Chùa Tiên - Mẫu Đầm Đa Hoà Bình

Chùa Tiên - Mẫu Đầm Đa Hoà Bình Ban quản lý các khu di tích huyện lạc thuỷ

*****ĐỀN MẪU ÂU CƠ ( thường gọi MẪU ĐẦM ĐA)*****         Theo truyền thuyết thì cháu ba đời của Đế Viên họ Thần Nông là ...
22/11/2020

*****ĐỀN MẪU ÂU CƠ ( thường gọi MẪU ĐẦM ĐA)*****

Theo truyền thuyết thì cháu ba đời của Đế Viên họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Nhân chuyến tuần du vùng núi Ngũ Lĩnh, Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục. Ngài là bậc thánh thông minh. Đế Minh yêu quý Lộc Tục, cho nối ngôi, phong là Kinh Dương Vương (2879 – 2794 trước Công nguyên) cho cai quản phương Nam. Lộc Tục lấy con gái Long Thần là Động Đình Quân sinh ra Lạc Long Quân, tức Sùng Lãm. Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ trong chuyến tuần du ở Động Lăng Xương bên sông Đà. Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng, nở 100 người con. 50 người con theo mẹ lên rừng, 50 người con theo cha xuống biển, sinh sôi, phát triển thành dân tộc Việt Nam ta như ngày nay.

Tưởng nhớ công ơn của Mẫu tổ Âu Cơ, người dân nơi đây đã lập đền thờ Mẫu Âu Cơ tại thôn Lão Ngoại, xã Phú Lão từ đó người dân thường gọi với cái tên thân thuộc Mẫu Đầm Đa, Hoà Bình.

Đền Mẫu cách Đền Trình khoảng 300m về phía Tây Bắc, nằm ẩn mình trên sườn núi So (còn gọi là núi Thờ), thuộc thôn Lão Ngoại, mặt quay hướng Đông Bắc. Đền Mẫu xưa là ngôi nhà sàn, tranh, tre, nứa, lá. Trong đền đồ thờ tự duy nhất chỉ có một bát hương cổ. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử ngôi đền bị hư hỏng và xuống cấp.
Năm 1994, đền được tu sửa bằng gỗ mái lợp ngói Ri. Năm 1999, đền được xây mới lại trên nền đất cũ.

Hiện nay, đền Mẫu xây dựng theo lối kiến trúc gần như kiểu nhà sàn xây dựng kiên cố bằng xi măng cốt thép. Phía dưới là 6 hàng chân cột, để đỡ toàn bộ ngôi đền ở phía trên, có hai cột ở giữa vươn cao lên tận mái.

Đền thiết kế hai lối lên xuống hai bên. Lối lên bên trái được xây bậc đá, còn lối bên phải được dựng cầu thang. Đền xây dựng với chiều dài 8m, rộng 5,50m; cao 5,60m. Phía trước là khoảng sân rộng được láng xi măng, xung quanh bao lan can. Trần đổ cuốn vòm, phía trên mái được ốp ngói giả kiểu ngói ống.

Nhìn phía trước đền có 3 cửa, các cửa đều được xây cao 1,90m; 1,20m; các cánh cửa đều làm bằng gỗ tạp.
Kiến trúc vì kèo gồm 2 bộ vì, làm theo kiểu chồng rường giá chiêng trụ trốn. Toàn bộ hệ thống vì kèo được làm bằng xi măng cốt thép. Lòng nhà chia một gian hai trái, trái bên phải được xây tường ngăn cách với gian chính, có cửa ra vào, cửa cao 1,85m, rộng 0,8m.

Trong đền có 3 ban thờ, các ban thờ được ốp bằng gạch men màu nâu, dài 1,60m, rộng 2,15m.
+ Chính giữa là tượng Mẫu tổ Âu Cơ, được tạc cao 115cm. Đầu đội vương miện, khuôn mặt tròn, đôn hậu, môi đỏ, mắt nhìn thẳng, tai to, cổ đeo các vòng tràng hạt màu đỏ, trắng, tím, hai tay được đặt chồng lên nhau theo thế tam muội ấn. Tượng mặc áo dài màu đỏ, được đặt trong khám. Khám cao: 185cm, dài 125cm, được sơn son thếp vàng. Khám được trạm lộng hoa văn với đề tài lưỡng long chầu nguyệt và tứ linh, tứ quý.
+ Ban bên phải nhìn vào là ban thờ tượng các cô, các nàng.
+ Ban bên trái nhìn vào là ban thờ tượng vua cha Lạc Long Quân tượng được tạc ngồi cao ng cân, khuôn mặt cương nghị, môi đỏ, mắt nhìn thẳng, tai to, mặc áo triều phục mầu vàng.

Các cấp dưới tượng bài trí các đồ thờ tự như mâm bồng, đèn nến... Đặc biệt ở giữa đặt bát hương đồng trang trí lưỡng long chầu nguyệt, cao 0,30m, đường kính miệng 0,31m.

Trong công xuộc xây dựng, phát triển đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay đang là xu hướng mở, tiệm cận giao lưu, giao thoa với các thành tựu của nền kinh tế thế giới đặc biệt là văn hóa tín ngưỡng đã và đang được nhiều người, nhiều thế hệ và cộng đồng quan tâm. Văn hóa tín ngưỡng vừa mang tính bản sắc văn hóa của dân tộc, vừa có ý nghĩa tâm linh trong tâm hồn mỗi con người, đây là nét đẹp văn hóa mà ai ai cũng hướng tới để góp phần bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc , đồng thời để tưởng nhớ và tri ân với các bậc tiền nhân đã có công khai khẩn, vun đắp, xây dựng nên nong sông bờ cõi.

Người Việt Nam ta ai cũng biết và nhớ rằng chúng ta là con một cha, nhà một mẹ “Lạc Long Quân và Âu Cơ” là người đã sinh ra con Lạc, cháu Hồng, đã để lại cho chúng ta cả giang sơn bờ cõi. Đền Mẫu Âu Cơ hay còn gọi là (Mẫu Đầm Đa) là di sản Quốc gia nằm trong khu di tích Danh lam thắng cảnh quần thể hang động khu vực Chùa Tiên thuộc xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp bằng công nhận di tích cấp Quốc gia.

Hằng năm có hàng triệu triệu người nhớ về nguồn cội Mẫu Đầm Đa (Mẹ Âu Cơ) để thắp hương tri ân, tưởng nhớ. Tuy nhiên, do số lượng khách về quá đông, nơi thờ phụng không đáp ứng được nhu cầu của du khách, mặt khác cơ sở vật chất đền thờ Mẫu Âu Cơ đã trải qua thời gian mưa, nắng bị hư hỏng xuống cấp nhiều du khách và địa phương kiến nghị phải nâng cấp sửa chữa để giữ gìn nơi thờ phụng được tôn nghiêm.

Năm 2016, Ban Quản lý các Khu di tích đã đề xuất và được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản Văn hóa cùng các cấp, ban, ngành phê duyệt đề án trùng tu, tôn tạo Đền Mẫu Âu Cơ. Đền Mẫu Âu Cơ( Mẫu Đầm Đa) đã được các nhà khoa học như Giáo sư Trần Lâm Biền, Giáo sư sử học Dương Trung Quốc, Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Văn Bài, Nguyên cục Trưởng Cục Di sản Văn hóa về thăm, khảo sát đánh giá và nhận định đây là nơi thờ Mẫu Âu Cơ có giá trị lịch sử lớn của Việt Nam. Mang bản sắc văn hóa đặc sắc, tín ngưỡng tôn giáo linh thiêng, di tích cần được bảo tồn và phát triển, chính vì vậy mà hằng năm du khách thập phương đã đổ về thắp hương, thờ Mẫu cầu xin sức khỏe, bình an, cầu tài, cầu lộc, cầu hạnh phúc, ấm no, cầu mưa thuận, gió hòa, nhà nhà hạnh phúc.

Hiện nay công trình đã đi vào trùng tu, xây dựng các hạng mục tôn tạo xây dựng như nhà Đền Mẫu, bức hoành phi, câu đối, ban thờ cửa võng và một số đồ thờ tự đang trong quá trình thi công, tuy nhiên nguồn vốn quá khó khăn và cần có sự ủng hộ, giúp đỡ của mọi tổ chức, cá nhân các công ty, doanh nghiệp để công trình hoàn thành đúng tiến độ, khang trang to đẹp và tôn nghiêm hơn.

Với trách nhiệm của mình, để mọi tổ chức, cá nhân, công ty, doanh nghiệp và các nhà hảo tâm biết phát tâm công đức góp phần tham gia xây dựng ngôi Đền thờ Mẫu Âu Cơ (Mẫu Đầm Đa), Ban Quản lý các Khu di tích huyện Lạc Thủy kính mong các nhà hảo tâm hoan hỉ phát tâm công đức, tài trợ để xây dựng hoàn thiện ngôi Đền thờ Mẫu Đầm Đa xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Với niềm tin Mẫu ban phước lộc, thái thịnh, an hòa. Các tổ chức, cá nhân, các công ty, doanh nghiệp các nhà hảo tâm có thể liên hệ qua số điện thoại đồng chí Đỗ Danh Ngọc- Trưởng Ban Quản lý các Khu di tích huyện Lạc Thuỷ-0989024555. Ban Quản lý các Khu di tích huyện xin ghi nhận tấm lòng hảo tâm của quý phật tử thiện tín gần xa, các nhà hảo tâm công đức!

***********ĐỀN TRÌNH***********          Điểm đến đầu tiên của Danh lam thắng cảnh quần thể hang động khu vực Chùa Tiên ...
20/11/2020

***********ĐỀN TRÌNH***********

Điểm đến đầu tiên của Danh lam thắng cảnh quần thể hang động khu vực Chùa Tiên đó là Đền Trình. Đền Trình thờ Tam vị Đức Thánh Ông.

Tương truyền, ngày xưa có ba anh em họ Đào tên Tấn, Minh, Ngọc là người khai sơn lập địa nên vùng đất này. Ba ông mất tại đất Khóm Chanh (khu đất lập đền Trình ngày nay), khi nhân dân trong vùng biết đến thì mối đã lấp gần hết thi hài của 3 ông, duy nhất chỉ để lộ ra 6 bàn chân và đến ngày hôm sau nữa thì mới lấp hết.

Nhân dân thấy vậy gọi là “thiên táng”. Từ đó, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ để nhớ công lao khai sơn lập địa dựng nên làng xóm của các ông, và tôn các ông là thành hoàng làng. Từ đó cứ đến ngày mùng 1 và ngày rằm, lễ, tết cổ truyền của dân tộc đều có hương khói thờ phụng.

Đền Trình toạ lạc trên thửa đất rộng khoảng 1000 m2 ở thôn Lão Ngoại, xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy. Theo truyền thuyết Đền Trình xưa kia là ngôi nhà sàn, nguyên vật liệu là gỗ, tranh, tre, nứa, lá. Trải qua thời gian ngôi đình đã bị xuống cấp. Đến năm 1932 những người có chức sắc trong làng đã quyên góp tiền của, công sức dựng lại ngôi đền bằng gỗ rất khang trang bề thế. Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ ngôi đình đã bị phá huỷ hoàn toàn.

Đến năm 1993 chính quyền và nhân dân trong thôn đã quyên góp tiền của xây dựng lại ngôi đền trên nền móng cũ, theo kiểu chữ nhất , với chiều dài 5,20m, rộng 5m. Đền có 4 mái, lợp ngói Ri.

Về kiến trúc gỗ gồm hai vì kèo làm theo kiểu chồng rường giá chiêng, cột trốn đội kẻ góc. Hai hàng chân cột được làm bằng bê tông. Vì kèo, kẻ 7, hoành được làm bằng gỗ lim.
Năm 2005, địa phương đã xây thêm một giếng ngọc trước cửa đền cạnh đường vào.
Năm 2007, chính quyền và nhân dân địa phương xây mới lại ngôi đình theo lối kiến trúc kiểu chữ đinh (J) như ngày nay.

Hiện nay, đền gồm 3 gian, 2 chái. Mái lợp ngói ri, 4 bên có đầu đao cong hình rồng, trên nóc có lưỡng long chầu nguyệt. Đền gồm có 4 cửa bằng gỗ. Trong đền có 8 cột trụ, trên mỗi cột trụ đều trang trí trạm nổi hình rồng cuốn quanh cột.

Đền gồm: Nhà Đại bái và Hậu cung.

a. Nhà Đại bái: gồm 3 ban thờ.

- Chính giữa là ban thờ Ngũ vị Tôn ông; Hội đồng Quan lớn:
Ban thờ xây dật 3 cấp: dài 2,85m.

+ Cấp 1: cao 36cm; rộng 1,10m: Cấp này gồm 2 lớp tượng: lớp trên cùng là 3 pho Tam toà Thánh mẫu, tượng cao 70cm, tượng ngồi xếp bằng, tay bắt quyết để trên đùi. Tượng ngồi trên bệ cao 15cm.
Lớp tượng phía dưới gồm 5 pho Ngũ vị Tôn ông, tượng cao 60cm, tượng ngồi xếp bằng hai tay đặt trên đùi. Tượng đặt trên bệ cao 20cm.

+ Cấp 2: cao 33cm; rộng 80cm: Cấp này bài trí 3 pho tượng Hội đồng quan lớn. Tượng tạc ngồi cao 50cm, với tư thế ngồi vắt chân chữ ngũ, 2 tay đặt trên đùi. Tượng đặt trên bệ cao 15cm.

+ Cấp 3: cao 77cm; rộng 85cm: Cấp này bài trí chính giữa là 1 lư hương đồng, bên trên trang trí Lướng long chầu nguyệt; 2 bên mỗi bên có 1 mâm bồng và 1 chân nến.
Hai bên ban thờ bài trí 4 thanh bảo khí.
Phía trên ban thờ treo bức y môn bằng đồng viết 3 chữ Hán: Ngưỡng Di Cao. Ngay dưới bức y môn treo cửa võng bằng gỗ sơn son thếp vàng có khắc hình rồng phượng, hoa lá cách điệu.

- Phía bên trái của ban thờ Ngũ vị Tôn ông là ban thờ Đức thánh Trần. Ban thờ được xây dật 3 cấp dài 2,92m:

+ Cấp 1: cao 22cm; rộng 83cm: Cấp này bài trí 3 pho tượng.
Chính giữa đặt pho tượng Đức Thánh Trần tạc ở tư thế ngồi cao 80cm, hai tay để hai bên đùi, ngồi trên bệ cao 35cm. Hai bên, mỗi bên có 1 bức tượng cô đứng hầu cận.

+ Cấp 2: cao 22cm; rộng 83cm: chính giữa là một chiếc ngai sơn son thếp vàng, trạm hình rồng. Trước ngai có đặt 1 đỉnh đồng.

+ Cấp 3: Cao 82cm; rộng 85cm: chính giữa đặt 1 lư hương đồng chạm lưỡng long chầu nguyệt. Hai bên, mỗi bên đặt 1 chân nến và 1 mâm bồng bằng đồng.
Phía dưới ban thờ xây 3 mái vòm đặt 3 con ngựa gỗ. Phía trước đặt 1 bát hương gốm.
Hai bên ban thờ bài trí 4 thanh bảo khí.

- Phía bên phải của ban thờ Ngũ vị Tôn ông là ban thờ Chúa Sơn trang. Ban thờ xây dật 3 cấp có chiều dài là 2,85m.

+ Cấp 1: Cao 26cm; rộng 82cm: cấp này bài trí 15 pho tượng. Chính giữa là pho tượng Bà chúa Sơn trang, tạc ở tư thế ngồi, tượng cao 50cm, đặt trên bệ cao 30cm. Hai bên, mỗi bên có 1 cô cầm tráp đứng hầu. Xung quanh có 12 cô hầu tay cầm nhạc khí.

+ Cấp 2: cao 22cm; rộng 82cm: chính giữa đặt 1 đỉnh đồng và 2 chân nến đồng.

+ Cấp 3: cao 83cm; rộng 77cm: cấp này gồm 1 lư hương đồng, 2 chân nến và 2 mâm bồng.
Dưới ban thờ xây một mái vòm trong đó có đặt 1 bát hương gốm thờ Quan Ngũ Hổ.

b. Hậu cung:

Từ nhà Đại bái bước qua 3 bậc tam cấp là đến Hậu cung. Trong hậu cung xây 1 ban thờ dật 3 cấp thờ Vua cha Ngọc hoàng; Tam vị Đức ông. Ban thờ dài 2,95m.

+Cấp 1: cao 22cm; rộng 1m: Cấp này bài trí 3 pho tượng. Chính giữa đặt pho tượng Vua cha Ngọc Hoàng, ngồi trên ngai vàng, đầu đội mũ long bảo, hai tay để trước ngực. Tượng cao 1m; bệ cao 30cm.
Bên trái tượng Vua cha Ngọc Hoàng là pho tượng Nam Tào, tạc ở tư thế ngồi cao 50cm, hai tay để trên đùi. Tượng đặt trên bệ cao 25cm.
Bên phải tượng Vua cha Ngọc hoàng là pho tượng Bắc Đẩu, tạc ở tư thế ngồi cao 50cm, hai tay để trên đùi. Tượng đặt trên bệ cao 25cm.

+ Cấp 2: cao 34cm; rộng 82cm: bài trí 3 pho tượng Tam vị Đức ông, 1 đỉnh đồng trạm rồng, ghê. 2 bên mỗi bên có 1 con hạc đồng đứng trên mai rùa, miệng hạc ngậm hoa sen.

+ Cấp 3: cao 95cm; rộng 83cm: bài trí chính giữa là bát hương gốm, hai bên có 2 mâm bồng và 2 chân nến.
Hai bên ban thờ bài trí 2 thanh bảo đao và 2 lọng.

***KHU DI TÍCH DANH LAM THẮNG CẢNH QUẨN THỂ HANG ĐỘNG KHU VỰC CHÙA TIÊN***          Đầm Đa là tên thường gọi chung của q...
10/11/2020

***KHU DI TÍCH DANH LAM THẮNG CẢNH QUẨN THỂ HANG ĐỘNG KHU VỰC CHÙA TIÊN***

Đầm Đa là tên thường gọi chung của quần thể các đền, chùa, hang động tuyệt đẹp, nằm bên kia sườn dãy núi Hương Sơn Chùa Hương thuộc địa phận xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Đầm Đa mở hội vào mùng 4 tháng Giêng âm lịch cho đến hết tháng ba âm lịch hằng năm, lễ hội truyền thống mang tính lịch sử lâu đời đã đi vào tiềm thức của người dân địa phương và du khách gần xa, trở thành nét đẹp văn hóa mỗi độ xuân về. Tới Đầm Đa, chúng ta tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu, đồng thời khám phá những hang động còn lưu giữ những dấu viết của người việt cổ xa xưa.

Trong Hội nghị thông qua hồ sơ di tích để trình Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xem xét xếp hạng là Khu di tích danh lam thắng cảnh quần thể hang động cấp Quốc gia cho địa điểm này, các đại biểu đại diện các cơ quan Ban, Ngành của tỉnh Hòa Bình, huyện Lạc Thủy và của xã Phú Lão đã đưa vấn đề tên gọi của quần thể di tích này ra để Hội nghị thảo luận. Hội nghị đã thống nhất lấy tên Chùa Tiên làm tên gọi chung cho cả quần thể di tích này. Khu di tích danh lam thắng cảnh quần thể hang động khu vực Chùa Tiên được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 2011.

“Lễ hội Chùa Tiên” đã trở thành thương hiệu đặc biệt cho du khách du lịch khi đến với tỉnh Hòa Bình. Đến với lễ hội Chùa Tiên, du khách sẽ được thưởng thức một di sản văn hoá vừa vật thể, vừa phi vật thể. Những chiếc kiệu như từ truyền thuyết đi ra, như từ dã sử xuất hiện, vừa lạ vừa quen, vừa cổ xưa, vừa mới mẻ, vừa bình dị vừa thiêng liêng. Lễ hội Chùa Tiên vốn có từ thời xa xưa và nay đã trở thành nổi tiếng trong và ngoài tỉnh, mỗi năm lễ hội lại được tổ chức quy mô hơn, đông vui hơn, du khách bốn phương tìm về nhiều hơn. Gọi là lễ hội Chùa Tiên, nhưng đây là lễ hội chung cho cả khu di tích mà địa điểm chính được đặt ở Chùa Tiên.

Quần thể di tích chùa Tiên, xã Phú Lão bao gồm 18 điểm di tích, với nhiều loại hình: di tích lịch sử văn hoá, di tích thắng cảnh, di tích khảo cổ. Mỗi loại hình lại mang những giá trị văn hoá, lịch sử riêng biệt.

1. Di tích khảo cổ Động Tiên (di tích này đã được xếp hạng cấp Quốc gia năm 1989).
2. Di tích lịch sử văn hóa Chùa Tiên.
3. Di tích lịch sử văn hóa Đền Trình.
4. Di tích lịch sử văn hóa Đền Mẫu.
5. Di tích lịch sử văn hóa Đình Trung.
6. Di tích lịch sử văn hóa Động Châu Sơn.
7. Di tích thắng cảnh Động Linh Sơn.
8. Di tích thắng cảnh Động Thượng Ngàn.
9. Di tích thắng cảnh Động Ông Hoàng Bảy.
10. Di tích thắng cảnh Động Ông Hoàng Mười.
11. Di tích thắng cảnh Động Giải Oan.
12. Di tích thắng cảnh Động Cung Tiên.
13. Di tích thắng cảnh Động Mẫu Long.
14. Di tích thắng cảnh Động Tam Toà.
15. Di tích thắng cảnh Động Suối Bạc.
16. Di tích thắng cảnh Động Thủy Tiên.
17. Di tích thắng cảnh Động Cô Chín.
18. Di tích thắng cảnh Động Cậu Bé.

Đến với loại hình khảo cổ, du khách sẽ được nghiên cứu cột đá trầm tích có niên đại hàng triệu năm tuổi.

Đến với những di tích đình, đền chúng ta sẽ được tìm hiểu về kiến trúc cổ truyền, với lối kiến trúc hoà quyện văn hoá Việt Mường, tìm hiểu những câu chuyện truyền thuyết các vị thần được thờ trong di tích và thắp nén nhang thơm để bày tỏ lòng tôn kính của mình, cầu thần ban cho phúc lành. Đó là những vị thần đã có công xây dựng và bảo vệ đất nước như Tam vị Tản Viên Sơn Thánh, Nam Hải Tứ vị Thánh Nương.

Đến với các di tích thắng cảnh, chúng ta sẽ có dịp được thưởng ngoạn và thám hiểm thế giới nhũ đá thần kỳ những măng đá, cột đá, với những hình thù kỳ lạ đầy hấp dẫn đã tạo cho nơi đây một vẻ đẹp đầy ấn tượng khó quên.

Các di tích bổ sung cho nhau, tạo cho du khách có cảm giác như được đắm chìm trong không gian văn hoá truyền thống, với vẻ đẹp tự nhiên của cảnh quan khu vực.

Quần thể di tích này tọa lạc trong thung lũng của hai thôn Lão Nội và Lão Ngoại thuộc xã Phú Lão, xung quanh được che chắn bởi hai dãy núi trải dài như hai con rồng khổng lồ như đang muốn vươn mình tới trời xanh. Quần thể di tích chùa Tiên có đầy đủ những giá trị về lịch sử, văn hoá; về lễ hội và về du lịch.

Đến nơi đây du khách như được trở về với cuội nguồn, được thả hồn với mây trời sắc núi, được chiêm ngưỡng từng đàn cò trắng dập dờn bay lượn trên cánh đồng bát ngát màu xanh, được chiêm ngưỡng các thôn nữ thướt tha, duyên dáng trong trang phục truyền thống cổ truyền của dân tộc Mường, được gặp những chàng trai Mường nồng nàn trong những điệu cồng đón khách.

Đã có nhiều dự án kêu gọi đầu tư tôn tạo biến Lạc Thuỷ trở thành một điểm du lịch Văn hoá- Sinh thái đầy tiềm năng. Trong đó, dự án Khu du lịch văn hóa và nghỉ dưỡng Lạc Thủy do Công ty TNHH MTV Pacific-Hòa Bình làm Chủ đầu tư là dự án lớn nhất. Theo quy hoạch được duyệt, các hạng mục của Dự án tập trung vào lĩnh vực văn hóa và nghỉ dưỡng, bao gồm những khu chính như: Công viên Một thoáng Việt Nam, Bảo tàng Nguồn cội, Khu phục hồi sức khỏe kiểu Nhật, Khu khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng, Mô hình Quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa...
Dự án Khu du lịch văn hóa và nghỉ dưỡng Lạc Thủy nếu hoàn thiện ước tính sẽ đón khoảng 10.000 lượt khách/ngày, tương đương khoảng 3.000.000 lượt khách/năm. Tiềm năng du lịch mang đến kỳ vọng sẽ phát triển các mô hình làng nghề phục vụ khách du lịch và phát triển du lịch cộng đồng (Homestay), tạo sức hút và sự chuyển mình mạnh mẽ cho xã miền núi nghèo Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.

Một số hình ảnh được chụp trong khu di tích danh lam thắng cảnh quần thể hang động khu vực Chùa Tiên.

***ĐÔI NÉT VỀ HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH KHI QUÝ KHÁCH ĐẾN THAM QUAN!***          Huyện Lạc Thủy nằm về phía Đông Nam...
06/11/2020

***ĐÔI NÉT VỀ HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH KHI QUÝ KHÁCH ĐẾN THAM QUAN!***

Huyện Lạc Thủy nằm về phía Đông Nam của tỉnh Hoà Bình. Phía Đông giáp 2 huyện Kim Bảng và Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam); phía Tây giáp huyện Yên Thuỷ; phía Bắc liền kề với huyện Kim Bôi; phía Đông Bắc tiếp giáp với huyện Mỹ Đức (Hà Nội); phía Nam tiếp giáp huyện Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình).

Vùng đất Lạc Thuỷ xưa thuộc huyện Xích Thổ, trấn Thiên Quan. Đến thời nhà Lê, Lạc Thuỷ thuộc huyện Yên Hoá, phủ Thiên Quan, đạo Thanh Bình.

Năm 1886, thực dân Pháp đã cắt phần đất có đông đồng bào Mường sinh sống ở các tỉnh Hưng Hoá, Sơn Tây, Ninh Bình lập thành tỉnh Mường Hoà Bình. Lúc đó tỉnh Mường Hoà Bình gồm 4 phủ là: Vàng An, Lương Sơn, Lạc Sơn, Chợ Bờ.

Năm 1896, tỉnh Mường được gọi là tỉnh Hoà Bình, gồm có 4 Châu là Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn và Mai Đà. Lúc này huyện Lạc Thuỷ vẫn thuộc châu Lạc Sơn.

Năm 1908, thực dân Pháp quyết định chuyển Lạc Thuỷ về tỉnh Hà Nam.
Ngày 1/5/1953 Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu III quyết định chuyển huyện Lạc Thuỷ về tỉnh Hoà Bình, đồng thời cắt 5 xã của huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình về huyện Lạc Thuỷ.

Đến tháng 8 năm 1964, huyện Lạc Thuỷ tách thành 2 huyện là Lạc Thuỷ và Yên Thuỷ. Năm 1976, tỉnh Hà Tây và Hoà Bình hợp nhất thành tỉnh Hà Sơn Bình.

Năm 1991, tỉnh Hà Sơn Bình được tách ra thành hai tỉnh là tỉnh Hoà Bình và tỉnh Hà Tây.

Huyện Lạc Thủy hiện nay với diện tích khoảng 31.495,35ha, địa hình đồi gò lượn sóng, nhiều núi đá vôi. Các đơn vị hành chính của huyện gồm có 2 thị trấn Chi Nê và Thanh Hà cùng 13 xã: An Bình, An Lạc, Cố Nghĩa, Đồng Môn, Đồng Tâm, Hưng Thi, Khoan Dụ, Lạc Long, Liên Hòa, Phú Lão, Phú Thành, Thanh Nông, Yên Bồng. Dân số huyện Lạc Thủy hiện nay có khoảng 64.310 người, gồm các dân tộc: Mường, Dao, Kinh. Trong đó, thị trấn Chi Nê và xã Đồng Tâm được thành lập năm 1990 trên cơ sở giải thể xã Chi Nê; Thị trấn Thanh Hà và xã Thanh Nông được chuyển từ huyện Kim Bôi về huyện Lạc Thủy vào ngày 14-7-2009; Thị trấn nông trường Sông Bôi giải thể ngày 31-8-1999.

Trong những năm gần đây, Lạc Thủy trở thành một địa điểm du lịch văn hóa đầy tiềm năng và hấp dẫn, trong số đó nổi trội và phát triển vượt bậc gồm loại hình du lịch: Du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch thắng cảnh và du lịch tâm linh.

Tại vùng đất Lạc Thủy, các nhà khoa học đã phát hiện 8 di chỉ thuộc nền văn hóa Hòa Bình gồm: di vật trống đồng loại I, giáo búp đa, giáo lá lúa, đỉnh đồng, mũi dao đồng... Điều này đã chứng tỏ nơi đây đã từng có sự giao thoa với nền văn hóa Đông Sơn. Đặc biệt trong hang Đồng Nội, xã Đồng Tâm, thuộc huyện Lạc Thủy, các nhà khảo cổ còn phát hiện những hình khắc trên vách núi đá, tiêu biểu nhất là hình thú và ba mặt người. Có thể nói đây là tác phẩm duy nhất của nghệ thuật tạo hình hiện ở tỉnh Hòa Bình và có lẽ cũng là tác phẩm nghệ thuật tạo hình cổ nhất tại Việt Nam tính đến thời điểm này.

Lạc Thuỷ là nơi giao thoa giữa hai nền văn hoá Kinh - Mường, nơi cư trú của người nguyên thuỷ xưa, nơi mang đậm dấu ấn của nền “Văn hoá Hoà Bình". Những lễ hội truyền thống, cách sinh hoạt hòa quyện vào nhau tạo nên nét văn hóa độc đáo và đặc sắc như: lễ hội cầu mát, lễ cầu phúc bản Mường, hội xéc bùa, lễ hội Đình Niếng, lễ hội Đình làng Vôi, lễ hội Đình làng Vai, làng Đồi, làng Chùa, lễ hội Đền Rem…Nơi đây còn có rất nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, toàn huyện có 6 di tích được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng cấp Quốc gia, 11 di tích được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, 29 di tích khoanh vùng bảo vệ, hai nhà Thờ xứ Đạo còn lại là Đình, Đền, nằm rải rác trong các khu dân cư thôn, xóm.

• Các di tích cấp Quốc gia trên địa bàn huyện Lạc Thủy hiện nay gồm:
1. Động Tiên- xã Phú Lão được xếp hạng cấp Quốc gia năm 1989;
2. Hang Đồng Thớt- thị trấn Thanh Hà được xếp hạng cấp Quốc gia năm 2001;
3. Hang Luồn- thị trấn Chi Nê được xếp hạng cấp Quốc gia năm 2001;
4. Di tích LSCM địa điểm Nhà máy in tiền tại đồn điền Chi Nê (1946-1947)- xã Cố Nghĩa được xếp hạng cấp Quốc gia năm 2007;
5. Khu di tích danh lam thắng cảnh quần thể hang động khu vực Chùa tiên- xã Phú Lão được xếp hạng cấp Quốc gia năm 2011;
6. Quần thể Núi Niệm- xã Phú Thành được xếp hạng cấp Quốc gia năm 2013.

• Các di tích được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh gồm:
1. Đình Niếng- xã Hưng Thi được xếp hạng DTLSVH cấp tỉnh năm 2001;
2. Đền Vai – xã Thanh Nông được xếp hạng DTLSVH cấp tỉnh năm 2003;
3. Đình Làng Chùa- xã Phú Thành được xếp hạng DTLSVH cấp tỉnh năm 2007;
4. Đình làng Vôi- xã Thanh Nông được xếp hạng DTLSVH cấp tỉnh năm 2007;
5. Chùa An Linh- xã Yên Bồng được xếp hạng DTLSVH cấp tỉnh năm 2013;
6. Đình làng Đồi- xã Thanh Nông được xếp hạng DTLSVH cấp tỉnh năm 2014;
7. Đền Rem- thị trấn Chi Nê được xếp hạng DTLSVH cấp tỉnh năm 2014
8. Đài Pathet lào- xã An Bình được xếp hạng DTLSVH cấp tỉnh năm 2016;
9. Tổ Đảng Hoàng Đồng- xã Khoan Dụ được xếp hạng DTLSVH cấp tỉnh năm 2016;
10. Trường Cán bộ dân tộc Miền Nam- Thị trấn Chi Nê được xếp hạng DTLSVH cấp tỉnh năm 2017;

Lạc Thủy còn có nhiều Hồ, Đập như hồ Đá bạc, hồ Đồng Tâm, hồ Đầm Khánh, Liên hồ Phú lão, Hang chim, Hang Hào, Hang Đồng Thớt, đặc biệt dòng sông Bôi chảy qua là tiềm năng thế mạnh để phát triển du lịch đường thủy xây dựng các tour du lịch nối liền các điểm di tích. Hạ tầng giao thông đi lại thuận lợi. Huyện có nhiều điểm di tích nằm liền kề với các khu du lịch nổi tiếng của tỉnh bạn như: khu du lịch Tràng An-Bái Đính (Ninh Bình); khu du lịch sinh thái Vân Long (Ninh Bình); khu du lịch nổi tiếng chùa Hương và các khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng của Kim Bảng (Hà Nam), nên việc liên kết mở các tuyến du lịch với các tỉnh bạn khá thuận lợi thành các chuỗi du lịch khép kín đặc biệt có tuyến cáp treo Hương Bình nối liền với khu di tích chùa Hương với khu du lịch Chùa Tiên, xã Phú Lão (nay là xã Phú Nghĩa).

​ Ngoài ra đến với vùng đất Lạc Thủy, Hòa Bình quý khách còn được thưởng thức những món ăn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của người Mường xưa như: Lợn mường đủ món trải trên cỗ lá, rau rừng đồ chấm lòng cá nấu chua, cơm nếp nấu trong ống tre (cơm lam), măng chua nấu ếch, thịt lợn muối chua, măng chua nấu thịt gà, cá nướng, thịt trâu nấu lá nồm…thưởng thức các món ăn ngon cùng rượu cần độc đáo vốn có truyền thống lâu đời ở đồng bào người Mường.

Khi trở về du khách có thể mua các sản phẩm lưu niệm làm quà cho các thành viên trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp tại các điểm bán hàng lưu niệm của Ban Quản lý các Khu di tích như: Đồng tiền con trâu xanh (lưu niệm) móc chìa khoá, cốc sứ, biểu trưng pha lê đều in lồng hình đồng tiền con trâu xanh và hình ảnh khu di tích Chùa Tiên....
Hoặc quý khách cũng có thể mua những sản phẩm nông sản nổi tiếng đặc trưng của địa phương về làm quà tại khu chợ phục vụ khách du lịch ở địa phương như: Cam Lạc Thủy, Na Lạc Thuỷ, Chè Sông Bôi, Bưởi đỏ, Bưởi Diễn trồng trên đất Lạc Thuỷ, mía Hoà Bình, thịt Gà Lạc Thủy, thịt Lợn Mường thui... Sản phẩm lưu niệm, quà tặng của nơi đây mang đậm nét độc đáo khác lạ về văn hóa, vùng đất và con người Hoà Bình.

Thiên nhiên tươi đẹp cùng với sự thân thiện, gần gũi của con người Lạc Thủy đã tạo nên một vùng đất Lạc Thủy yên bình, giàu truyền thống cách mạng. Chắc chắn rằng, nếu đã đến Lạc Thủy bạn sẽ không thể cưỡng lại sự hấp dẫn của thiên nhiên với thắng cảnh hùng vỹ và rất nhiều những món ăn dân tộc truyền thống độc đáo của người Mường nơi đây. Bởi lẽ đó, người ta luôn thấy được cái duyên trên mảnh đất này, bình dị, thân thương mà vô cùng quyễn rũ.

Một số hình ảnh các khu di tích và danh lam thắng cảnh khi quý khách đến thăm quan và có dịp thưởng thức các món ăn đậm đà bản sắc dân tộc, cùng những món quà lưu niệm đầy ý nghĩa khi đến thăm quan huyện Lạc Thuỷ.

Ngày 30/10/2020, Ban Quản lý các Khu di tích rất vinh dự được đón đoàn phóng viên Ban thời sự Đài Truyền hình Việt Nam đ...
30/10/2020

Ngày 30/10/2020, Ban Quản lý các Khu di tích rất vinh dự được đón đoàn phóng viên Ban thời sự Đài Truyền hình Việt Nam đến Di tích LSCM địa điểm Nhà máy in tiền tại đồn điền Chi Nê (1946-1947), Xã Phú Nghĩa, Huyện Lạc Thủy để ghi hình làm phim tài liệu về lịch sử quá trình hình thành-phát triển- tương lai của Nhà máy in tiền Quốc gia Việt Nam.
Về tham dự buổi ghi hình tại di tích LSCM địa điểm Nhà máy in tiền có:
- Gia đình GS, TS Toán học Đỗ Long Vân- con trai cụ Đỗ Đình Thiện- chủ nhân đồn điền Chi Nê xưa.
- Đồng chí Nguyễn Đức Hiển- Thiếu tướng- Nguyên Cục trưởng Cục An ninh Kinh tế- Bộ Công an.
- Đồng chí Phạm Minh Quốc- Nguyên Trưởng phòng kỹ thuật Nhà máy in tiền Quốc gia (2006-2009)- Nguyên Trưởng BQL dự án xây dựng Nhà máy in tiền Quốc gia mới (NH09).
- Đồng chí Chu Thu Hằng- Tổng Biên tập Báo Văn hoá.
- Phóng viên Bích Vân-Ban thời sự Đài Truyền hình Việt Nam.
Về phía Ban Quản lý các Khu di tích cùng tiếp đoàn có:
- Đồng chí Đỗ Danh Ngọc-Trưởng ban-Ban Quản lý các Khu di tích huyện Lạc Thủy.
- Đồng chí Đinh Thị Bình-Phó Trưởng ban- Ban Quản lý các Khu di tích huyện Lạc Thủy.
Trong buổi làm việc đoàn làm phim đã quay phim, phỏng vấn, khắc họa chân dung GS,TS Toán học Đỗ Long Vân- con trai cụ Đỗ Đình Thiện- chủ nhân đồn điền Chi Nê -Người đã có những đóng góp rất lớn cho nền Tài chính Cách mạng Việt Nam những năm đầu thành lập.
Tại ngôi nhà Trung tâm của đồn điền Chi Nê xưa-nơi ghi dấu một thời gia đình GS Đỗ Long Vân đã từng sinh sống với biết bao kỷ niệm lại tràn về trong ông, xúc động bùi ngùi ông kể về cảm xúc lúc gia đình ông vinh dự được đón Bác Hồ trên đường đi công tác vào Thanh Hoá đã ghé thăm và nghỉ lại tại đây.
GS Vân kể lại một phần câu chuyện nhỏ: “Tối 18/2/1947, Chủ Tịch Hồ Chí Minh từ chùa Một Mái (Quốc Oai) lên đường đi Thanh Hóa, mờ sáng ngày 19/2 tới Chi Nê. Vì lúc đó vào tháng 2 nên trời còn lạnh, ba mẹ chúng tôi mời Bác vào phòng khách sưởi ấm một lúc rồi mời Bác dùng điểm tâm. Sau đó ba mẹ chúng tôi mời Bác đi thăm nhà công nhân ở và một số gia đình người Mường ở gần đó. Lúc trở về gần đến nhà thì có 2 chiếc máy bay thám thính lượn. Mấy Bác cháu xuống hầm trú ẩn. Máy bay đi khỏi thì lại trở về nhà. Bác lấy chiếc máy chữ nhỏ đem ra ngồi dưới gốc đa ngoài vườn làm việc, Người đánh máy chữ hàng tiếng đồng hồ. Buổi trưa Bác dùng cơm cùng gia đình. Sau bữa cơm trưa mấy chị em chúng tôi đã hát để Bác nghe rồi sau đó Bác tiếp tục làm việc. Bữa ăn tối hôm đó thật là thân mật, ấm cúng như buổi sum họp gia đình cha con, ông cháu”.
GS, TS Đỗ Long Vân luôn tự hào vì sinh thời Bác Hồ luôn dành cho gia đình ông những tình cảm yêu quý và sự quan tâm đặc biệt. Trong một lần khi nhắc đến gia đình Đỗ Đình Thiện, Bác nói” Gia đình ấy với mình chỉ là một”.
Trong suốt chặng đường tham gia cách mạng, ông Đỗ Đình Thiện và gia đình đã có những đóng góp lớn về mặt tài chính cho đất nước như cung cấp tiền, vàng, lương thực, vải vóc, trong đó có những sự kiện mà lịch sử Tài Chính Cách mạng Việt Nam không thể không nhắc tới: Ông Đỗ Đình Thiện đã bỏ tiền mua nhà in Tô-panh của Pháp hiến cho Chính phủ để in tiền, mua bức tranh vẽ chân dung Bác Hồ với giá một triệu đồng Đông Dương trong cuộc bán đấu giá lấy tiền để gây quỹ cho Chính phủ…
Hơn 60 năm đã trôi qua, ngày 27/8/2007 địa điểm Nhà máy in tiền tại đồn điền Chi Nê của ông bà Đỗ Đình Thiện đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đó chính là sự ghi nhận và tôn vinh những đóng góp của ông bà Đỗ Đình Thiện trong lịch sử nền Tài chính cách mạng Việt Nam. Tinh thần yêu nước nồng nàn, đức hi sinh cao cả vì lợi ích Quốc gia, ý chí xả thân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cuộc đời bình dị của ông Đỗ Đình Thiện là nguồn động viên cho các thế hệ cán bộ ngành Tài chính và cuộc sống hiện nay.
Tiếp đó đoàn làm phim cũng đã thăm quan nghe thuyết minh và ghi hình các tư liệu, hiện vật trưng bày tại di tích phục vụ công tác làm phim tài liệu.
Đoàn làm phim sẽ có một buổi ghi hình tổng thể toàn cảnh đồn điền vào dịp gần nhất để tiếp tục các cảnh quay trong phim tài liệu.
Một số hình ảnh ghi lại buổi làm việc với đoàn làm phim:

Address

Xã Phú Nghĩa, Huyện Lạc Thủy
Hòa Bình
123

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Tiên - Mẫu Đầm Đa Hoà Bình posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Chùa Tiên - Mẫu Đầm Đa Hoà Bình:

Share