí mật của tổ chức, cá nhân, không để kẻ xấu lợi dụng để xuyên tạc, nói xấu, trục lợi bằng nhiều hình thức khác nhau. Bảo vệ chủ quyền số và lợi ích quốc gia, nhưng cũng bảo đảm hài hoà thông lệ quốc tế, không cản trở luồng dữ liệu an toàn, tự do biên giới. "Ngoài ra, cũng cần xác định cụ thể các trường hợp bị cấm hoặc hạn chế chuyển ra nước ngoài, đề nghị giao Chính phủ quy định cụ thể, chi tiết nội dung này", đại biểu góp ý.

ĐBQH Nguyễn Đại Thắng cũng đánh giá đây là một nội dung mới, giúp thúc đẩy việc trao đổi dữ liệu, nắm bắt thông tin của thị trường quốc tế và giúp các nước trên thế giới thuận lợi trong việc tìm hiểu nền văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam. Đồng thời, việc chuyển dữ liệu ra nước ngoài cũng giúp doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận thị trường, mở rộng nguồn lực tài chính, thúc đẩy phát triển nền kinh tế mạnh mẽ...

Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số mạnh mẽ, luồng dữ liệu phi biên giới ngày càng gia tăng, ông cho rằng, đòi hỏi phải có khung pháp lý rõ ràng để quản quản lý chặt chẽ dữ liệu chuyển ra nước ngoài. "Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo xác định các loại dữ liệu quan trọng bị cấm hoặc hạn chế chuyển ra nước ngoài; quy định về lưu trữ bản sao dữ liệu quan trọng tại Việt Nam và truy xuất, kiểm soát dữ liệu; trách nhiệm bồi thường khi xảy ra sự cố về dữ liệu; quy định về thẩm quyền của các cơ quan trong việc giải quyết, quyết định việc chuyển giao dữ liệu và tuân thủ quy định về đánh giá dữ liệu để tránh chồng chéo trong công tác quản lý...

Address

265 Cửa Đại
Hoi An

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công an phường Cẩm Châu posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share