Nam An Phụ - Vững niềm tin

Nam An Phụ - Vững niềm tin "Không có gì quý hơn độc lập, tự do." - Lời Bác mãi soi đường cho thế hệ hôm nay và mai sau.

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT VỀ BỔ NHIỆM NHÂN SỰNgày 12.6, thông tin từ Văn phòng Quốc hội cho biết, Ủy...
13/06/2026

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT VỀ BỔ NHIỆM NHÂN SỰ

Ngày 12.6, thông tin từ Văn phòng Quốc hội cho biết, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã ký ban hành các Nghị quyết về điều chỉnh Chương trình lập pháp năm 2026 và Nghị quyết về việc bổ nhiệm nhân sự.

Tại Nghị quyết số 03/2026/UBTVQH16, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết nghị bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2026, trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10.2026) đối với 2 dự án luật: Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; Luật Định danh và xác thực điện tử.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng quyết nghị bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2026, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua đối với 1 dự án pháp lệnh, 2 dự án nghị quyết, gồm: Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 80/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quy chế làm việc mẫu của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội theo trình tự, thủ tục rút gọn; Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 29/2022/UBTVQH15 ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 90/2025/UBTVQH15 theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Tại Nghị quyết số 05/2026/UBTVQH16, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết nghị bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2026, trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10.2026) đối với dự án Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi).

Bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2026, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua tại Phiên họp thứ 6 (tháng 9.2026) đối với dự án Nghị quyết quy định về chế độ bảo vệ Thẩm phán.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng phân công cơ quan trình, cơ quan chủ trì thẩm tra, tham gia thẩm tra và tiến độ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đối với các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết được bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2026.

Còn theo Nghị quyết số 281, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết nghị bổ nhiệm ông Hà Văn Thắng - Trợ lý của Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Phó Chủ tịch Quốc hội khóa XV Vũ Hồng Thanh giữ chức Trợ lý Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội khóa XVI Nguyễn Thị Thanh.

Trong thời gian giữ chức Trợ lý Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, ông Hà Văn Thắng tiếp tục được hưởng phụ cấp chức vụ hệ số 1,25./.

Báo Lao Động

DANH MỤC DỊCH VỤ VIỄN THÔNG BẮT BUỘC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư 28/2026/TT-...
13/06/2026

DANH MỤC DỊCH VỤ VIỄN THÔNG BẮT BUỘC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư 28/2026/TT-BKHCN quy định Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng.

Thông tư quy định danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng bao gồm:

1. Dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất gồm:

- Dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất sử dụng công nghệ FTTH/xPON.

- Dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất sử dụng công nghệ Modem cáp truyền hình.

Các dịch vụ trên áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 34:2022/BTTTT.

2. Dịch vụ điện thoại trên mạng viễn thông di động mặt đất (áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 36:2022/BTTTT).

3. Dịch vụ truy nhập Internet trên mạng viễn thông di động mặt đất 4G (áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 81:2019/BTTTT).

4. Dịch vụ truy nhập Internet trên mạng viễn thông di động mặt đất 5G (áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 126:2021/BTTTT, sửa đổi 1:2024 QCVN 126:2021/BTTTT (không áp dụng quy định về chỉ tiêu thời gian trễ trung bình truy nhập dịch vụ tại mục 2.1.3; doanh nghiệp viễn thông có trách nhiệm tự công bố mức chất lượng cam kết đối với chỉ tiêu này theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm bảo đảm chất lượng theo mức đã công bố)).

Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được viện dẫn tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo quy định của văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc văn bản thay thế đó.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/07/2026. Thông tư số 32/2020/TT-BTTTT ngày 04/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng hết hiệu lực kể từ ngày 15/07/2026./.

Báo Chính Phủ

THÔNG BÁO KẾT LUẬN CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM VỀ TRỌNG TÂM CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, CÔNG TÁC TỔ CHỨC, CÁN BỘVă...
13/06/2026

THÔNG BÁO KẾT LUẬN CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM VỀ TRỌNG TÂM CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, CÔNG TÁC TỔ CHỨC, CÁN BỘ

Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về trọng tâm công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (Thông báo số 90-TB/VPTW, ngày 10/6/2026).

Nội dung Thông báo số 90-TB/VPTW như sau:

Ngày 03/6/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về trọng tâm công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Trung ương Đảng, lãnh đạo, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị. Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương báo cáo và ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:

1. Cơ bản thống nhất với Báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương. Đồng thời, lưu ý một số yêu cầu đối với ngành tổ chức xây dựng Đảng; cụ thể như sau:

Một là, thống nhất nhận thức công tác xây dựng Đảng, tổ chức, cán bộ là yếu tố cốt lõi của quản trị quốc gia.

Công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ trong giai đoạn mới có ý nghĩa quyết định đối với sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và năng lực của bộ máy hệ thống chính trị; không chỉ đáp ứng yêu cầu trong sạch, vững mạnh mà phải nhấn mạnh tới yếu tố đủ bản lĩnh, trí tuệ, uy tín và năng lực để lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững. Cán bộ phải kiên định, sáng suốt về đường lối, mạnh về thực thi, sắc bén trong dự báo, tiên phong về khoa học, công nghệ, chủ động trong kiến tạo phát triển, gần dân, sát dân và vì dân; khắc phục tình trạng trì trệ, bảo thủ, yếu kém, quan liêu; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Gắn chặt xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị tinh, gọn, trong sạch, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; phát huy dân chủ, kiểm soát quyền lực và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.

Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của Đảng.

Sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm đúng đắn, sâu sát, hiệu lực, hiệu quả, thông qua đường lối, chủ trương, định hướng chiến lược, công tác tuyên truyền vận động, tổ chức cán bộ, kiểm tra, giám sát, nêu gương, thuyết phục và kết quả thực tiễn. Chú trọng việc chủ động tham mưu, nghiên cứu, dự báo, xử lý từ sớm, từ xa các vấn đề lớn, mới, đột xuất, bất ngờ; chuyển phương thức lãnh đạo từ mệnh hành chính sang kiến tạo quản trị phát triển, từ kiểm soát quy trình sang đánh giá thực chất kết quả, hiệu quả công việc; bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực, rõ thời gian và rõ kết quả trong tổ chức thực hiện; nâng cao năng lực thực thi, tăng cường kiểm tra, kiểm soát trách nhiệm gắn với kết quả thực hiện.

Tập trung khắc phục triệt để những khâu yếu, "điểm nghẽn", "nút thắt" trong tổ chức thực hiện. Kiên quyết khắc phục tình trạng nói nhiều làm ít, họp nhiều hiệu quả thấp, nhiều văn bản nhưng chưa rõ nhiệm vụ, giải pháp. Mọi nhiệm vụ phải được cụ thể hóa, định lượng gắn với trách nhiệm, quyền hạn, nguồn lực và điều kiện bảo đảm; lấy sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá. Bảo đảm giao quyền đi đôi với giao nguồn lực; giao trách nhiệm đi đôi với kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức bộ máy mới. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, cơ chế phối hợp, mối quan hệ công tác, số hóa hoạt động của các cơ quan, đơn vị sau sắp xếp; khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp, bỏ sót nhiệm vụ hoặc né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Thực hiện nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; một cơ quan có thể chủ trì nhiều việc.

Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, ủy quyền theo hướng tăng thẩm quyền, tránh nhiệm, tạo cơ chế phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự quyết, tự chịu trách nhiệm trong thẩm quyền, trách nhiệm được giao. Cấp Trung ương tập trung hoàn thiện thể chế, chiến lược, quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình và tăng cường theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát; cấp tỉnh, thành phố chủ động quyết định, thực hiện và chịu trách nhiệm trong phạm vi quyền hạn, nguồn lực được giao; cấp cơ sở trực tiếp phục vụ người dân, doanh nghiệp bảo đảm thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện.

Bốn là, đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ, coi đánh giá cán bộ là khâu đột phá.

Yêu cầu đối với cán bộ trong giai đoạn mới không chỉ vững về bản lĩnh chính trị, trung thành với Đảng, lợi ích quốc gia, dân tộc, có đạo đức trong sáng, lối sống gương mẫu mà còn phải có tư duy chiến lược, quản trị hiện đại, năng lực tổ chức thực hiện, khả năng xử lý, giải quyết những vấn đề mới, khó, phức tạp, phát sinh từ thực tiễn; có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tuyển chọn, phân công, bổ nhiệm cán bộ bảo đảm đúng người, đúng việc, đúng năng lực, đúng sở trường, đúng thẩm quyền.

Đánh giá cán bộ là khâu then chốt, phải công tâm, khách quan, thực chất, dựa trên sự tín nhiệm của tập thể, lấy kết quả, hiệu quả hoàn thành chức năng, nhiệm vụ chính trị của tập thể, chức trách, nhiệm vụ của cá nhân làm thước đo. Cần tạo sự đột phá trong bổ nhiệm cán bộ, nhất là người đứng đầu. Kiên quyết khắc phục tình trạng "cào bằng" trong đánh giá cán bộ; chậm thay thế cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm; không ghi nhận, bảo vệ và sử dụng cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có sản phẩm, có uy tín.

Thực hiện nghiêm túc, thực chất chủ trương "có vào, có ra", "có lên, có xuống"; kịp thời miễn nhiệm, cho từ chức, thay thế cán bộ có năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thông qua đánh giá cán bộ hằng quý, hằng năm. Chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ có năng lực nổi trội, chủ động, sáng tạo, quyết liệt, cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học kỹ thuật...

Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và cán bộ cơ sở. Trong đó, cán bộ cấp chiến lược phải có tầm nhìn, trí tuệ, bản lĩnh, tư duy hệ thống, năng lực hoạch định và xử lý những vấn đề lớn, mới, khó, phức tạp; cán bộ cơ sở phải gần dân, sát dân, hiểu dân, trọng dân, có kỹ năng thuyết phục, đối thoại, giải quyết công việc và phục vụ Nhân dân. Nghiên cứu cơ chế, chính sách thúc đẩy việc liên thông trong công tác cán bộ giữa trong và ngoài khu vực Nhà nước; có cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng, trọng dụng nhân tài, nhất là trong các lĩnh vực chiến lược. Cần có tư duy mới, tầm nhìn mới về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo đảm chặt chẽ, chủ động, khách quan, toàn diện.

Năm là, củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên.

Tập trung củng cố tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, nâng cao năng lực nắm bắt tình hình và giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh từ cơ sở, nhất là liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Sinh hoạt chi bộ phải thực chất, gắn nhiệm vụ chính trị với giải quyết những vấn đề thực tiễn; khắc phục tình trạng hình thức, nể nang, né tránh, thiếu tính chiến đấu; phát huy dân chủ, phê bình và tự phê bình, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật của Đảng.

Coi trọng phát triển đảng viên cả về số lượng và chất lượng, chú trọng địa bàn, lĩnh vực và khu vực có ít đảng viên như khu vực kinh tế tư nhân, lĩnh vực mới, địa bàn khó khăn, với tinh thần "ở đâu có dân, ở đó phải có đảng viên làm nòng cốt". Tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện, rà soát, sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những cá nhân không đủ tư cách.

Sáu là, kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ cương, kỷ luật, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, nhất là đối với công tác cán bộ, có ý nghĩa quyết định chất lượng đội ngũ, tổ chức bộ máy và hiệu quả thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Kiên quyết chống lợi ích nhóm, cục bộ, bè phái, chạy chức, chạy quyền; thực hiện nghiêm các quy định về kiểm soát quyền lực.

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm theo hướng chủ động, từ sớm, từ xa, từ cơ sở; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Bảy là, đẩy mạnh ch.uyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao nhận thức, tạo chuyển biến mạnh mẽ về ch.uyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng, coi đây là giải pháp quan trọng trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát và đánh giá cán bộ. Tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, đồng bộ, liên thông, chính xác, an toàn về tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ và biên chế; bảo đảm phục vụ hiệu quả công tác tham mưu chiến lược, quản lý, kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phòng ngừa vi phạm. Gắn ch.uyển đổi số trong Đảng với xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số.

2. Cơ bản thống nhất với các kiến nghị, đề xuất của Ban Tổ chức Trung ương:

- Giao Ban Tổ chức Trung ương lựa chọn đúng những vấn đề lớn, mới, khó, có tác động lâu dài, thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị, Ban Bí thư để bổ sung vào chương trình làm việc, trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong tháng 6/2026.

- Đối với tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và 40 năm thực hiện Cương lĩnh, phải coi xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là nội dung nền tảng; qua tổng kết rút ra quy luật, bài học, luận cứ khoa học và thực tiễn, bổ sung, nâng tầm lý luận, tạo đột phá cho giai đoạn phát triển mới.

3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và hệ thống trường chính trị tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng thiết thực, hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam và bối cảnh quốc tế; chú trọng nâng cao tư duy chiến lược, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị, điều hành và xử lý các vấn đề mới, khó, phức tạp.

4. Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương tập trung triển khai hiệu quả các nhiệm vụ ch.uyển đổi số, đánh giá mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; xây dựng cơ sở dữ liệu cán bộ, đảng viên; bảo vệ chính trị nội bộ ngay từ cơ sở; giáo dục chính trị, tư tưởng và tổng kết thực tiễn... bảo đảm đồng bộ, xuyên suốt, rõ mục tiêu, tiến độ, sản phẩm, tránh hình thức.

Văn phòng Trung ương Đảng thông báo để Ban Tổ chức Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng liên quan tổ chức thực hiện./.

Báo Đại biểu Nhân dân

NHỮNG LỜI BÁC DẠY SÁNG ĐỜI TAÁnh sáng soi chiếu, lan tỏa từ cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Bác, lấp lánh trong từng l...
12/06/2026

NHỮNG LỜI BÁC DẠY SÁNG ĐỜI TA

Ánh sáng soi chiếu, lan tỏa từ cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Bác, lấp lánh trong từng lời nói, câu chữ của Bác như hào quang dẫn đường cho chúng ta hướng tới một cuộc sống tươi đẹp, văn minh, hạnh phúc.

Gần 6 thập kỷ trôi qua kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần ngày 2-9-1969, đã có hàng vạn bài viết, hàng nghìn cuốn sách viết về Bác Hồ trên rất nhiều phương diện, góc độ, khía cạnh. Tất cả các bài viết, cuốn sách đó đều có chung một mục tiêu là làm sáng tỏ cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; cũng như công lao trời biển của Người đối với Đảng, dân tộc và nhân dân ta.

Bởi Người không chỉ là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta, mà còn để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu. Đó là thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc.

Có nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu đã dành trọn tình cảm, tâm huyết, trí tuệ, công sức của mình để viết về chân dung, nhân cách, sự nghiệp và những cống hiến đặc biệt to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một trong những người đó là GS, TS Hoàng Chí Bảo, nhà giáo, nhà khoa học, chuyên gia cao cấp có nhiều năm công tác tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Hội đồng Lý luận Trung ương.

Với tất cả tấm lòng kính yêu vô hạn với Bác Hồ, GS, TS Hoàng Chí Bảo đã có nhiều công trình khoa học, viết nhiều cuốn sách giới thiệu, truyền bá, làm sáng tỏ tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Một trong những cuốn sách gần đây là cuốn “Ánh sáng của niềm tin và hy vọng” dày khoảng 350 trang, do Nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất bản và phát hành năm 2025.

“Ánh sáng của niềm tin và hy vọng” tập hợp, giới thiệu 100 câu nói nổi tiếng của Bác Hồ. Đó là sự chắt lọc, đúc kết có chủ đích của tác giả về 100 câu nói, lời dạy cụ thể, thiết thực, giản dị mà vô cùng sâu sắc của Bác Hồ đối với mỗi chúng ta. Những câu nói, lời dạy của Bác được tác giả cảm nhận, phân tích, giảng giải, bình luận rất sâu sắc, tinh tế với những ngôn từ trong sáng, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người.

Để thuận tiện cho việc theo dõi, tác giả đã kết cấu 100 câu nói tiêu biểu của Bác thành 3 phần: Phần I “Tổ quốc, dân tộc và nhân dân” (gồm 35 câu); phần II “Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên phải là công bộc tận tụy và đầy tớ trung thành của nhân dân” (gồm 35 câu); phần III “Phụ nữ, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng ra sức thi đua học tập, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” (gồm 30 câu).

Lý giải về lý do chỉ lựa chọn 100 câu nói tiêu biểu của Bác Hồ để phân tích, bình luận trong cuốn sách này, chia sẻ với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, GS, TS Hoàng Chí Bảo cho rằng, con số 100 mang ý nghĩa biểu tượng của sự trọn vẹn, toàn vẹn của con người, đời người.

Những câu nói đó được ví như danh ngôn, được mọi người trong nước và nước ngoài ghi nhớ và truyền tụng, ví như các câu: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”...

Cũng theo tác giả, con số 100 mang ý nghĩa tượng trưng, nhấn mạnh suốt một đời Bác tận trung với nước, tận hiếu với dân. Bác Hồ là tấm gương sáng cho tất cả mọi người và cho muôn đời sau. Con số 100 để chúng ta dễ ghi nhớ, để yêu thương và để nỗ lực thực hành làm cho đúng, cho tốt những lời Bác Hồ dạy. Cuốn sách “Ánh sáng của niềm tin và hy vọng” với 100 câu nói nổi tiếng của Bác chỉ là con số giới hạn, ước lệ mà tác giả lựa chọn với một thông điệp dành cho mỗi người khi đọc “sẽ tự mình nỗ lực nối dài ra mãi để hiểu Bác không chỉ qua 100 câu, mà còn qua tất cả cuộc đời và sự nghiệp của Bác. Đó là điều cần thiết và của lý trí mà cũng là ước nguyện về sự đồng cảm của mỗi chúng ta, như tiếng nói cất lên tự tâm hồn, như mách bảo tự trái tim mỗi người hướng về Bác”.

Mỗi câu nói tiêu biểu của Bác Hồ được tác giả lựa chọn và phân tích nội dung, bình luận giá trị, ý nghĩa của từng câu với những chú thích, dẫn giải ngọn nguồn, xuất xứ, hoàn cảnh gắn với các sự kiện trong cuộc đời và hoạt động của Bác. Ví dụ, câu thơ “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” là hai câu thơ đầu tiên trong cuốn tài liệu mang tên “Lịch sử nước ta”, do Việt Minh tuyên truyền bộ xuất bản lần đầu vào tháng 2-1942 tại Cao Bằng. Đây là cuốn tài liệu huấn luyện cán bộ đã được Nguyễn Ái Quốc viết bằng thơ theo thể diễn ca, dễ nhớ, dễ thuộc để tuyên truyền trong dân chúng.

Viết về cuốn tài liệu “Lịch sử nước ta” có câu thơ nổi tiếng này, tác giả bình luận: “Đó là tài năng lãnh tụ. Người là nhà tuyên truyền, cổ động bậc thầy của cách mạng Việt Nam... Bài học mà lịch sử dạy cho ta, đoàn kết thì sống và thắng. Mất đoàn kết, chia rẽ thì thất bại. Đúng là quy luật của muôn đời. Hơn nữa, cuối tác phẩm, sau khi liệt kê niên biểu các triều đại, các sự kiện lịch sử tiêu biểu, Nguyễn Ái Quốc dự báo: “1945: Việt Nam độc lập”. Lịch sử đã diễn ra đúng như dự báo, tiên tri của Người.

Khi đưa ra dự báo này, vào khoảng gần cuối năm 1941, Nguyễn Ái Quốc đã viết xong “Lịch sử nước ta” và đầu năm 1942, tác phẩm mới được in ra. Vậy mà chỉ hơn 4 năm sau Cách mạng Tháng Tám nổ ra, chứng thực đúng như dự báo của Người. Tác phẩm “Lịch sử nước ta” là một tài liệu phổ thông nhưng rất đặc sắc để giáo dục chúng ta về lòng yêu nước và niềm tự hào về truyền thống dân tộc, mãi mãi có giá trị và tính thời sự tới tận ngày nay, dù đã hơn 8 thập kỷ trôi qua”.

Đúng như tên cuốn sách “Ánh sáng của niềm tin và hy vọng”, mỗi bài viết không chỉ là kết tinh tình cảm, tâm huyết, trí tuệ, công sức và thành quả lao động sáng tạo của một nhà “Hồ Chí Minh học”, mà còn là sự trao truyền, gửi gắm niềm tin cho mỗi bạn đọc càng thêm trân quý, tự hào về Bác Hồ vĩ đại của chúng ta - “Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”. Ánh sáng soi chiếu, lan tỏa từ cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Bác, lấp lánh trong từng lời nói, câu chữ của Bác như hào quang dẫn đường cho chúng ta hướng tới một cuộc sống tươi đẹp, văn minh, hạnh phúc./.

Báo QĐND

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG THI ĐUA YÊU NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI78 năm sau Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch...
12/06/2026

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG THI ĐUA YÊU NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI

78 năm sau Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phong trào thi đua yêu nước tiếp tục lan tỏa sâu rộng, khơi dậy khát vọng cống hiến và tạo động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Cách đây 78 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, đặt nền móng cho phong trào thi đua yêu nước của cách mạng Việt Nam. Từ đó đến nay, tinh thần thi đua ái quốc đã kết tinh thành truyền thống quý báu, nét văn hóa đặc sắc và sức mạnh nội sinh to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam.

“Bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau”

Ngày 11/6/1948, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” nhằm huy động sức người, sức của cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Cùng với “Lời kêu gọi thi đua ái quốc,” Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có nhiều bài nói, bài viết về vấn đề này, nổi bật là: “Lời kêu gọi thi đua yêu nước” (1/5/1948), “Thư gửi thanh niên về thi đua ái quốc” (23/8/1951), “Bài nói tại Đại hội các chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc” (1/5/1952)… tạo nên một hệ thống tư tưởng toàn diện về thi đua yêu nước.

Về đối tượng thực hiện thi đua yêu nước, trong “Lời kêu gọi thi đua ái quốc,” Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Bổn phận của người Việt Nam, bất kỳ sỹ, nông, công, thương, binh, bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau... Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già trẻ, trai gái, bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sỹ đấu tranh trên mặt trận, quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội-2011, t.5, tr.556-557).

Về mục đích của thi đua yêu nước, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm,” để “toàn dân đủ ăn mặc, toàn dân biết đọc, biết viết, toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới…” Từ đó thực hiện “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội-2011, t.5, tr.556-557).

Về cách tổ chức phong trào thi đua yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây: Hạnh phúc cho dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội-2011, t.5, tr.556-557).

Người căn dặn: “Thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững… Phải có kế hoạch tỷ mỷ. Kế hoạch ấy phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu biết thấu, vui vẻ làm… Nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực” (Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, t.7, tr.146).

Người nhấn mạnh: “Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng. Trước khi thi đua phải chuẩn bị đầy đủ (giải thích cổ động, xem xét kế hoạch mỗi nhóm, mỗi người) trong lúc thi đua phải thiết thực đôn đốc, giúp đỡ, sửa đổi. Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi” (Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, t.7, tr.146).

Và “Thi đua phải lâu dài và rộng khắp, không phải chỉ trong một thời gian nào (những ngày kỷ niệm là những đợt để lấy đà và để kiểm thảo, chứ không phải qua những ngày ấy rồi lại nghỉ thi đua), không phải chỉ riêng ngành nào, nhóm người nào”(Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, t.7, tr.146).

Nghĩa là thi đua không phải chỉ trong một giai đoạn nhất thời mà phải được tổ chức thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ, có như thế mới đảm bảo được tính toàn diện cũng như ý nghĩa của việc thi đua.

Về phương châm thi đua yêu nước, Người nhấn mạnh: “Thi đua chứ không phải ganh đua” nên cần phải đoàn kết, thân ái giúp đỡ lẫn nhau để đạt thành tích cao; thi đua phải gắn liền với công tác khen thưởng; khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua; khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ động viên, giáo dục và thúc đẩy phong trào thi đua.

Ngày 1/5/1952, trong “Bài nói tại đại hội các chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc,” Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những yêu nước nhất” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.7, tr.407).

Quan điểm ấy chính là động lực to lớn làm cho phong trào thi đua yêu nước có sức mạnh tinh thần vô cùng mạnh mẽ, tồn tại lâu dài, phát triển không ngừng, gắn liền với sự phát triển của dân tộc.

Có thể thấy, quan điểm thi đua là yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng trên nền tảng truyền thống của lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam, đó là lòng yêu nước, ý chí quật cường của con người Việt Nam.

Người đã lấy thi đua làm động lực phát huy lòng yêu nước, qua phong trào thi đua bồi dưỡng, nâng cao lòng yêu nước, làm cho lòng yêu nước thể hiện bằng những hành động cụ thể trong lao động sản xuất và chiến đấu. Ngược lại, lấy lòng yêu nước thúc đẩy phong trào thi đua.

Cùng với việc đưa ra quan điểm toàn diện về thi đua yêu nước, ngày 1/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 195-SL về việc thành lập Ban vận động thi đua ái quốc Trung ương và Ban vận động thi đua ái quốc các cấp. Trong quá trình phong trào thi đua ái quốc được phát động, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo sát từng bước đi của phong trào.

Góp phần quan trọng vào xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước

“Lời kêu gọi thi đua ái quốc” năm 1948 của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ lợi ích của Nhân dân, nhằm mục đích đem lại ấm no, hạnh phúc và độc lập tự do cho Nhân dân. Vì thế, phong trào thi đua đã được đông đảo các tầng lớp Nhân dân hưởng ứng, tham gia.

Ngay từ những ngày đầu phát động, phong trào đã diễn ra sôi nổi, lan rộng khắp cả nước, góp phần đưa nước ta từng bước vượt qua những khó khăn, nạn đói, nạn dốt dần được đẩy lùi, bước đầu đảm bảo những điều kiện vật chất cần thiết phục vụ cho kháng chiến.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trên tiền tuyến, các chiến sỹ thi đua giết giặc lập công, ở hậu phương, Nhân dân thi đua tăng gia sản xuất giỏi. Các phong trào "Ba sẵn sàng," "Ba đảm đang," "Năm xung phong," “Sóng Duyên Hải,” “Gió Đại Phong,” “Trống Bắc Lý,” “Nghìn việc tốt,” “Tay búa, tay súng,” “Bám đất giữ làng,” “Một tấc không đi, một ly không dời,” “Giết giặc lập công,” “Sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần,” “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược,” “Tất cả để bảo vệ biên cương của Tổ quốc”… đã trở thành động lực và hành động cách mạng trong các cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, các phong trào thi đua hướng vào các nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tiêu biểu là các phong trào: “Tất cả vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân;” “Tất cả vì công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”…

Bước vào thời kỳ đổi mới, để đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước, các ngành, các cấp đã triển khai nhiều phong trào thi đua lớn, như: "Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi," "Thanh niên lập nghiệp," "Ðền ơn đáp nghĩa," "Vì Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu..."

Các phong trào có vai trò quan trọng để cả dân tộc Việt Nam thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường hội nhập quốc tế.

Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam cũng đứng trước nhiều thử thách, khó khăn, đòi hỏi phải phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc trong mỗi người dân.

Vì vậy, việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh càng cần được nhận thức đầy đủ, nhân rộng và thực hiện một cách hiệu quả hơn.

Do đó, ngày 4/3/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 258/QĐ-TTg về việc lấy ngày 11/6 hằng năm là “Ngày Truyền thống thi đua yêu nước,” nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân đối với công tác tổ chức, vận động và hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Thi đua yêu nước - động lực phát triển trong kỷ nguyên mới

Phong trào thi đua yêu nước đã thấm sâu vào từng tế bào của xã hội, từng con người cụ thể, lan toả sâu rộng trong Nhân dân, tạo ra động lực tinh thần to lớn, góp phần làm nên những thành tựu quan trọng của đất nước.

Để tiếp tục phát huy nguồn động lực ấy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, gắn các phong trào thi đua với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đặc biệt, việc Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ các phong trào thi đua yêu nước trong thập kỷ qua.

Thực tiễn cho thấy, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã góp phần đưa các phong trào thi đua yêu nước ngày càng đi vào chiều sâu, gắn chặt với nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thi đua không chỉ là động lực hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội mà còn góp phần khơi dậy tinh thần trách nhiệm, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng cống hiến của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân. Từ đó, nhiều phong trào thiết thực, hiệu quả đã được triển khai, tạo sức lan tỏa rộng khắp trong toàn xã hội.

Trong giai đoạn 2021-2025, dù đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, sự hợp tác và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, Việt Nam đã vượt qua "những cơn gió ngược" và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đặc biệt, cuộc cách mạng "sắp xếp lại giang sơn" đã tạo nền tảng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Trong những thành tựu quan trọng của đất nước có sự đóng góp tích cực đến từ các phong trào thi đua yêu nước. Nhiều phong trào thi đua có tầm vóc, có chiều sâu, có sức lan tỏa mạnh mẽ, tiêu biểu như các phong trào: "Cả nước đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch COVID-19;" "Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;" “Xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025;” "500 ngày đêm hoàn thành 3.000km đường bộ cao tốc;" "Bình dân học vụ số," "Học tập suốt đời;" Chiến dịch Quang Trung thần tốc sửa chữa và xây lại nhà cho người dân chịu ảnh hưởng bởi thảm họa thiên tai; Chương trình "Sóng và máy tính cho em" và gần đây là Chiến dịch "500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định Danh tính hài cốt liệt sỹ"…

Mỗi phong trào là một minh chứng sống động cho ý chí, trí tuệ và khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng, người dân thực sự ấm no và hạnh phúc.

Trải qua 78 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, tư tưởng thi đua yêu nước của Người vẫn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, thi đua luôn là nguồn động lực quan trọng, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, việc tiếp tục phát huy truyền thống thi đua yêu nước, biến khát vọng phát triển thành hành động cụ thể của mỗi cá nhân, tập thể sẽ góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

Báo Vietnam+

Address

XÃ NAM AN PHỤ, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Hai Phong

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nam An Phụ - Vững niềm tin posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share