Chùa Tiên - Mẫu Đầm Đa - Lạc Thủy Hòa Bình

Chùa Tiên - Mẫu Đầm Đa - Lạc Thủy Hòa Bình Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Chùa Tiên - Mẫu Đầm Đa - Lạc Thủy Hòa Bình, Nature Preserve, Đầm Đa/Lạc Thủy/Hòa Bình, Hòa Bình.

Chùa Tiên, Mẫu Đầm Đa thuộc xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy. Đây là 1 quần thể du lịch tâm linh gồm Chùa Tiên, động Tiên, đền thờ Mẫu âu cơ (mẫu Đầm Đa) và nhiều hang động lớn nhỏ khác.

ĐỖ ĐÌNH THIỆN- CHỦ NHÂN ĐỒN ĐIỀN CHI NÊ (1946-1947).        Ông Đỗ Đình Thiện sinh năm 1904 (Giáp Thìn) tại Hà Nội. Thân...
08/04/2023

ĐỖ ĐÌNH THIỆN- CHỦ NHÂN ĐỒN ĐIỀN CHI NÊ (1946-1947).
Ông Đỗ Đình Thiện sinh năm 1904 (Giáp Thìn) tại Hà Nội. Thân sinh cụ là Đỗ Viết Bình, quê ở làng Noi, nay thuộc Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. Mẹ ông là cụ Trần Thị Lan quê ở Làng Kẻ, nay thuộc Hà Tây.
Ông Đỗ Đình Thiện là con út trong gia đình có bốn anh chị em. Bố chẳng may qua đời khi mới 30 tuổi do lâm bệnh nặng, mẹ ông phải vất vả tần tảo chịu thương chịu khó làm ăn buôn bán các nghề như: buôn tơ lụa, ướp chè sen, chè rượu ổi…để nuôi các con khôn lớn được học hành. Những năm trước kháng chiến chống Pháp, cụ có tiệm buôn bán tơ lụa khá lớn ở 72-74 Hàng G*i, Hà Nội. Cụ Lan đã từng ủng hộ tièn cho phong trào Đông Kinh Nghĩa thục cho báo “Le Travail”… Cụ đã để lại nhiều ân nghĩa và tiếng thơm ở cả hai quê, hai họ, bà con quen gọi cụ một cách trân trọng bằng cái ten “ Cụ Ký Hàng G*i”.
Thân mẫu ông Thiện muốn con trai út của mình học chữ Nho để sau này giúp cụ đọc các giấy tờ, văn tự. Vâng lời mẹ ông Thiện theo học 4 năm chữ Nho với một ông thầy đồ dạy học theo kiểu cổ, rất khắc nghiệt, dạy thì ít mà phạt đánh học trò thì nhiều. Cuối cùng ông đã thôi học chữ Nho, chuyển sang học chữ Quốc ngữ ở trường Hàng Vôi, Hà Nội.
Sớm có lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc, ông tham gia phong trào cả nước để tang cụ Phan Châu Trinh nên bị đuổi học, phải làm lại giấy tờ về Nam Định để học tiếp.
Năm 1927, ông sang Pháp theo học trường Kỹ sư Canh Nông ở Toulouse và gia nhập Đảng cộng sản Pháp, trở thành một trong những người đi đầu trong việc tuyên truyền, vận động, giác ngộ binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp không tham gia đàn áp thuộc địa và tích cực ủng hộ phong trào cách mạng trong nước.
Năm 1931, trong khi bí mật chuyển truyền đơn cho binh lính người Việt chuẩn bị hồi hương, ông bị cảnh sát Pháp bắt giam và trục xuất về nước.
Trở về Tổ Quốc, mặc dù bị quản thúc rất chặt, song bằng ý chí và nghị lực, ông Đỗ Đình Thiện đã cùng vợ là bà Trịnh Thị Điền, Đảng viên Tân Việt cách mạng Đảng (sau hợp nhất thành Đảng Cộng sản Đông Dương), làm kinh tế để đóng góp cho cách mạng. Ngôi nhà 54 phố Hàng G*i, Hà Nội của gia đình ông đã trở thành cơ sở của các đồng chí lãnh đạo cách mạng thời kỳ bí mật và những năm đầu của chính quyền nhân dân.
Trong giai đoạn này ông bà Đỗ Đình Thiện còn được giao đảm nhiệm nhiều trọng trách, trong đó việc được cử “ làm phụ trách tại Quỹ Trung ương” theo Quốc Lệnh số 4 ngày 4/9/1945 của Chính phủ lâm thời về việc lập quỹ Độc- lập.
Tháng 5/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tin cậy chọn ông Đỗ Đình Thiện làm thư ký riêng và được giao trực tiếp ghi nhật ký trong chuyến thăm Cộng hòa Pháp của Người. Đây là chuyến đi lịch sử liên quan đến vận mệnh của dân tộc, chuyến đi mở đầu của nền ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Năm 1946 kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông bà Đỗ Đình Thiện tình nguyện ở lại chiến đấu để bảo vệ Thủ đô, tham gia nhiều công tác trọng yếu, góp sức mình vào sự nghiệp chung. Đồn điền của ông bà ở Chi Nê, Hòa Bình trở thành một trong những điểm sơ tán của các cơ quan Chính phủ, nơi cấp lương thực cho một số đơn vị bộ đội chủ lực. Đặc biệt đây là nơi đặt nhà máy in tiền của Chính phủ kháng chiến trong thời kỳ 1946-1947, nay được xếp hạng là di tích LSCM cấp quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm, làm việc và nghỉ lại ở đây trong các chuyến đi công tác. Trong lưu trữ và hồi ký để lại còn cho biết Bác Hồ đã nhiều lần nhắc đến địa danh Chi Nê này.
Chỉ ít ngày sau trận oanh tạc của máy bay Pháp vào đồn điền Chi Nê, ông Đỗ Đình Thiện đã đưa cả gia đình lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến. Hành trình tản cư lên Việt Bắc của gia đình ông trải qua nhiều chặng:Nho Quan, Vụ Bản, Phú Thọ, Tuyên Quang, Bình Ca, Chiêm Hóa… Ở mỗi chặng dừng chân đều bị máy bay Pháp oanh tạc hoặc có nguy cơ giặc tấn công lên nên lại phải vội vã di chuyển.
Trong thời gian ở Chiến khu Việt Bắc, ông Thiện đảm nhận các công tác như: Giám đốc trưởng nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Trưởng phòng Quỹ Ngân hàng Quốc gia Việt Nam…
Suốt thời gian được ông Nguyễn Lương Bằng mời làm Giám đốc Trưởng Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo (1948-1950), với bí danh Hai Chi (Bí danh này do anh em trong cơ quan đặt cho ông Thiện “Hai” là người danh thứ hai sau anh cả Nguyễn Lương Bằng, còn “Chi” nghĩa là Chi Nê). Ông Thiện tình nguyện không nhận lương, ông nói: Như thế cho “dễ điều hành” công việc.
Gần đây, theo một tài liệu sưu tầm được tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (C.A.O.M) của Cộng hòa Pháp, ông Đỗ Đình Thiện đã từng là thành viên của Tổng bộ Việt Minh và được giao cương vị Tổng Thủ quỹ Tài chính Xứ Bộ Bắc Kỳ.
Bà Thiện được giao giữ tài liệu và kho tiền của Đảng, sau làm Thủ quỹ của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.
Về Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sách “Tìm hiểu lịch sử một xí nghiệp” của Thanh Đạm viết:
“ Ông Hai Chi là một nhân sỹ trí thức yêu nước đã từng học ở Pháp, hăng hái ủng hộ cách mạng từ lâu. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông đi theo cơ quan Đảng và Chính phủ lên Việt Bắc…Để khai thác hết khả năng của cán bộ có trình độ quản lý và kỹ thuật, anh Cả thành lập hẳn một Ban giám đốc gồm có:
- Ông Hai Chi, Giám đốc trưởng
- Tống Minh Phương, Giám đốc tiếp tế
- Nguyễn Nhân, Giám đốc chuyên môn
- “ Anh Cả thường nói: Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo của chúng ta có một đặc điểm quan trọng là: thời kỳ đầu, quyền chỉ huy sản xuất được trao cho các chuyên gia ngoài Đảng, vì lúc đó các đồng chí Đảng viên chưa ai am hiểu kỹ thuật sản xuất. Chúng ta tin tưởng tinh thần yêu nước của các cán bộ kỹ thuật ngoài Đảng nên phải hết lòng bồi dưỡng để anh em vững bước đi theo đường lối của Đảng”.
- Tại chiến khu Việt Bắc, gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện được Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo thường xuyên qua lại, thăm hỏi.
- Đại hội II của Đảng , tiếp theo đó là Đại hội thống nhất Việt Minh- Liên Việt, được tiến hành năm 1951 tại chiến khu Việt Bắc. Nhà ông bà Đỗ Đình Thiện ở gần ngay nơi tổ chức Đại hội, cách không đầy 1km, thuộc thôn Phúc Linh, xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Những ngày này, không khí sôi nổi, nhộn nhịp từ Đại hội”tràn sang” nèn nhà thường rất đông khách, trong đó nhiều vị là chỗ quen biết với ông bà Thiện từ lâu, và cũng nhiều vị mới là các đại biẻu từ Miền Nam ra.Trong những ngày Đại hội, gia đình ông bà Thiện nhièu lần được gặp Bác Hồ. Có lần Bác sang thăm gia đình, có lần Bác cho người sang đón bọn trẻ con sang chỗ Đại hội xem phim, chụp ảnh với Bác, có tối Bác nghỉ lại rồi để sơm hôm sau đi công tác… Tại nhà riêng của ông bà Đỗ Đình Thiện ở Việt Bắc thời gian Đại hội Đảng II (2/1951) có các vị như: Nguyễn Lương Bằng, Phạm Ngọc Thạch, Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm, Bùi Lâm, Hà Huy Giáp, Phan Trọng Tuệ, Vũ Đình Huỳnh, Vũ Xuân Sắc, Lê Văn Hiền…
- Năm 1952, ông bà Đỗ Đình Thiện chuyển sang nhận công tác ở Ngân hàng Trung ương. Cơ quan mới chuyển đến Cầu Bì thuộc ATK (An toàn khu, Thái Nguyên). Bác Hồ đã có lần ghé thăm và dặn: Nếu gia đình chưa có nhà thì vào nhà Bác ở.
- Khi chiến dịch Điện Biên Phủ ở giai đoạn cuối, càn huy động rất nhiều nhân lực, vật lực. Bà Thiện, lúc đấy tạm nghỉ việc ở Tuyên Quang để chuyển công tác khác, đã xung phong đi dân công làm đường hàng tháng trời để phục vụ chiến dịch. Con gái cả của ông Thiện, chị Đỗ Thanh Liên, lúc đó đang là học sinh lớp 8 trường Tân Trào, Tuyên Quang, đã xung phong đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong số 28 học sinh của trường đi đợt đó, chỉ có mình Đỗ Thanh Liên là nữ. Tiễn con gái lớn lên đường, ông Thiện nói với con: “ Bố mẹ rất tiếc không có con trai lớn để tham gia đánh giặc, bố mạ rất hãnh diện về việc làm này của con”. Gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện có 4 người con, con gái đầu tiên là Đỗ Thanh Liên, con gái thứ hai tên là Đỗ Kim Anh, Con gái thứ ba tên là Đỗ Thiên Hương và con trai út tên là Đỗ Long Vân.
- Kháng chiến thắng lợi, gia đình trở về Thủ đô, sống tại nhà riêng ở 76 Nguyễn Du, Hà Nội. Từ năm 1956 đến 1972 ông Đỗ ĐÌnh Thiện liên tục được bầu là Ủy viên Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông tích cực hoạt động và hoàn thành có trách nhiệm mọi công việc được giao.
- Sau kháng chiến tài sản của gia đình hầu như không còn gì. Nhưng trước sau như một, ông bà Thiện vẫn rất quý khách, quan tâm đến bạn bè, và luon sẵn lòng giúp đỡ mọi người khi cần. Một thời ông Nguyễn Lương Bằng bị chẩn đoán “ung thư vòm họng”, phải đi Trung Quốc khám và điều trị. Bà Hà Thục Trinh – vợ ông rất bối rối : không biết có nên đi theo chăm sóc chồng hay ở nhà với bốn còn đều còn nhỏ! Biết chuyện, ông bà Thiện đã bàn với bà Trinh :” Chị cứ yên tâm đi theo chăm sóc Anh cho chu đáo. Nếu anh phải điều trị lâu dài ở bên đó thì các cháu ở nhà đã có chúng tôi lo”. Khi vợ chồng ông Nguyễn Lương Bằng lên đường sang Trung Quốc chữa bệnh, đã gửi người con gái lớn nhờ ông bà Thiện Chăm sóc. Rất may sau khi kiểm tra kỹ, ông Bằng không bị ung thư và đã trở về yên lành.
- Mặc dù hoàn cảnh kinh tế của gia đình lúc này không lấy gì làm sung túc, thậm chí khó khăn, ông bà Đỗ Đình Thiện vẫn rất quan tâm đến việc giáo dục các con, và đã hết sức cố gắng để cả bốn người con đều được học đại học.
- Sinh thời ông bà Đỗ Đình Thiện sống giản dị. Ông không có lương hưu và không hưởng bìa N (là tiêu chuẩn phân phối thấp nhất thời bao cấp dành cho dân thường). Khi ông Thiện lâm bệnh nặng vào điều trị tại Bênh Viện Việt- Xô, Bác sỹ Bùi Kỳ về kể với gia đình: “ Trong bệnh viện có một trường hợp rất lạ: một ông già chẳng có chức vụ gì, thậm chí không có lương, nhưng các đồng chí cán bộ cao cấp cứ thay nhau vào thăm”.
- Ông Trần Văn Giàu kể: Trong một lần từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội, ông đã tới thăm Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Lúc chia tay, ông Giàu nói: Bây giờ tôi tới thăm ông bạn triệu phú của tôi đây. Ông Đồng liền hỏi: Anh đến anh Thiện à? Ngừng một lúc, ông Đồng nói tiếp: Anh Đỗ Đình Thiện là một người rất đặc biệt. Bác Hồ và tôi làm việc cho cách mạng còn phải có lương, nhưng anh Thiện thì không chịu nhận lương!
- Ông Đỗ Đình Thiện mất ngày 2/1/1972 tại Bệnh viện Việt- Xô, hưởng thọ 69 tuổi. Đó đúng vào dịp máy bay Mỹ tạm ngừng đánh phá Miền Bắc và Hà Nội. Ông Đỗ Đình Thiện lặng lẽ ra đi, không có điếu văn (thời đó chưa có điếu văn trong lễ tang đối với nhân dân và cán bộ bình thường), nhưng để lại niềm tiếc thương vô hạn và kỷ niệm đẹp trong lòng người thân, họ hàng, bạn bè, đồng chí từ thành phố đến thôn quê.
- Trong thời gian bệnh nặng, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và nhiều cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước đã vào bệnh viện thăm ông. Khi ông qua đời, Tổng bí thư Lê Duẩn, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh cùng phu nhân đã đến viếng và chia buồn cùng gia đình. Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương bằng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hoàng Quốc Việt, Phó thủ tướng Phan Kế Toại, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Trần Duy Hưng, Bí thư thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân, và nhièu vị cao cấp cùng các bạn học, các đồng chí cùng hoạt động đã ngậm ngùi đưa tiễn ông về cõi vĩnh hằng.
- Hơn 20 năm sau, ngày 21/6/1996 bà Thiện qua đời, hưởng thọ 85 tuổi. Lễ tang Bà được tổ chức tại số 5 Trần Thánh Tông. Tổng bí thư Đỗ Mười, cố vấn Phạm Văn Đồng đã gửi vòng hoa viếng. Đại diện gia đình các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Tạo, Bùi Lâm, Bùi Công Trừng, Trần Duy Hưng… đã đến viếng và Đỗ Đình Thiện.
Những cống hiến hi sinh của gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện đã phần nào được đền đáp bằng những phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng như:
- Năm 1950 ông bà Đỗ Đình Thiện được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì vì “ Đã hăng hái tham gia kháng chiến, xung phong hiến điền và hy sinh tài sản cho Chính phủ”. Ông Nguyễn Lương Bằng cho biết ông bà Đỗ Đình Thiện là một trong hai trường hợp mà cả hai vợ chồng cùng được thưởng huân chương vào thời điểm đó.
- Năm 1991, bà Đỗ Đình Thiện được Nhà nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng Nhất.
- Ông bà Đỗ Đình Thiện cũng được nhiều phần thưởng khác như Huy chương “ Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân” , Huy chương “ Vì sự nghiệp tài chính Đảng”, Huy chương “ Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ”….
- Sinh thời Bác Hồ luôn dành cho gia đình ông Đỗ Đình Thiện tình cảm yêu quý và sự quan tâm đặc biệt. Ông Nguyễn Lương Bằng kể rằng “ trong một lần khi nhắc đến gia đình Đỗ Đình Thiện, bác nói” Gia đình ấy với mình chỉ là một”. Đó là một vinh dự lớn lao, một phần thưởng vô giá đối với gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện.
- Hơn 60 năm đã trôi qua, ngày 27/8/2007 địa điểm Nhà máy in tiền tại đồn điền Chi Nê của ông bà Đỗ Đình Thiện trong những năm 1946-1947 đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đó chính là sự ghi nhận và tôn vinh những đóng góp của ông bà Đỗ Đình Thiện trong lịch sử nền Tài chính cách mạng Việt Nam. Tinh thần yêu nước nồng nàn, đức hi sinh cao cả vì lợi ích quốc gia, ý chí xả thân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cuộc đời bình dị của ông Đỗ Đình Thiện là nguồn động viên cho các thế hệ cán bộ ngành Tài chính và cuộc sống hiện nay.
Trong suốt chặng đường tham gia cách mạng, ông Đỗ Đình Thiện và gia đình đã có những đóng góp lớn về mặt tài chính cho đất nước như cung cấp tiền, vàng, lương thực, vải vóc, trong đó có những sự kiện mà lịch sử Tài Chính Cách mạng Việt Nam không thể không nhắc tới: Ông Đỗ Đình Thiện đã bỏ tiền mua nhà in Tô-panh của Pháp hiến cho Chính phủ để in tiền, mua bức tranh vẽ chân dung Bác Hồ với giá một triệu đồng Đông Dương trong cuộc bán đấu giá lấy tiền để gây quỹ cho Chính phủ… Những đóng góp của ông bà được nêu trong nhiều tài liệu như Nhật ký của cố Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê văn Hiến, “ Biên niên sử hoạt động tài chính Đảng Cộng sản Việt Nam” của Ban Tài chính Quản trị Trung ương…
Theo ông Dương Trung Quốc- Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam:
Địa điểm cách đây 6 thập kỷ là một đồn điền của gia đình ông Đỗ Đình Thiện, là không gian của Nhà máy in tiền đầu tiên của nền Tài chính cách mạng Việt Nam. Đồn điền Chi Nê cũng là biểu hiện sống động cho những đóng góp quý báu của gia đình chủ nhân, ông bà Đỗ Đình Thiện, một tri thức cũng là một nhân vật sớm giác ngộ cách mạng đối với sự nghiệp giải phóng của dân tộc.
Đồn điền Chi Nê- một giá trị lịch sử phi vật thể. Đó là bằng chứng về một sáng tạo trong đường lối cách mạng Việt Nam, một nguyên nhân làm cho cách mạng Việt nam thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống mọi thế lực thực dân… cho đến cuộc đổi mới ngày hôm nay. Sáng tạo đó là nhận thức về sức mạnh quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng Việt Nam chính là khối đại đoàn kết toàn dân chứ không phải “ đấu tranh giai cấp”.
Đấu tranh giai cấp, nhân tố từng được coi là động lực phát triển của xã hội không hoàn toàn thích hợp ở Việt Nam khi các tầng lớp trên vấn gắn liền lợi ích của mình với dân tộc, đặc biệt trong sự nghiệp giữ nước. Phải có một sức sáng tạo, một niềm tin vào chân lý cũng như một tính thần dũng cảm thì Nguyễn Ái Quốc mới có thể đưa ra nguyên lý khác thường với quan niệm của những đồng chí cộng sản đương thời khi viết rằng : “ Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn” và hệ quả của quan niệm này là đường lối xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc gắn với những lý tưởng cao cả của chủ nghĩa xã hội.
Tấm gương của ông bà Đỗ Đình Thiện là một bằng chứng điển hình cho tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh. Và tấm gương của gia đình này không phải là duy nhất. Bởi lẽ ở Việt Nam, vỏ bọc chở che, ủng hộ cách mạng do Đảng lãnh đạo không chỉ là lực lượng những người lao động nghèo khổ mà còn ở ngay trong tấm lòng của những người hữu sản, tầng lớp trên mà theo những quan niệm đương thời họ chính là những đối tượng của cuộc đấu tranh giai cấp. Đó là nét khác biệt, độc đáo và thần diệu của cách mạng Việt Nam, của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ở thời đại nào ở quốc gia nào cũng vậy, mỗi con người đều là một giọt nước trong dòng chảy lớn của lịch sử dân tộc mình.
Đỗ Đình Thiện cùng là một giọt nước như thế trong dòng chảy lịch sử Việt Nam và là một giọt nước lóng lánh khi dòng chảy này đi qua những đoạn thác ghềnh hiểm trở, sôi động, quanh co nhưng vô cùng ngoạn mục của cách mạng và kháng chiến.
Những bức ảnh chụp chân dung ông bà hiện còn được trưng bày tại Khu di tích LSCM địa điểm Nhà máy in tiền đồn điền Chi Nê (1946-1947).

NHỮNG HỒI KÝ CỦA GS, TS TOÁN HỌC ĐỖ LONG VÂN- CON TRAI ÔNG BÀ ĐỖ ĐÌNH THIỆN- CHỦ NHÂN ĐỒN ĐIỀN CHI NÊ (1946-147).       ...
08/04/2023

NHỮNG HỒI KÝ CỦA GS, TS TOÁN HỌC ĐỖ LONG VÂN- CON TRAI ÔNG BÀ ĐỖ ĐÌNH THIỆN- CHỦ NHÂN ĐỒN ĐIỀN CHI NÊ (1946-147).
Ngày nay cứ mỗi dịp kỷ niệm những mốc lịch sử trọng đại của đất nước lại có nhiều các đoàn làm phim của các Đài truyền hình mời Giáo sư, Tiến sĩ Toán học Đỗ Long Vân và bà Nguyễn Tường Vân là con gái của đồng chí Nguyễn Lương Bằng cùng về lại địa chỉ đỏ: địa điểm Nhà máy in tiền đồn điền Chi Nê (1946-1947) xã Cố Nghĩa, Huyện Lạc Thủy, Tỉnh Hòa Bình để ghi hình làm phim phóng sự về khu di tích. Qua đó nhằm mục đích tuyên truyền trên các Báo, Đài Truyền hình, quảng bá, giới thiệu ý nghĩa và giá trị của Di tích lịch sử, sự hi sinh to lớn của ông bà Đỗ Đình Thiện cũng như sự đóng góp của nhân dân các dân tộc Tỉnh Hòa Bình cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất nước.
Ngày 18/9/2020 Ban Quản lý các khu di tích đã tổ chức chuyến đi đến nhà Giáo sư, Tiến Sĩ Toán học Đỗ Long Vân - Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam - con trai út của gia đình Ông bà Đỗ Đình Thiện hiện đang sinh sống ở số nhà 76, Nguyễn Du, Hà Nội, nghe ông kể về một thời ký ức sâu thẳm, về bậc sinh thành cha mẹ đáng kính của ông.
Trong buổi gặp mặt Giáo sư cùng những người con trong gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện, con gái đồng chí Nguyễn Lương Bằng chúng tôi được ôn lại những kỷ niệm về thời niên thiếu của ông bà Đỗ Đình Thiện, thời kỳ ông Thiện du học ở Pháp và dấn thân vào con đường cách mạng; quá trình chuyển từ hoạt động cách mạng sang làm kinh tế để ủng hộ cho nền tài chính cách mạng Việt Nam; kể về chuyến đi tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi Pháp năm 1946, kể về đồn điền Chi Nê- nơi đặt Nhà máy in tiền và cung cấp quân lương phục vụ kháng chiến.
Sau thời gian ngồi ôn lại kỷ niệm chuyện của các cụ thân sinh ra Giáo sư có nói: “thời buổi này mà nói chuyện cũ e người ta khó tin”. Rồi lại tiếp mạch tậm trạng ông quay ra nói với chúng tôi: Trong kháng chiến, ông tôi không nhận lương, hòa bình rồi, làm Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng không có lương. Cho đến lúc ốm vào nằm ở bệnh viện Việt- Xô, bệnh viện lúng túng chẳng biết xếp vào tiêu chuẩn nào. Thấy các vị Bộ Chính trị và lãnh đạo Nhà nước thường xuyên đến thăm, bác sĩ chủ nhiệm khoa hỏi nhỏ tôi: thế lương cụ ông bao nhiêu? Tôi trả lời “ ông tôi không có lương”, ông bác sĩ tỏ vẻ không tin lẳng lặng bỏ đi. Cả chuyện này nữa, nghe có vẻ khó tin: suốt cả thời bao cấp, cụ Thiện chỉ được hưởng bìa N (thứ tem phiếu dành cho dân thường mỗi tháng được mua một lạng đường và một lạng thịt).
Tiến sĩ Đỗ Long Vân, con trai út của ông Đỗ Đình Thiện cho biết ông Thiện là người giàu có, sống mực thước cương trực và luôn giữ chữ Tâm và chữ Tín. Tuy người nhỏ nhắn, nhưng phong thái ông đàng hoàng, lịch sự. Năm 1946, Hồ Chủ tịch kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, Tiến sĩ Long Vân còn nhớ rất rõ, cha ông lúc đó là Phó Chủ tịch ủy ban kháng chiến khu Hoàn Kiếm, đã nói với mẹ ông, bà Trịnh Thị Điền :” Lúc này nhiều người nhìn vào mình, mình đi tản cư thì ai ở lại kháng chiến”. bà Trịnh Thị Điền, lúc đó là Ủy viên B*H Hội phụ nữ cứu quốc Trung ương và Hà Nội.
Sau này, một kỷ niệm không quên bà tâm sự với con cháu. Đó là trước ngày 2/9, bà đã may bộ quần áo gửi về biếu bác Hồ và người đã mặc trong buổi đại lễ đọc Tuyên ngôn tại Quảng trường Ba Đình lịch sử.
Những hiểu biết về ông bà Đỗ Đình Thiện khiến chúng ta trân trọng hơn những đóng góp quan trọng, những công lao to lớn của ông bà Đỗ Đình Thiện cho cách mạng, cho cộng đồng, cho Tổ quốc. Ông bà thực sự là một tấm gương sáng chói về lòng yêu nước và đức tính hi sinh của một gia đình trí thức cách mạng đã thống nhất ý chí và hành động, giải quyết hài hòa mối quan hệ nhạy cảm giữa vận mệnh và lợi ích của cộng đồng với vận mệnh và lợi ích của gia đình, để không những không hề tơ hào, lợi dụng dù chỉ một xu khi nắm trong tay những quyền chức cực kỳ quan trọng như phụ trách Quỹ Độc lập Trung ương và Tuần lễ vàng, mà còn có sự hi sinh cao cả ủng hộ đóng góp to lớn về tài chính cho cách mạng, cho Quốc gia Dân tộc.
Và sau đó cả gia đình cùng nhau kiên quyết rũ bỏ cuộc sống vàng son nhung lụa, kiên quyết rũ bỏ cả một tài sản lớn đến năm, bảy ngàn lạng vàng mà đeo ba lô lên vai và bồng bế dắt díu một bầy con thơ dại dấn thân vào bước đường kháng chiến đầy rẫy những khó khăn, thiếu thốn, gian khổ, hiểm nguy.
Sự đóng góp của ông bà Đỗ Đình Thiện cũng như những nhà tư sản trí thức Việt Nam yêu nước trước hết là do lòng yêu nước, sự phấn đấu hi sinh quên mình vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc; đồng thời còn do những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những nhân sĩ trí thức yêu nước, nên đã phát huy được những mặt tích cực của họ, động viên cổ vũ họ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ đem hết sức nhiệt tình yêu nước, trí tuệ tài năng và cả của cải vật chất quý giá vào những hoạt động bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng chính quyền nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trí thức Việt Nam thực sự là vốn liếng quý báu của dân tộc đã đóng góp một phần quan trọng trong công cuộc kháng chiến kiến quốc.
Dẫn chúng tôi sang phòng gian thờ ông bà Đỗ Đình Thiện, nhìn hai tấm ảnh nhỏ đã nhuốm màu thời gian lồng trong khung kính, đặt trang trọng cạnh hai tấm hình là hai lọ hoa trên bàn thờ. Chúng tôi những cán bộ Ban Quản lý các Khu di tích đã lên thắp nén tâm hương tỏ lòng tôn kính tưởng nhớ công ơn gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện và xin hứa tiếp tục gìn giữ những giá trị hiện vật của các thế hệ cha anh đi trước, để khơi dậy tình yêu quê hương, niềm tự hào về truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc cho các thế hệ sau này, chúng tôi ý thức được tinh thần trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn và bảo vệ, phát huy giá trị của các di sản văn hoá.
Một số hình ảnh ghi lại những lần GS, TS Đỗ Long Vân cùng các anh chị em trong gia đình, và bà Nguyễn Tường Vân-con gái của đồng chí Nguyễn Lương Bằng về khu di tích; cũng như những lần cán bộ Ban Quản lý các Khu di tích đến thăm gia đình ông Đỗ Long Vân.

***********ĐỀN TRÌNH***********          Điểm đến đầu tiên của Danh lam thắng cảnh quần thể hang động khu vực Chùa Tiên ...
08/04/2023

***********ĐỀN TRÌNH***********
Điểm đến đầu tiên của Danh lam thắng cảnh quần thể hang động khu vực Chùa Tiên đó là Đền Trình. Đền Trình thờ Tam vị Đức Thánh Ông.
Tương truyền, ngày xưa có ba anh em họ Đào tên Tấn, Minh, Ngọc là người khai sơn lập địa nên vùng đất này. Ba ông mất tại đất Khóm Chanh (khu đất lập đền Trình ngày nay), khi nhân dân trong vùng biết đến thì mối đã lấp gần hết thi hài của 3 ông, duy nhất chỉ để lộ ra 6 bàn chân và đến ngày hôm sau nữa thì mới lấp hết.
Nhân dân thấy vậy gọi là “thiên táng”. Từ đó, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ để nhớ công lao khai sơn lập địa dựng nên làng xóm của các ông, và tôn các ông là thành hoàng làng. Từ đó cứ đến ngày mùng 1 và ngày rằm, lễ, tết cổ truyền của dân tộc đều có hương khói thờ phụng.
Đền Trình toạ lạc trên thửa đất rộng khoảng 1000 m2 ở thôn Lão Ngoại, xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy. Theo truyền thuyết Đền Trình xưa kia là ngôi nhà sàn, nguyên vật liệu là gỗ, tranh, tre, nứa, lá. Trải qua thời gian ngôi đình đã bị xuống cấp. Đến năm 1932 những người có chức sắc trong làng đã quyên góp tiền của, công sức dựng lại ngôi đền bằng gỗ rất khang trang bề thế. Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ ngôi đình đã bị phá huỷ hoàn toàn.
Đến năm 1993 chính quyền và nhân dân trong thôn đã quyên góp tiền của xây dựng lại ngôi đền trên nền móng cũ, theo kiểu chữ nhất , với chiều dài 5,20m, rộng 5m. Đền có 4 mái, lợp ngói Ri.
Về kiến trúc gỗ gồm hai vì kèo làm theo kiểu chồng rường giá chiêng, cột trốn đội kẻ góc. Hai hàng chân cột được làm bằng bê tông. Vì kèo, kẻ 7, hoành được làm bằng gỗ lim.
Năm 2005, địa phương đã xây thêm một giếng ngọc trước cửa đền cạnh đường vào.
Năm 2007, chính quyền và nhân dân địa phương xây mới lại ngôi đình theo lối kiến trúc kiểu chữ đinh (J) như ngày nay.
Hiện nay, đền gồm 3 gian, 2 chái. Mái lợp ngói ri, 4 bên có đầu đao cong hình rồng, trên nóc có lưỡng long chầu nguyệt. Đền gồm có 4 cửa bằng gỗ. Trong đền có 8 cột trụ, trên mỗi cột trụ đều trang trí trạm nổi hình rồng cuốn quanh cột.
Đền gồm: Nhà Đại bái và Hậu cung.
a. Nhà Đại bái: gồm 3 ban thờ.
- Chính giữa là ban thờ Ngũ vị Tôn ông; Hội đồng Quan lớn:
Ban thờ xây dật 3 cấp: dài 2,85m.
+ Cấp 1: cao 36cm; rộng 1,10m: Cấp này gồm 2 lớp tượng: lớp trên cùng là 3 pho Tam toà Thánh mẫu, tượng cao 70cm, tượng ngồi xếp bằng, tay bắt quyết để trên đùi. Tượng ngồi trên bệ cao 15cm.
Lớp tượng phía dưới gồm 5 pho Ngũ vị Tôn ông, tượng cao 60cm, tượng ngồi xếp bằng hai tay đặt trên đùi. Tượng đặt trên bệ cao 20cm.
+ Cấp 2: cao 33cm; rộng 80cm: Cấp này bài trí 3 pho tượng Hội đồng quan lớn. Tượng tạc ngồi cao 50cm, với tư thế ngồi vắt chân chữ ngũ, 2 tay đặt trên đùi. Tượng đặt trên bệ cao 15cm.
+ Cấp 3: cao 77cm; rộng 85cm: Cấp này bài trí chính giữa là 1 lư hương đồng, bên trên trang trí Lướng long chầu nguyệt; 2 bên mỗi bên có 1 mâm bồng và 1 chân nến.
Hai bên ban thờ bài trí 4 thanh bảo khí.
Phía trên ban thờ treo bức y môn bằng đồng viết 3 chữ Hán: Ngưỡng Di Cao. Ngay dưới bức y môn treo cửa võng bằng gỗ sơn son thếp vàng có khắc hình rồng phượng, hoa lá cách điệu.
- Phía bên trái của ban thờ Ngũ vị Tôn ông là ban thờ Đức thánh Trần. Ban thờ được xây dật 3 cấp dài 2,92m:
+ Cấp 1: cao 22cm; rộng 83cm: Cấp này bài trí 3 pho tượng.
Chính giữa đặt pho tượng Đức Thánh Trần tạc ở tư thế ngồi cao 80cm, hai tay để hai bên đùi, ngồi trên bệ cao 35cm. Hai bên, mỗi bên có 1 bức tượng cô đứng hầu cận.
+ Cấp 2: cao 22cm; rộng 83cm: chính giữa là một chiếc ngai sơn son thếp vàng, trạm hình rồng. Trước ngai có đặt 1 đỉnh đồng.
+ Cấp 3: Cao 82cm; rộng 85cm: chính giữa đặt 1 lư hương đồng chạm lưỡng long chầu nguyệt. Hai bên, mỗi bên đặt 1 chân nến và 1 mâm bồng bằng đồng.
Phía dưới ban thờ xây 3 mái vòm đặt 3 con ngựa gỗ. Phía trước đặt 1 bát hương gốm.
Hai bên ban thờ bài trí 4 thanh bảo khí.
- Phía bên phải của ban thờ Ngũ vị Tôn ông là ban thờ Chúa Sơn trang. Ban thờ xây dật 3 cấp có chiều dài là 2,85m.
+ Cấp 1: Cao 26cm; rộng 82cm: cấp này bài trí 15 pho tượng. Chính giữa là pho tượng Bà chúa Sơn trang, tạc ở tư thế ngồi, tượng cao 50cm, đặt trên bệ cao 30cm. Hai bên, mỗi bên có 1 cô cầm tráp đứng hầu. Xung quanh có 12 cô hầu tay cầm nhạc khí.
+ Cấp 2: cao 22cm; rộng 82cm: chính giữa đặt 1 đỉnh đồng và 2 chân nến đồng.
+ Cấp 3: cao 83cm; rộng 77cm: cấp này gồm 1 lư hương đồng, 2 chân nến và 2 mâm bồng.
Dưới ban thờ xây một mái vòm trong đó có đặt 1 bát hương gốm thờ Quan Ngũ Hổ.
b. Hậu cung:
Từ nhà Đại bái bước qua 3 bậc tam cấp là đến Hậu cung. Trong hậu cung xây 1 ban thờ dật 3 cấp thờ Vua cha Ngọc hoàng; Tam vị Đức ông. Ban thờ dài 2,95m.
+Cấp 1: cao 22cm; rộng 1m: Cấp này bài trí 3 pho tượng. Chính giữa đặt pho tượng Vua cha Ngọc Hoàng, ngồi trên ngai vàng, đầu đội mũ long bảo, hai tay để trước ngực. Tượng cao 1m; bệ cao 30cm.
Bên trái tượng Vua cha Ngọc Hoàng là pho tượng Nam Tào, tạc ở tư thế ngồi cao 50cm, hai tay để trên đùi. Tượng đặt trên bệ cao 25cm.
Bên phải tượng Vua cha Ngọc hoàng là pho tượng Bắc Đẩu, tạc ở tư thế ngồi cao 50cm, hai tay để trên đùi. Tượng đặt trên bệ cao 25cm.
+ Cấp 2: cao 34cm; rộng 82cm: bài trí 3 pho tượng Tam vị Đức ông, 1 đỉnh đồng trạm rồng, ghê. 2 bên mỗi bên có 1 con hạc đồng đứng trên mai rùa, miệng hạc ngậm hoa sen.
+ Cấp 3: cao 95cm; rộng 83cm: bài trí chính giữa là bát hương gốm, hai bên có 2 mâm bồng và 2 chân nến.
Hai bên ban thờ bài trí 2 thanh bảo đao và 2 lọng.

*****ĐỀN MẪU ÂU CƠ ( thường gọi MẪU ĐẦM ĐA)*****         Theo truyền thuyết thì cháu ba đời của Đế Viên họ Thần Nông là ...
08/04/2023

*****ĐỀN MẪU ÂU CƠ ( thường gọi MẪU ĐẦM ĐA)*****
Theo truyền thuyết thì cháu ba đời của Đế Viên họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Nhân chuyến tuần du vùng núi Ngũ Lĩnh, Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục. Ngài là bậc thánh thông minh. Đế Minh yêu quý Lộc Tục, cho nối ngôi, phong là Kinh Dương Vương (2879 – 2794 trước Công nguyên) cho cai quản phương Nam. Lộc Tục lấy con gái Long Thần là Động Đình Quân sinh ra Lạc Long Quân, tức Sùng Lãm. Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ trong chuyến tuần du ở Động Lăng Xương bên sông Đà. Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng, nở 100 người con. 50 người con theo mẹ lên rừng, 50 người con theo cha xuống biển, sinh sôi, phát triển thành dân tộc Việt Nam ta như ngày nay.
Tưởng nhớ công ơn của Mẫu tổ Âu Cơ, người dân nơi đây đã lập đền thờ Mẫu Âu Cơ tại thôn Lão Ngoại, xã Phú Lão từ đó người dân thường gọi với cái tên thân thuộc Mẫu Đầm Đa, Hoà Bình.
Đền Mẫu cách Đền Trình khoảng 300m về phía Tây Bắc, nằm ẩn mình trên sườn núi So (còn gọi là núi Thờ), thuộc thôn Lão Ngoại, mặt quay hướng Đông Bắc. Đền Mẫu xưa là ngôi nhà sàn, tranh, tre, nứa, lá. Trong đền đồ thờ tự duy nhất chỉ có một bát hương cổ. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử ngôi đền bị hư hỏng và xuống cấp.
Năm 1994, đền được tu sửa bằng gỗ mái lợp ngói Ri. Năm 1999, đền được xây mới lại trên nền đất cũ.
Hiện nay, đền Mẫu xây dựng theo lối kiến trúc gần như kiểu nhà sàn xây dựng kiên cố bằng xi măng cốt thép. Phía dưới là 6 hàng chân cột, để đỡ toàn bộ ngôi đền ở phía trên, có hai cột ở giữa vươn cao lên tận mái.
Đền thiết kế hai lối lên xuống hai bên. Lối lên bên trái được xây bậc đá, còn lối bên phải được dựng cầu thang. Đền xây dựng với chiều dài 8m, rộng 5,50m; cao 5,60m. Phía trước là khoảng sân rộng được láng xi măng, xung quanh bao lan can. Trần đổ cuốn vòm, phía trên mái được ốp ngói giả kiểu ngói ống.
Nhìn phía trước đền có 3 cửa, các cửa đều được xây cao 1,90m; 1,20m; các cánh cửa đều làm bằng gỗ tạp.
Kiến trúc vì kèo gồm 2 bộ vì, làm theo kiểu chồng rường giá chiêng trụ trốn. Toàn bộ hệ thống vì kèo được làm bằng xi măng cốt thép. Lòng nhà chia một gian hai trái, trái bên phải được xây tường ngăn cách với gian chính, có cửa ra vào, cửa cao 1,85m, rộng 0,8m.
Trong đền có 3 ban thờ, các ban thờ được ốp bằng gạch men màu nâu, dài 1,60m, rộng 2,15m.
+ Chính giữa là tượng Mẫu tổ Âu Cơ, được tạc cao 115cm. Đầu đội vương miện, khuôn mặt tròn, đôn hậu, môi đỏ, mắt nhìn thẳng, tai to, cổ đeo các vòng tràng hạt màu đỏ, trắng, tím, hai tay được đặt chồng lên nhau theo thế tam muội ấn. Tượng mặc áo dài màu đỏ, được đặt trong khám. Khám cao: 185cm, dài 125cm, được sơn son thếp vàng. Khám được trạm lộng hoa văn với đề tài lưỡng long chầu nguyệt và tứ linh, tứ quý.
+ Ban bên phải nhìn vào là ban thờ tượng các cô, các nàng.
+ Ban bên trái nhìn vào là ban thờ tượng vua cha Lạc Long Quân tượng được tạc ngồi cao ng cân, khuôn mặt cương nghị, môi đỏ, mắt nhìn thẳng, tai to, mặc áo triều phục mầu vàng.
Các cấp dưới tượng bài trí các đồ thờ tự như mâm bồng, đèn nến... Đặc biệt ở giữa đặt bát hương đồng trang trí lưỡng long chầu nguyệt, cao 0,30m, đường kính miệng 0,31m.
Trong công xuộc xây dựng, phát triển đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay đang là xu hướng mở, tiệm cận giao lưu, giao thoa với các thành tựu của nền kinh tế thế giới đặc biệt là văn hóa tín ngưỡng đã và đang được nhiều người, nhiều thế hệ và cộng đồng quan tâm. Văn hóa tín ngưỡng vừa mang tính bản sắc văn hóa của dân tộc, vừa có ý nghĩa tâm linh trong tâm hồn mỗi con người, đây là nét đẹp văn hóa mà ai ai cũng hướng tới để góp phần bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc , đồng thời để tưởng nhớ và tri ân với các bậc tiền nhân đã có công khai khẩn, vun đắp, xây dựng nên nong sông bờ cõi.
Người Việt Nam ta ai cũng biết và nhớ rằng chúng ta là con một cha, nhà một mẹ “Lạc Long Quân và Âu Cơ” là người đã sinh ra con Lạc, cháu Hồng, đã để lại cho chúng ta cả giang sơn bờ cõi. Đền Mẫu Âu Cơ hay còn gọi là (Mẫu Đầm Đa) là di sản Quốc gia nằm trong khu di tích Danh lam thắng cảnh quần thể hang động khu vực Chùa Tiên thuộc xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp bằng công nhận di tích cấp Quốc gia.
Hằng năm có hàng triệu triệu người nhớ về nguồn cội Mẫu Đầm Đa (Mẹ Âu Cơ) để thắp hương tri ân, tưởng nhớ. Tuy nhiên, do số lượng khách về quá đông, nơi thờ phụng không đáp ứng được nhu cầu của du khách, mặt khác cơ sở vật chất đền thờ Mẫu Âu Cơ đã trải qua thời gian mưa, nắng bị hư hỏng xuống cấp nhiều du khách và địa phương kiến nghị phải nâng cấp sửa chữa để giữ gìn nơi thờ phụng được tôn nghiêm.
Năm 2016, Ban Quản lý các Khu di tích đã đề xuất và được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản Văn hóa cùng các cấp, ban, ngành phê duyệt đề án trùng tu, tôn tạo Đền Mẫu Âu Cơ. Đền Mẫu Âu Cơ( Mẫu Đầm Đa) đã được các nhà khoa học như Giáo sư Trần Lâm Biền, Giáo sư sử học Dương Trung Quốc, Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Văn Bài, Nguyên cục Trưởng Cục Di sản Văn hóa về thăm, khảo sát đánh giá và nhận định đây là nơi thờ Mẫu Âu Cơ có giá trị lịch sử lớn của Việt Nam. Mang bản sắc văn hóa đặc sắc, tín ngưỡng tôn giáo linh thiêng, di tích cần được bảo tồn và phát triển, chính vì vậy mà hằng năm du khách thập phương đã đổ về thắp hương, thờ Mẫu cầu xin sức khỏe, bình an, cầu tài, cầu lộc, cầu hạnh phúc, ấm no, cầu mưa thuận, gió hòa, nhà nhà hạnh phúc.
Hiện nay công trình đã đi vào trùng tu, xây dựng các hạng mục tôn tạo xây dựng như nhà Đền Mẫu, bức hoành phi, câu đối, ban thờ cửa võng và một số đồ thờ tự đang trong quá trình thi công, tuy nhiên nguồn vốn quá khó khăn và cần có sự ủng hộ, giúp đỡ của mọi tổ chức, cá nhân các công ty, doanh nghiệp để công trình hoàn thành đúng tiến độ, khang trang to đẹp và tôn nghiêm hơn.
Với trách nhiệm của mình, để mọi tổ chức, cá nhân, công ty, doanh nghiệp và các nhà hảo tâm biết phát tâm công đức góp phần tham gia xây dựng ngôi Đền thờ Mẫu Âu Cơ (Mẫu Đầm Đa), Ban Quản lý các Khu di tích huyện Lạc Thủy kính mong các nhà hảo tâm hoan hỉ phát tâm công đức, tài trợ để xây dựng hoàn thiện ngôi Đền thờ Mẫu Đầm Đa xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Với niềm tin Mẫu ban phước lộc, thái thịnh, an hòa. Các tổ chức, cá nhân, các công ty, doanh nghiệp các nhà hảo tâm có thể liên hệ qua số điện thoại đồng chí Đỗ Danh Ngọc- Trưởng Ban Quản lý các Khu di tích huyện Lạc Thuỷ-0989024555. Ban Quản lý các Khu di tích huyện xin ghi nhận tấm lòng hảo tâm của quý phật tử thiện tín gần xa, các nhà hảo tâm công đức!

Address

Đầm Đa/Lạc Thủy/Hòa Bình
Hòa Bình

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Tiên - Mẫu Đầm Đa - Lạc Thủy Hòa Bình posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share