19/05/2026
Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng Việt Nam
"Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta giành thắng lợi”
Nguồn gốc và sự hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và trí tuệ nhân loại
Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một hệ thống lý thuyết giáo điều, khô cứng mà là một thực thể sống động, được hình thành từ sự chắt lọc, kết tinh và nâng tầm những giá trị cao đẹp nhất của nhân loại. Đó là sự hòa quyện giữa truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tự cường của dân tộc Việt Nam với tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Cụ thể là:
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết này. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết thành công những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đây là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận giúp Người tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đưa ra những dự báo thiên tài và vạch ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc. “Chủ nghĩa Mác - Lênin là cái kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh... Đối với chúng ta, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, mà còn là cái gương soi cho chúng ta thấy rõ đường đi”[2]
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống, ý chí độc lập, tự cường, đoàn kết nhân ái, khoan dung, tinh thần cộng đồng, lạc quan, yêu đời, cần cù, thông minh, sáng tạo… của dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và phát triển. Tư tưởng của Người là sự kết tinh những tinh hoa văn hoá, tinh thần, trí tuệ, đạo đức Việt Nam. Vì vậy, Đảng ta khẳng định: “Dân tộc ta, Nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta”[3].
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Trong suốt cuộc đời, đặc biệt là trong quá trình đi tìm con đường cứu nước, Hồ Chí Minh luôn luôn tìm tòi, học hỏi, tiếp thu có chọn lọc, có phê phán các quan điểm, các trào lưu tư tưởng phương Đông và phương Tây và trên thế giới, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, phát triển, trở thành tư tưởng của mình. Người đã tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực của Nho giáo (về tu thân, chính tâm), Phật giáo (về lòng từ bi, bác ái), Lão giáo (về sự hài hòa với tự nhiên) và tư tưởng dân chủ tư sản Pháp, Mỹ.
Thứ tư, những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh. Đó là khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cùng với sự nhận xét, phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu và tìm hiểu. Đó là sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức của nhân loại, kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân thế giới trong phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế. Đồng thời, trong quá trình đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã trải qua cuộc sống của người công nhân lao động thực sự, luôn hoà mình với đời sống của giai cấp cần lao. Đó là những yếu tố chủ quan then chốt, quyết định bước chuyển từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, để Người trở thành một chiến sỹ nhiệt thành, thương yêu những người cùng khổ, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của đồng bào.
Tất cả những yếu tố đó cùng với những năng lực bẩm sinh, những phẩm chất cao quý trên giúp Hồ Chí Minh tiếp nhận có chọn lọc, chuyển hoá và phát triển tinh hoa dân tộc và thời đại thành tư tưởng đặc sắc của mình - Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Quan điểm Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội - Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong lịch sử cách mạng Việt Nam
Nội dung cốt lõi, xuyên suốt nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là luận điểm: “Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Đây là quy luật phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Theo Người, độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội; và ngược lại, chủ nghĩa xã hội là cơ sở vững chắc nhất để giữ vững độc lập dân tộc và mang lại tự do, hạnh phúc thực sự cho Nhân dân. Người khẳng định: “Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[5]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về chủ nghĩa xã hội một cách sâu sắc và khoa học, nhưng lại giản dị, có sức cảm hóa rất lớn đối với Nhân dân. Với câu hỏi chủ nghĩa xã hội là gì, Người trả lời rất sáng tỏ: “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[6]. Luận đề tổng quát đó được Người cụ thể hóa thêm: “Chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”[7]. “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”[8]. Như vậy, chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Là xã hội mà ở đó con người được phát triển toàn diện, không còn cảnh người bóc lột người, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Đây chính là động lực mạnh mẽ nhất để quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Để thực hiện được mục tiêu cao cả đó, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng. Người khẳng định: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[9]. Đảng phải là đạo đức, là văn minh, phải luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân. Song hành với đó là việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân - nơi quyền lực thuộc về Nhân dân và mọi hoạt động của bộ máy nhà nước đều phải hướng tới lợi ích của Nhân dân.
Giá trị thời đại và sức sống mãnh liệt của Tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam
Bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, có những luận điệu hoài nghi về sự phù hợp của Tư tưởng Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn gần 40 năm đổi mới đã chứng minh rằng: Càng khó khăn, thách thức, chúng ta càng thấy rõ giá trị trường tồn và sức soi rọi của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong lĩnh vực kinh tế, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; về vai trò của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc biệt là việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân vẫn còn nguyên giá trị. Người từng nói: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm”. Đây chính là mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang theo đuổi.
Trong đối ngoại, phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến” và tư tưởng “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù chuốc oán với một ai” đã trở thành nền tảng của đường lối đối ngoại “ngoại giao cây tre” mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định. Nhờ vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Người, Việt Nam đã từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận trở thành một đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, ngày càng nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế.
Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đang diễn ra quyết liệt hiện nay, tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng - “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” đã trở thành vũ khí sắc bén để làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ là một phong trào, mà đã trở thành nhu cầu tự thân, là thước đo phẩm giá của mỗi người cán bộ cách mạng.
Ngọn đuốc soi đường thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và mục tiêu đến năm 2045
Năm 2026 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV - một dấu mốc quan trọng mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước. Việc khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động tiếp tục được Đảng ta nhấn mạnh như một nguyên tắc sống còn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ngọn đuốc soi đường để chúng ta giải quyết những mâu thuẫn, nút thắt trong quá trình phát triển. Đó là việc xử lý hài hòa giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội. Người đã dạy: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, và ngày nay, chúng ta đang nỗ lực xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm động lực nội sinh cho sự phát triển của đất nước.
Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần:
Kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hòng xuyên tạc, phủ nhận giá trị của Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Vận dụng sáng tạo, linh hoạt các nguyên lý của Tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của thời đại số, kinh tế tri thức.
Thực hiện nêu gương: Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải thực sự là tấm gương sáng về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những hành động thiết thực, hiệu quả.
Nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam, chúng ta càng thêm tự hào và vững tin vào con đường mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam, mà còn là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, thắp sáng niềm tin và khát vọng phát triển đất nước trong thời đại mới. Dưới ánh sáng tư tưởng của Người, dân tộc Việt Nam nhất định sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng và sự tiến bộ của nhân loại.