27/05/2026
VÌ SAO TRIỀU NGUYỄN THUA NGAY TRÊN SÂN NHÀ?
Có một sự thật khá phũ phàng trong lịch sử: trước khi ký kết Hoà ước Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế tin mình có thể “thương lượng” với thực dân Pháp.
Theo sử Nguyễn, khi Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp chuẩn bị vào Gia Định đàm phán, vua Tự Đức cùng các đại thần đã họp bàn nhiều lần. Họ phân tích từng yêu sách của Pháp và Tây Ban Nha, cái nào có thể nhượng bộ thì nhượng, cái cần phải giữ thì giữ.
Có nhiều điều khoản Tự Đức nói rằng “không quá trở ngại”. Khi nói đến chuyện Pháp đòi ba tỉnh Nam Kỳ, Tự Đức phân tích Chiến tranh nha phiến lần hai, về vấn đề Hồng Kông, rồi vẫn tuyên bố có thể mặc cả hoặc dùng lý lẽ để ép đối phương nhượng bộ, như vậy là đánh giá thấp mưu đồ của thực dân Pháp.
Trong khi Pháp đang bước vào thời kỳ mở rộng thuộc địa thì triều đình Huế lại nhìn ngoại giao theo cách đơn giản. Tự Đức tin rằng chỉ cần nhượng bộ một phần, mở cửa buôn bán, cho phép truyền đạo ở mức nào đó rồi đền bù là xong, vì “nước ấy đến đây, vốn là để thông thương, mở phố, giảng đạo mà thôi, không phải tham đất đai của người ta”.
Nhưng người Pháp đâu cần vài cửa biển hay vài giáo đường.
Họ cần đất.
Cần thuộc địa.
Cần bàn đạp để kiểm soát Đông Dương.
Bàn bạc đâu vào đấy, trước khi Phan Thanh Giản lên đường, Tự Đức còn dặn rất chắc:
“Đất quyết không được hứa, tà giáo quyết không được công nhiên thi hành”
Nghe có vẻ chắc chắn.
Nhưng kết quả cuối cùng thì ngược lại.
Hoà ước Nhâm Tuất cắt hẳn Gia Định, Định Tường, Biên Hoà và Côn Lôn cho Pháp. Triều đình phải đền bù 4 triệu đồng bạc, cho phép truyền đạo cùng mở cửa buôn bán. Thậm chí, nhiều điều khoản còn khiến Việt Nam rơi vào thế bị lệ thuộc.
Theo sử sách ghi lại, khi hoà ước truyền về Huế, Tự Đức đã nổi giận, mắng Phan Thanh Giản cùng Lâm Duy Thiếp rằng:
“Chẳng những là tội nhân đặc biệt của bổn triều, mà còn là tội nhân thiên cổ”
Nói thì nói, chứ đến tháng 5 năm 1863, Tự Đức lại tiếp tục gửi Phan Thanh Giản qua châu Âu “thăm hỏi”. Điều này cho thấy nhà vua còn hy vọng dùng lý lẽ để cứu vãn tình hình, thậm chí tin rằng “sơ tâm của quý quốc vốn không tham đất đai của người”, nghĩa là vấn đề nằm ở phía ta chứ không phải do người Pháp.
Tuy nhiên, nếu nhìn rộng hơn thì vấn đề không chỉ nằm ở hai vị đại thần kia. Điều đáng nói là cả bộ máy triều đình Huế đã không theo kịp thời đại. Trong khi thế giới bước vào thời kỳ chủ nghĩa thực dân, nhiều nước bị thuộc địa hoá bởi súng đạn, thì các vị đứng đầu thiên hạ lại nghĩ có thể dùng ngôn từ, lễ nghĩa để giữ vững biên cương.
Có lẽ vì vậy mà Hoà ước Nhâm Tuất thường được coi là một bi kịch. Không chỉ vì mất ba tỉnh Nam Kỳ, mà còn vì nó cho thấy sự vụng về của triều Nguyễn, và cái giá phải trả thì cả dân tộc đều gánh.
Còn các bạn, nghĩ sao về cách xử lý của triều đình Huế?
Nguồn tham khảo chính:
- Đại Nam thực lục,
- Việt Nam Sử Luận - Góc Nhìn Đa Chiều.