08/04/2023
ĐỖ ĐÌNH THIỆN- CHỦ NHÂN ĐỒN ĐIỀN CHI NÊ (1946-1947).
Ông Đỗ Đình Thiện sinh năm 1904 (Giáp Thìn) tại Hà Nội. Thân sinh cụ là Đỗ Viết Bình, quê ở làng Noi, nay thuộc Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. Mẹ ông là cụ Trần Thị Lan quê ở Làng Kẻ, nay thuộc Hà Tây.
Ông Đỗ Đình Thiện là con út trong gia đình có bốn anh chị em. Bố chẳng may qua đời khi mới 30 tuổi do lâm bệnh nặng, mẹ ông phải vất vả tần tảo chịu thương chịu khó làm ăn buôn bán các nghề như: buôn tơ lụa, ướp chè sen, chè rượu ổi…để nuôi các con khôn lớn được học hành. Những năm trước kháng chiến chống Pháp, cụ có tiệm buôn bán tơ lụa khá lớn ở 72-74 Hàng G*i, Hà Nội. Cụ Lan đã từng ủng hộ tièn cho phong trào Đông Kinh Nghĩa thục cho báo “Le Travail”… Cụ đã để lại nhiều ân nghĩa và tiếng thơm ở cả hai quê, hai họ, bà con quen gọi cụ một cách trân trọng bằng cái ten “ Cụ Ký Hàng G*i”.
Thân mẫu ông Thiện muốn con trai út của mình học chữ Nho để sau này giúp cụ đọc các giấy tờ, văn tự. Vâng lời mẹ ông Thiện theo học 4 năm chữ Nho với một ông thầy đồ dạy học theo kiểu cổ, rất khắc nghiệt, dạy thì ít mà phạt đánh học trò thì nhiều. Cuối cùng ông đã thôi học chữ Nho, chuyển sang học chữ Quốc ngữ ở trường Hàng Vôi, Hà Nội.
Sớm có lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc, ông tham gia phong trào cả nước để tang cụ Phan Châu Trinh nên bị đuổi học, phải làm lại giấy tờ về Nam Định để học tiếp.
Năm 1927, ông sang Pháp theo học trường Kỹ sư Canh Nông ở Toulouse và gia nhập Đảng cộng sản Pháp, trở thành một trong những người đi đầu trong việc tuyên truyền, vận động, giác ngộ binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp không tham gia đàn áp thuộc địa và tích cực ủng hộ phong trào cách mạng trong nước.
Năm 1931, trong khi bí mật chuyển truyền đơn cho binh lính người Việt chuẩn bị hồi hương, ông bị cảnh sát Pháp bắt giam và trục xuất về nước.
Trở về Tổ Quốc, mặc dù bị quản thúc rất chặt, song bằng ý chí và nghị lực, ông Đỗ Đình Thiện đã cùng vợ là bà Trịnh Thị Điền, Đảng viên Tân Việt cách mạng Đảng (sau hợp nhất thành Đảng Cộng sản Đông Dương), làm kinh tế để đóng góp cho cách mạng. Ngôi nhà 54 phố Hàng G*i, Hà Nội của gia đình ông đã trở thành cơ sở của các đồng chí lãnh đạo cách mạng thời kỳ bí mật và những năm đầu của chính quyền nhân dân.
Trong giai đoạn này ông bà Đỗ Đình Thiện còn được giao đảm nhiệm nhiều trọng trách, trong đó việc được cử “ làm phụ trách tại Quỹ Trung ương” theo Quốc Lệnh số 4 ngày 4/9/1945 của Chính phủ lâm thời về việc lập quỹ Độc- lập.
Tháng 5/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tin cậy chọn ông Đỗ Đình Thiện làm thư ký riêng và được giao trực tiếp ghi nhật ký trong chuyến thăm Cộng hòa Pháp của Người. Đây là chuyến đi lịch sử liên quan đến vận mệnh của dân tộc, chuyến đi mở đầu của nền ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Năm 1946 kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông bà Đỗ Đình Thiện tình nguyện ở lại chiến đấu để bảo vệ Thủ đô, tham gia nhiều công tác trọng yếu, góp sức mình vào sự nghiệp chung. Đồn điền của ông bà ở Chi Nê, Hòa Bình trở thành một trong những điểm sơ tán của các cơ quan Chính phủ, nơi cấp lương thực cho một số đơn vị bộ đội chủ lực. Đặc biệt đây là nơi đặt nhà máy in tiền của Chính phủ kháng chiến trong thời kỳ 1946-1947, nay được xếp hạng là di tích LSCM cấp quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm, làm việc và nghỉ lại ở đây trong các chuyến đi công tác. Trong lưu trữ và hồi ký để lại còn cho biết Bác Hồ đã nhiều lần nhắc đến địa danh Chi Nê này.
Chỉ ít ngày sau trận oanh tạc của máy bay Pháp vào đồn điền Chi Nê, ông Đỗ Đình Thiện đã đưa cả gia đình lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến. Hành trình tản cư lên Việt Bắc của gia đình ông trải qua nhiều chặng:Nho Quan, Vụ Bản, Phú Thọ, Tuyên Quang, Bình Ca, Chiêm Hóa… Ở mỗi chặng dừng chân đều bị máy bay Pháp oanh tạc hoặc có nguy cơ giặc tấn công lên nên lại phải vội vã di chuyển.
Trong thời gian ở Chiến khu Việt Bắc, ông Thiện đảm nhận các công tác như: Giám đốc trưởng nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Trưởng phòng Quỹ Ngân hàng Quốc gia Việt Nam…
Suốt thời gian được ông Nguyễn Lương Bằng mời làm Giám đốc Trưởng Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo (1948-1950), với bí danh Hai Chi (Bí danh này do anh em trong cơ quan đặt cho ông Thiện “Hai” là người danh thứ hai sau anh cả Nguyễn Lương Bằng, còn “Chi” nghĩa là Chi Nê). Ông Thiện tình nguyện không nhận lương, ông nói: Như thế cho “dễ điều hành” công việc.
Gần đây, theo một tài liệu sưu tầm được tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (C.A.O.M) của Cộng hòa Pháp, ông Đỗ Đình Thiện đã từng là thành viên của Tổng bộ Việt Minh và được giao cương vị Tổng Thủ quỹ Tài chính Xứ Bộ Bắc Kỳ.
Bà Thiện được giao giữ tài liệu và kho tiền của Đảng, sau làm Thủ quỹ của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.
Về Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sách “Tìm hiểu lịch sử một xí nghiệp” của Thanh Đạm viết:
“ Ông Hai Chi là một nhân sỹ trí thức yêu nước đã từng học ở Pháp, hăng hái ủng hộ cách mạng từ lâu. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông đi theo cơ quan Đảng và Chính phủ lên Việt Bắc…Để khai thác hết khả năng của cán bộ có trình độ quản lý và kỹ thuật, anh Cả thành lập hẳn một Ban giám đốc gồm có:
- Ông Hai Chi, Giám đốc trưởng
- Tống Minh Phương, Giám đốc tiếp tế
- Nguyễn Nhân, Giám đốc chuyên môn
- “ Anh Cả thường nói: Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo của chúng ta có một đặc điểm quan trọng là: thời kỳ đầu, quyền chỉ huy sản xuất được trao cho các chuyên gia ngoài Đảng, vì lúc đó các đồng chí Đảng viên chưa ai am hiểu kỹ thuật sản xuất. Chúng ta tin tưởng tinh thần yêu nước của các cán bộ kỹ thuật ngoài Đảng nên phải hết lòng bồi dưỡng để anh em vững bước đi theo đường lối của Đảng”.
- Tại chiến khu Việt Bắc, gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện được Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo thường xuyên qua lại, thăm hỏi.
- Đại hội II của Đảng , tiếp theo đó là Đại hội thống nhất Việt Minh- Liên Việt, được tiến hành năm 1951 tại chiến khu Việt Bắc. Nhà ông bà Đỗ Đình Thiện ở gần ngay nơi tổ chức Đại hội, cách không đầy 1km, thuộc thôn Phúc Linh, xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Những ngày này, không khí sôi nổi, nhộn nhịp từ Đại hội”tràn sang” nèn nhà thường rất đông khách, trong đó nhiều vị là chỗ quen biết với ông bà Thiện từ lâu, và cũng nhiều vị mới là các đại biẻu từ Miền Nam ra.Trong những ngày Đại hội, gia đình ông bà Thiện nhièu lần được gặp Bác Hồ. Có lần Bác sang thăm gia đình, có lần Bác cho người sang đón bọn trẻ con sang chỗ Đại hội xem phim, chụp ảnh với Bác, có tối Bác nghỉ lại rồi để sơm hôm sau đi công tác… Tại nhà riêng của ông bà Đỗ Đình Thiện ở Việt Bắc thời gian Đại hội Đảng II (2/1951) có các vị như: Nguyễn Lương Bằng, Phạm Ngọc Thạch, Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm, Bùi Lâm, Hà Huy Giáp, Phan Trọng Tuệ, Vũ Đình Huỳnh, Vũ Xuân Sắc, Lê Văn Hiền…
- Năm 1952, ông bà Đỗ Đình Thiện chuyển sang nhận công tác ở Ngân hàng Trung ương. Cơ quan mới chuyển đến Cầu Bì thuộc ATK (An toàn khu, Thái Nguyên). Bác Hồ đã có lần ghé thăm và dặn: Nếu gia đình chưa có nhà thì vào nhà Bác ở.
- Khi chiến dịch Điện Biên Phủ ở giai đoạn cuối, càn huy động rất nhiều nhân lực, vật lực. Bà Thiện, lúc đấy tạm nghỉ việc ở Tuyên Quang để chuyển công tác khác, đã xung phong đi dân công làm đường hàng tháng trời để phục vụ chiến dịch. Con gái cả của ông Thiện, chị Đỗ Thanh Liên, lúc đó đang là học sinh lớp 8 trường Tân Trào, Tuyên Quang, đã xung phong đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong số 28 học sinh của trường đi đợt đó, chỉ có mình Đỗ Thanh Liên là nữ. Tiễn con gái lớn lên đường, ông Thiện nói với con: “ Bố mẹ rất tiếc không có con trai lớn để tham gia đánh giặc, bố mạ rất hãnh diện về việc làm này của con”. Gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện có 4 người con, con gái đầu tiên là Đỗ Thanh Liên, con gái thứ hai tên là Đỗ Kim Anh, Con gái thứ ba tên là Đỗ Thiên Hương và con trai út tên là Đỗ Long Vân.
- Kháng chiến thắng lợi, gia đình trở về Thủ đô, sống tại nhà riêng ở 76 Nguyễn Du, Hà Nội. Từ năm 1956 đến 1972 ông Đỗ ĐÌnh Thiện liên tục được bầu là Ủy viên Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông tích cực hoạt động và hoàn thành có trách nhiệm mọi công việc được giao.
- Sau kháng chiến tài sản của gia đình hầu như không còn gì. Nhưng trước sau như một, ông bà Thiện vẫn rất quý khách, quan tâm đến bạn bè, và luon sẵn lòng giúp đỡ mọi người khi cần. Một thời ông Nguyễn Lương Bằng bị chẩn đoán “ung thư vòm họng”, phải đi Trung Quốc khám và điều trị. Bà Hà Thục Trinh – vợ ông rất bối rối : không biết có nên đi theo chăm sóc chồng hay ở nhà với bốn còn đều còn nhỏ! Biết chuyện, ông bà Thiện đã bàn với bà Trinh :” Chị cứ yên tâm đi theo chăm sóc Anh cho chu đáo. Nếu anh phải điều trị lâu dài ở bên đó thì các cháu ở nhà đã có chúng tôi lo”. Khi vợ chồng ông Nguyễn Lương Bằng lên đường sang Trung Quốc chữa bệnh, đã gửi người con gái lớn nhờ ông bà Thiện Chăm sóc. Rất may sau khi kiểm tra kỹ, ông Bằng không bị ung thư và đã trở về yên lành.
- Mặc dù hoàn cảnh kinh tế của gia đình lúc này không lấy gì làm sung túc, thậm chí khó khăn, ông bà Đỗ Đình Thiện vẫn rất quan tâm đến việc giáo dục các con, và đã hết sức cố gắng để cả bốn người con đều được học đại học.
- Sinh thời ông bà Đỗ Đình Thiện sống giản dị. Ông không có lương hưu và không hưởng bìa N (là tiêu chuẩn phân phối thấp nhất thời bao cấp dành cho dân thường). Khi ông Thiện lâm bệnh nặng vào điều trị tại Bênh Viện Việt- Xô, Bác sỹ Bùi Kỳ về kể với gia đình: “ Trong bệnh viện có một trường hợp rất lạ: một ông già chẳng có chức vụ gì, thậm chí không có lương, nhưng các đồng chí cán bộ cao cấp cứ thay nhau vào thăm”.
- Ông Trần Văn Giàu kể: Trong một lần từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội, ông đã tới thăm Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Lúc chia tay, ông Giàu nói: Bây giờ tôi tới thăm ông bạn triệu phú của tôi đây. Ông Đồng liền hỏi: Anh đến anh Thiện à? Ngừng một lúc, ông Đồng nói tiếp: Anh Đỗ Đình Thiện là một người rất đặc biệt. Bác Hồ và tôi làm việc cho cách mạng còn phải có lương, nhưng anh Thiện thì không chịu nhận lương!
- Ông Đỗ Đình Thiện mất ngày 2/1/1972 tại Bệnh viện Việt- Xô, hưởng thọ 69 tuổi. Đó đúng vào dịp máy bay Mỹ tạm ngừng đánh phá Miền Bắc và Hà Nội. Ông Đỗ Đình Thiện lặng lẽ ra đi, không có điếu văn (thời đó chưa có điếu văn trong lễ tang đối với nhân dân và cán bộ bình thường), nhưng để lại niềm tiếc thương vô hạn và kỷ niệm đẹp trong lòng người thân, họ hàng, bạn bè, đồng chí từ thành phố đến thôn quê.
- Trong thời gian bệnh nặng, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và nhiều cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước đã vào bệnh viện thăm ông. Khi ông qua đời, Tổng bí thư Lê Duẩn, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh cùng phu nhân đã đến viếng và chia buồn cùng gia đình. Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương bằng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hoàng Quốc Việt, Phó thủ tướng Phan Kế Toại, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Trần Duy Hưng, Bí thư thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân, và nhièu vị cao cấp cùng các bạn học, các đồng chí cùng hoạt động đã ngậm ngùi đưa tiễn ông về cõi vĩnh hằng.
- Hơn 20 năm sau, ngày 21/6/1996 bà Thiện qua đời, hưởng thọ 85 tuổi. Lễ tang Bà được tổ chức tại số 5 Trần Thánh Tông. Tổng bí thư Đỗ Mười, cố vấn Phạm Văn Đồng đã gửi vòng hoa viếng. Đại diện gia đình các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Tạo, Bùi Lâm, Bùi Công Trừng, Trần Duy Hưng… đã đến viếng và Đỗ Đình Thiện.
Những cống hiến hi sinh của gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện đã phần nào được đền đáp bằng những phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng như:
- Năm 1950 ông bà Đỗ Đình Thiện được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì vì “ Đã hăng hái tham gia kháng chiến, xung phong hiến điền và hy sinh tài sản cho Chính phủ”. Ông Nguyễn Lương Bằng cho biết ông bà Đỗ Đình Thiện là một trong hai trường hợp mà cả hai vợ chồng cùng được thưởng huân chương vào thời điểm đó.
- Năm 1991, bà Đỗ Đình Thiện được Nhà nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng Nhất.
- Ông bà Đỗ Đình Thiện cũng được nhiều phần thưởng khác như Huy chương “ Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân” , Huy chương “ Vì sự nghiệp tài chính Đảng”, Huy chương “ Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ”….
- Sinh thời Bác Hồ luôn dành cho gia đình ông Đỗ Đình Thiện tình cảm yêu quý và sự quan tâm đặc biệt. Ông Nguyễn Lương Bằng kể rằng “ trong một lần khi nhắc đến gia đình Đỗ Đình Thiện, bác nói” Gia đình ấy với mình chỉ là một”. Đó là một vinh dự lớn lao, một phần thưởng vô giá đối với gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện.
- Hơn 60 năm đã trôi qua, ngày 27/8/2007 địa điểm Nhà máy in tiền tại đồn điền Chi Nê của ông bà Đỗ Đình Thiện trong những năm 1946-1947 đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đó chính là sự ghi nhận và tôn vinh những đóng góp của ông bà Đỗ Đình Thiện trong lịch sử nền Tài chính cách mạng Việt Nam. Tinh thần yêu nước nồng nàn, đức hi sinh cao cả vì lợi ích quốc gia, ý chí xả thân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cuộc đời bình dị của ông Đỗ Đình Thiện là nguồn động viên cho các thế hệ cán bộ ngành Tài chính và cuộc sống hiện nay.
Trong suốt chặng đường tham gia cách mạng, ông Đỗ Đình Thiện và gia đình đã có những đóng góp lớn về mặt tài chính cho đất nước như cung cấp tiền, vàng, lương thực, vải vóc, trong đó có những sự kiện mà lịch sử Tài Chính Cách mạng Việt Nam không thể không nhắc tới: Ông Đỗ Đình Thiện đã bỏ tiền mua nhà in Tô-panh của Pháp hiến cho Chính phủ để in tiền, mua bức tranh vẽ chân dung Bác Hồ với giá một triệu đồng Đông Dương trong cuộc bán đấu giá lấy tiền để gây quỹ cho Chính phủ… Những đóng góp của ông bà được nêu trong nhiều tài liệu như Nhật ký của cố Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê văn Hiến, “ Biên niên sử hoạt động tài chính Đảng Cộng sản Việt Nam” của Ban Tài chính Quản trị Trung ương…
Theo ông Dương Trung Quốc- Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam:
Địa điểm cách đây 6 thập kỷ là một đồn điền của gia đình ông Đỗ Đình Thiện, là không gian của Nhà máy in tiền đầu tiên của nền Tài chính cách mạng Việt Nam. Đồn điền Chi Nê cũng là biểu hiện sống động cho những đóng góp quý báu của gia đình chủ nhân, ông bà Đỗ Đình Thiện, một tri thức cũng là một nhân vật sớm giác ngộ cách mạng đối với sự nghiệp giải phóng của dân tộc.
Đồn điền Chi Nê- một giá trị lịch sử phi vật thể. Đó là bằng chứng về một sáng tạo trong đường lối cách mạng Việt Nam, một nguyên nhân làm cho cách mạng Việt nam thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống mọi thế lực thực dân… cho đến cuộc đổi mới ngày hôm nay. Sáng tạo đó là nhận thức về sức mạnh quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng Việt Nam chính là khối đại đoàn kết toàn dân chứ không phải “ đấu tranh giai cấp”.
Đấu tranh giai cấp, nhân tố từng được coi là động lực phát triển của xã hội không hoàn toàn thích hợp ở Việt Nam khi các tầng lớp trên vấn gắn liền lợi ích của mình với dân tộc, đặc biệt trong sự nghiệp giữ nước. Phải có một sức sáng tạo, một niềm tin vào chân lý cũng như một tính thần dũng cảm thì Nguyễn Ái Quốc mới có thể đưa ra nguyên lý khác thường với quan niệm của những đồng chí cộng sản đương thời khi viết rằng : “ Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn” và hệ quả của quan niệm này là đường lối xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc gắn với những lý tưởng cao cả của chủ nghĩa xã hội.
Tấm gương của ông bà Đỗ Đình Thiện là một bằng chứng điển hình cho tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh. Và tấm gương của gia đình này không phải là duy nhất. Bởi lẽ ở Việt Nam, vỏ bọc chở che, ủng hộ cách mạng do Đảng lãnh đạo không chỉ là lực lượng những người lao động nghèo khổ mà còn ở ngay trong tấm lòng của những người hữu sản, tầng lớp trên mà theo những quan niệm đương thời họ chính là những đối tượng của cuộc đấu tranh giai cấp. Đó là nét khác biệt, độc đáo và thần diệu của cách mạng Việt Nam, của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ở thời đại nào ở quốc gia nào cũng vậy, mỗi con người đều là một giọt nước trong dòng chảy lớn của lịch sử dân tộc mình.
Đỗ Đình Thiện cùng là một giọt nước như thế trong dòng chảy lịch sử Việt Nam và là một giọt nước lóng lánh khi dòng chảy này đi qua những đoạn thác ghềnh hiểm trở, sôi động, quanh co nhưng vô cùng ngoạn mục của cách mạng và kháng chiến.
Những bức ảnh chụp chân dung ông bà hiện còn được trưng bày tại Khu di tích LSCM địa điểm Nhà máy in tiền đồn điền Chi Nê (1946-1947).