Quân Sự Phường Sơn Trà

Quân Sự Phường Sơn Trà Hoạt động của lực lượng Dân quân phường Sơn Trà. Ban CHQS phường Sơn Trà được thành lập vào ngày 01/7/2025

Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về tổ chức sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, phường Sơn Trà được hình thành từ việc hợp nhất phường Mân Thái, Thọ Quang và Nại Hiên Đông với tổng diện tích toàn phường sau sáp nhập là 50,3 km2.

Sáng ngày 03/9/2026, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cán bộ, chiến sĩ Ban Chỉ huy Quân sự phường Sơn Trà...
03/09/2026

Sáng ngày 03/9/2026, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cán bộ, chiến sĩ Ban Chỉ huy Quân sự phường Sơn Trà tham gia Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị.
📚 Hội nghị tập trung nghiên cứu, học tập, quán triệt 06 chuyên đề, gắn với những nhiệm vụ quan trọng về công tác tư tưởng; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; phát triển kinh tế - xã hội; phát triển vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia; phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
📚 Thông qua hội nghị, cán bộ, chiến sĩ Ban Chỉ huy Quân sự phường Sơn Trà được nghiên cứu, học tập những nội dung cốt lõi, điểm mới và trọng tâm của các nghị quyết, chỉ thị; qua đó nâng cao nhận thức chính trị, thống nhất ý chí và hành động, vận dụng hiệu quả vào thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương.
💪 Mỗi cán bộ, chiến sĩ tiếp tục nâng cao tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, chủ động học tập, nghiên cứu và cụ thể hóa các chủ trương của Đảng thành những việc làm thiết thực, góp phần xây dựng Ban Chỉ huy Quân sự phường Sơn Trà vững mạnh, chính quy, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
-Mộc Anh-


02/09/2026

🇻🇳 TẠI SAO BÁC HỒ CHỌN LÚC 14H NGÀY 2/9 ĐỂ ĐỌC TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP?

02/09/2026

🇻🇳 BÂY GIỜ LÀ 9 GIỜ 47 PHÚT…
57 năm trước, cũng vào thời khắc này, một trái tim vĩ đại đã ngừng đập…
9 giờ 47 phút, ngày 2/9/1969, trái tim của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngừng đập. Nỗi đau ấy là mất mát không gì bù đắp được đối với toàn thể dân tộc Việt Nam.
Vĩnh biệt Người, cả dân tộc nén đau thương, quyết tâm giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện tâm nguyện thiêng liêng mà Người hằng mong mỏi.
🇻🇳 Hơn nửa thế kỷ Bác đi xa, cả dân tộc vẫn khôn nguôi thương nhớ Người. Hôm nay, Quốc khánh 2/9, đất nước đã rực rỡ cờ hoa, non sông liền một dải, nhân dân được sống trong hòa bình, độc lập và đang vững bước trên con đường phát triển, hội nhập; đúng như mong mỏi suốt cuộc đời của Người.
🇻🇳 Một sự trùng hợp đặc biệt: Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần ngày 2/9/1969 dương lịch, tức ngày 21/7/1969 âm lịch. Và hôm nay, 2/9/2026, ngày Quốc khánh lại đúng vào ngày 21/7 âm lịch.

🌻Ngày 02 tháng 9 – ngày non sông Việt Nam bước sang một trang sử mới, ngày khát vọng độc lập, tự do của cả dân tộc được ...
02/09/2026

🌻Ngày 02 tháng 9 – ngày non sông Việt Nam bước sang một trang sử mới, ngày khát vọng độc lập, tự do của cả dân tộc được vang lên giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử.
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập...”🕊️
81 năm đã trôi qua, nhưng lời Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vang vọng, nhắc nhở mỗi người Việt Nam về giá trị thiêng liêng của độc lập, tự do và trách nhiệm gìn giữ non sông.
🪷Như những đóa sen vươn lên từ bùn đất, dân tộc Việt Nam luôn kiên cường vượt qua gian khó, giữ trọn niềm tin, đoàn kết và vững bước đi lên.
🇻🇳Ban Chỉ huy Quân sự phường Sơn Trà nguyện phát huy truyền thống vẻ vang, đoàn kết, kỷ luật, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương, Tổ quốc.
-Mộc Anh-


01/09/2026

Hôm nay trời mưa....
Một cơn mưa đầu tháng Chín kéo dài, bầu trời u ám, phố phường như chậm lại…
Chẳng hiểu sao trong những ngày cận Quốc khánh, lòng người lại dễ chùng xuống đến vậy.
Có lẽ bởi tháng Chín không chỉ có niềm vui của mùa Thu Độc lập, mà còn có một nỗi nhớ rất sâu – nỗi nhớ về Bác Hồ kính yêu.
Ngày 2/9/1945, Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam.
Và cũng vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969, Người rời xa chúng ta...
Sáu mươi mốt năm Người đã đi xa, nhưng tư tưởng, đạo đức và tình yêu thương bao la của Người dành cho đồng bào vẫn còn đó. Người không còn hiện diện giữa cuộc đời, nhưng hình bóng Người vẫn hiện hữu trong từng trang sử, trong mỗi lá cờ đỏ sao vàng, trong những con đường mang tên Người và trong trái tim của hàng triệu người con đất Việt.
Có lẽ vì thế mà trong những ngày tháng 9, khi đất trời khoác lên mình màu mưa, lòng người cũng dễ chùng xuống bởi một nỗi nhớ rất sâu…
Nhớ một vị Cha già của dân tộc với dáng người giản dị, đôi dép cao su, bộ quần áo kaki bạc màu; nhớ một con người cả đời chỉ có một mong muốn lớn lao:
❤️“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.”❤️
🙏🏻🙏🏻🙏🏻Trong khoảnh khắc đất trời lặng im trước ngày Quốc khánh, mỗi chúng ta xin được cúi đầu tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, Người Cha kính yêu của các lực lượng vũ trang và dân tộc Việt Nam.🇻🇳
-Mộc Anh-


🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳TỪ LỜI THỀ ĐỘC LẬP ĐẾN LỜI HẸN 2045Nếu Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là lời thề của một dân tộc quyết gi...
01/09/2026

🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳
TỪ LỜI THỀ ĐỘC LẬP ĐẾN LỜI HẸN 2045
Nếu Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là lời thề của một dân tộc quyết giành và giữ quyền tự do, độc lập, thì khát vọng 2045 có thể được xem như một lời hẹn với tiền nhân, với Nhân dân và các thế hệ mai sau: phải làm cho nền độc lập được đánh đổi bằng biết bao hy sinh kết tinh thành một đất nước phát triển, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.

“Đoàn kết là lực lượng vô địch”

Vừa qua tại Nhà hát Hồ Gươm, trong Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có một bài diễn văn không dài nhưng gợi mở một đường dây suy tưởng rất dài: từ Quảng trường Ba Đình mùa Thu năm 1945 đến hai mốc son 100 năm của đất nước, đặc biệt là mục tiêu năm 2045.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “đoàn kết là lực lượng vô địch”. Đặt trong hành trình 81 năm, đó không chỉ là một bài học của lịch sử mà còn là gợi mở cho hiện tại. Trong những thời điểm khắc nghiệt nhất, điều giúp Việt Nam đứng vững chính là lòng yêu nước, ý chí giành độc lập và niềm tin vào sức mạnh Nhân dân. Hôm nay, thách thức đã khác: nguy cơ tụt hậu, cạnh tranh công nghệ, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, những bất định địa chính trị và cả nguy cơ phân hóa trong đời sống xã hội. Nhưng câu trả lời căn bản vẫn vậy: muốn vượt qua những thử thách lớn, đất nước phải quy tụ được lòng dân, tạo được đồng thuận và biến khát vọng chung thành hành động chung.

Nhìn lại chặng đường từ năm 1945 đến nay, chúng ta có quyền tự hào về một hành trình đặc biệt. Từ một đất nước chưa có sự thừa nhận quốc tế, Việt Nam hôm nay đã có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, tham gia sâu rộng vào các cơ chế hợp tác và ngày càng hiện diện rõ hơn trong các chuỗi sản xuất, thương mại toàn cầu.

Nhưng thành tựu lớn nhất nằm ở sự thay đổi thân phận của dân tộc: từ mất nước trở thành quốc gia độc lập; từ bị người khác định đoạt số phận trở thành chủ thể tự quyết định tương lai; từ phải đấu tranh để được công nhận trở thành một Việt Nam có tiếng nói, có vị thế và khả năng đóng góp vào những công việc chung của khu vực và thế giới.

Chính vì vậy, độc lập không nên được hiểu như trạng thái đạt được một lần rồi có thể yên tâm hưởng thụ mãi mãi. Mỗi thời đại lại đặt thêm những nội dung mới vào hai chữ thiêng liêng ấy. Năm 1945, độc lập trước hết là thoát khỏi ách ngoại bang, giành quyền làm chủ đất nước. Trong chiến tranh, độc lập gắn với bảo vệ chủ quyền, thống nhất non sông. Khi bước vào Đổi mới, độc lập còn là thoát khỏi đói nghèo, trì trệ.

Hôm nay, trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau rất sâu, độc lập còn là năng lực tự chủ về kinh tế, khoa học - công nghệ, dữ liệu, năng lượng, nhân lực và văn hóa; là khả năng đứng vững trước những cú sốc từ bên ngoài mà vẫn mở cửa, hợp tác và hội nhập. Một quốc gia chỉ thật sự tự chủ khi có nền kinh tế đủ mạnh, năng lực công nghệ đủ sức cạnh tranh, nền văn hóa đủ sức giữ căn cước và một xã hội đủ đoàn kết.

Lòng yêu nước hôm nay phải được chuyển hóa thành năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, những công trình khoa học có giá trị, những doanh nghiệp Việt Nam đủ sức đi ra thế giới, một nền hành chính phục vụ nhân dân và sự liêm chính của cán bộ. Nếu thế hệ năm 1945 đã trả lời câu hỏi Việt Nam có thể trở thành một quốc gia độc lập hay không, thì thế hệ hôm nay phải trả lời một câu hỏi khác: Việt Nam có thể trở thành một quốc gia phát triển, hùng cường và hạnh phúc hay không?

Lời hẹn 2045: Độc lập phải kết tinh thành hạnh phúc

Một trong những điểm đáng chú ý nhất trong diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là cách lịch sử được nối trực tiếp với tương lai. Lễ kỷ niệm Quốc khánh năm nay diễn ra trong một khí thế mới, khi sau kỷ nguyên độc lập, kỷ nguyên thống nhất và kỷ nguyên đổi mới, đất nước bước vào “kỷ nguyên phát triển mới”. Từ niềm tự hào về chặng đường đã qua, diễn văn hướng tới hai mốc son 100 năm: đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, tròn một thế kỷ thành lập nước, Việt Nam là nước phát triển, có thu nhập cao, phồn vinh và hạnh phúc. Tôi muốn gọi 2045 là lời hẹn của chúng ta với lịch sử, bởi điều các thế hệ đi trước chờ đợi ở chúng ta chắc chắn không chỉ là giữ được độc lập, mà còn là làm cho nền độc lập ấy tạo ra một đời sống tốt đẹp hơn cho Nhân dân.

Câu hỏi vì thế rất rõ: một trăm năm trước, thế hệ Hồ Chí Minh trao cho dân tộc một quốc gia độc lập; một trăm năm sau, thế hệ chúng ta sẽ trao lại cho con cháu một đất nước như thế nào? Câu trả lời không thể chỉ là một nền kinh tế lớn hơn hay những đô thị nhiều nhà cao tầng hơn. Một Việt Nam phát triển năm 2045 phải là một đất nước mà sức mạnh kinh tế đi cùng sức mạnh văn hóa, hiện đại hóa đi cùng gìn giữ bản sắc, tăng trưởng đi cùng tiến bộ và công bằng xã hội, còn khoa học - công nghệ và ch.uyển đổi số cuối cùng phải làm cho con người được sống tốt đẹp hơn. Mục tiêu 2045 vì thế không chỉ là một đích đến kinh tế mà phải là cam kết phát triển toàn diện về con người, mở rộng cơ hội, nâng cao chất lượng sống và không để những người yếu thế bị bỏ lại phía sau.

Ngay sau khi nói về những mục tiêu chiến lược đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh một nguyên tắc rất quan trọng: “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm”; mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Tôi cho đây chính là cầu nối sâu sắc nhất giữa năm 1945 và năm 2045. Cách mạng tháng Tám thành công vì Nhân dân đứng lên giành quyền làm chủ vận mệnh; Nhà nước Việt Nam mới ra đời cũng trước hết để Nhân dân được làm chủ và được sống tốt hơn. 81 năm sau, nguyên lý ấy vẫn không thay đổi: Nhân dân phải là chủ thể của phát triển, và hạnh phúc của Nhân dân phải là thước đo cuối cùng để kiểm nghiệm chất lượng của thể chế, chính sách và quản trị quốc gia.

Điều đó buộc chúng ta nhìn các mục tiêu phát triển bằng những tiêu chí gần gũi và cụ thể hơn. GDP tăng bao nhiêu là quan trọng, nhưng người dân được hưởng gì từ tăng trưởng ấy còn quan trọng hơn. Đô thị hiện đại hơn, nhưng trẻ em có thêm không gian vui chơi, người già được chăm sóc tốt hơn, người lao động có nhà ở và dịch vụ công phù hợp hơn hay không cũng là những câu hỏi của phát triển. Kinh tế số có thể tăng nhanh, nhưng nếu người yếu thế bị bỏ lại phía sau thì quá trình số hóa chưa thể coi là trọn vẹn. Một địa phương có thể thu hút nhiều dự án, nhưng nếu môi trường, di sản và bản sắc cộng đồng bị tổn thương thì cái giá phải trả có thể rất lớn. Một quốc gia giàu lên về vật chất nhưng con người bất an hơn và các giá trị nhân văn suy giảm thì cũng chưa phải hình ảnh chúng ta mong muốn cho năm 2045.

Ở đây, văn hóa có một vị trí đặc biệt. Một đất nước muốn đi xa không chỉ cần đường cao tốc, khu công nghiệp, trung tâm tài chính hay những công nghệ mới; chúng ta còn cần một nền tảng tinh thần đủ vững để con người Việt Nam biết mình là ai, tự hào về điều gì và muốn đóng góp điều gì cho đất nước. Nếu kinh tế tạo ra sức mạnh vật chất thì văn hóa định hướng cách chúng ta sử dụng sức mạnh ấy; nếu công nghệ giúp xã hội đi nhanh hơn thì văn hóa giúp chúng ta không đi sai hướng; nếu hội nhập mở những cánh cửa ra thế giới thì bản sắc giúp Việt Nam bước qua những cánh cửa ấy với tư thế của chính mình. Vì thế, xây dựng một Việt Nam phát triển còn là xây dựng lòng tin, đạo đức, nhân cách, tinh thần sáng tạo và những giá trị Việt Nam đủ sức lan tỏa trong một thế giới đang biến đổi rất nhanh.

Lời hẹn 2045 cũng không phải lời hẹn của riêng Đảng, Nhà nước hay một thế hệ lãnh đạo. Nó chỉ có thể thành hiện thực khi được chuyển hóa thành khát vọng chung và hành động cụ thể của hàng triệu con người: nhà khoa học bằng công trình có giá trị, doanh nhân bằng sản phẩm Việt Nam đủ sức cạnh tranh, nghệ sĩ bằng tác phẩm làm đẹp hình ảnh đất nước, người thầy bằng những học trò có nhân cách và khát vọng, cán bộ bằng sự tận tâm và liêm chính, người lao động bằng sự chuyên nghiệp và trách nhiệm. Ngay cả những lựa chọn nhỏ của mỗi công dân - sống tử tế, tuân thủ pháp luật, tôn trọng người khác, không thờ ơ trước lợi ích chung - cũng góp phần tạo nên chất lượng xã hội mà chúng ta muốn trao lại cho thế hệ sau. Khi mỗi người nhìn thấy phần trách nhiệm của mình trong mục tiêu chung, 2045 sẽ trở thành một hành trình bắt đầu từ hôm nay.

Lịch sử có những cuộc chuyển giao không được ghi thành văn bản. Thế hệ làm nên Cách mạng tháng Tám và những thế hệ đã hy sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đã chuyển giao cho chúng ta một đất nước độc lập, thống nhất. Trách nhiệm của chúng ta là chuyển giao cho những thế hệ sau một Việt Nam giàu mạnh hơn, nhân văn hơn, đáng sống hơn và có vị thế cao hơn trên thế giới. Từ Quảng trường Ba Đình năm 1945 đến mục tiêu năm 2045 là hành trình đúng một thế kỷ: ở đầu hành trình là lời tuyên bố rằng dân tộc Việt Nam có quyền sống trong tự do, độc lập; ở phía trước là lời hẹn rằng dân tộc ấy đủ bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng để xây dựng một đất nước phát triển, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc. Có lẽ cách ý nghĩa nhất để thế hệ hôm nay tri ân mùa Thu Độc lập là biến niềm tự hào về quá khứ thành trách nhiệm với hiện tại, biến trách nhiệm thành hành động và biến nền độc lập được đánh đổi bằng máu xương thành hạnh phúc hiện hữu trong cuộc sống của từng người dân./.

Báo Đại biểu Nhân dân

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - NGỌN ĐUỐC SOI ĐƯỜNG CHO DÂN TỘC VIỆT NAM Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt ...
01/09/2026

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - NGỌN ĐUỐC SOI ĐƯỜNG CHO DÂN TỘC VIỆT NAM

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

81 năm đã trôi qua, những giá trị cốt lõi của bản Tuyên ngôn và tinh thần ngày 2/9/1945 vẫn vẹn nguyên sức sống, trở thành ngọn đuốc soi sáng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trên con đường xây dựng nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc.

"Áng thiên cổ hùng văn" về quyền con người, quyền dân tộc

Mùa thu lịch sử năm 1945, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng triệu người dân Việt Nam đã kết thành một khối thống nhất, đứng lên giành chính quyền, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, quyết tâm "dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập".

Cách mạng Tháng Tám đã thổi bùng tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của mỗi một người Việt Nam. Cuộc sống hồi sinh, tinh thần dân tộc hồi sinh. Một dân tộc "rũ bùn đứng dậy sáng lòa". Để rồi tinh thần đó, ý chí đó đã làm nên sức mạnh vô địch của người Việt Nam khi buộc phải tiến hành những cuộc chiến đấu đầy hy sinh gian khổ.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Người soạn thảo, trịnh trọng tuyên bố với toàn thể đồng bào cả nước và nhân dân thế giới về nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những cơ sở pháp lý về quyền con người và quyền dân tộc để làm nền tảng căn cứ vững chắc cho bản Tuyên ngôn. Người đưa ra các trích dẫn trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" (1). Và "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". (2)

Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ có ý nghĩa to lớn, đây là cách nêu dẫn chứng vừa khéo léo vừa kiên quyết. Nó góp phần đảm bảo tính khách quan của bản tuyên ngôn và hơn thế còn thể hiện thái độ tôn trọng chân lý chung hay những giá trị tiến bộ được nhân loại thừa nhận của Người. Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn còn mang ý nghĩa sâu xa hơn đó là Bác đã đặt bản Tuyên ngôn độc lập nước ta ngang hàng với hai bản tuyên ngôn của hai cường quốc trên thế giới.

Tuy nhiên, nếu như hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ chỉ dừng lại ở việc nhấn mạnh quyền con người, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ mẫn tiệp, bằng sự trải nghiệm thực tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đã khéo léo phát triển, đưa ra một luận đề không thể bác bỏ về quyền của các dân tộc: "Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". (3)

Người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục, khẳng định quyền dân tộc và quyền con người có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Dân tộc độc lập là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện quyền con người và ngược lại thực hiện tốt quyền con người chính là phát huy những giá trị cao cả và ý nghĩa thật sự của độc lập dân tộc.

Chính điều này mà Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đã thể hiện giá trị thời đại sâu sắc. Tuyên ngôn Độc lập không chỉ dành riêng cho dân tộc Việt Nam, mà còn là tuyên ngôn mang tính thời đại, là tiếng nói của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Những tư tưởng lớn của bản Tuyên ngôn Độc lập là những tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam, cũng là những tư tưởng lớn của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới.

Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc

Trước quốc dân Việt Nam và thế giới, Tuyên ngôn Độc lập đã lên án mạnh mẽ hành động cướp nước, chế độ thống trị hà khắc của thực dân Pháp và phát xít Nhật đối với dân tộc Việt Nam: "Về chính trị - Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào... Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân trong những bể máu... Về kinh tế - Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy... Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu... Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng..." (4).

Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đánh đuổi thực dân, phong kiến và đế quốc, giành lại độc lập, tự do và quyền con người. Như vậy, nhân quyền ở Việt Nam không phải là giá trị do ai ban phát mà là kết quả của cuộc đấu tranh trường kỳ của nhân dân Việt Nam. Cuộc đấu tranh đó đã làm cho "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa" (5).

Bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời; thủ tiêu hoàn toàn chính quyền thực dân, phong kiến, khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam trước toàn thể nhân dân Việt Nam với toàn thế giới. "Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!" (6).

Phần cuối bản Tuyên ngôn là lời khẳng định: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy" (7).

Bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là một văn kiện lịch sử, pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mà còn là bản hùng ca thể hiện khát vọng mãnh liệt về quyền con người, quyền của dân tộc được sống trong độc lập, tự do. Từ thời khắc thiêng liêng ấy, lịch sử của dân tộc bước sang trang mới, người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã tự tin bước lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình; dân tộc Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với nhân loại, Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam là nguồn cổ vũ, động viên, khích lệ vô cùng to lớn đối với phong trào giải phóng dân tộc, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội.

Ngọn đuốc soi đường cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

81 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vang vọng Lời thề độc lập, với tư tưởng bất hủ "Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do", toàn thể dân tộc Việt Nam đã đoàn kết đồng lòng, muôn người như một, đưa cách mạng Việt Nam vững bước tiến lên, giành được những thắng lợi lịch sử mang tầm thời đại, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; thực hiện thành công công cuộc đổi mới, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Từ một vùng đất chưa có tên trên bản đồ thế giới, từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của các nhà đầu tư và du khách quốc tế.

Từ một nền kinh tế quy mô nhỏ, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động của khu vực. Năm 2025, GDP tăng 8,02%, thuộc nhóm các nền kinh tế tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới. Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2026. 6 tháng đầu năm, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước. Đây là cơ sở quan trọng để nền kinh tế tiếp tục hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Nếu tăng trưởng kinh tế là động lực thì con người chính là mục tiêu và chủ thể của quá trình phát triển. Công cuộc giảm nghèo là một trong những thành tựu nổi bật. Tính đến cuối năm 2025, tỷ lệ nghèo đa chiều (gồm tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo) trên cả nước đã giảm xuống còn 2,95%.

Cùng với đó, quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có hiệu quả. Việt Nam ngày nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 37 nước; tham gia hơn 70 tổ chức và diễn đàn quốc tế quan trọng, đồng thời ký kết và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Trong kỷ nguyên mới với nhiều thời cơ, thách thức đan xen, Đảng tiếp tục thể hiện vai trò dẫn dắt bằng những quyết sách lớn mang tính chiến lược, lâu dài. Đại hội XIV của Đảng đã đề mục tiêu phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, có thu nhập cao; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, ch.uyển đ.ổi s.ố; phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh.

Vì vậy, những giá trị bất hủ của Tuyên ngôn Độc lập năm xưa tiếp tục là ngọn đuốc soi đường, khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự cường, khát vọng cống hiến, xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Tinh thần quyết "giữ vững quyền tự do và độc lập" trong kỷ nguyên mới không chỉ được đo bằng khả năng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà còn là năng lực xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, ch.uyển đ ổi s.ố; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới. Khát vọng "sánh vai với các cường quốc năm châu" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ Việt Nam hôm nay đã trở thành yêu cầu phát triển thực tiễn, thể hiện qua tư duy dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, làm chủ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, thúc đẩy tăng trưởng, đưa đất nước phát triển bứt phá.

Đặc biệt, những giá trị về quyền con người do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng trong Tuyên ngôn Độc lập là những giá trị bất hủ. Tuyên ngôn đề cao quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, trở thành cơ sở để Hiến pháp và pháp luật Việt Nam khẳng định vị trí trung tâm của người dân trong đời sống chính trị-xã hội. Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của đổi mới sáng tạo, ch.uyển đ.ổi s.ố và hội nhập sâu rộng, việc phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân càng có ý nghĩa quyết định. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà là nguồn lực sáng tạo to lớn. Thực hành triệt để quan điểm "dân là gốc", coi Nhân dân là trung tâm, chủ thể của mọi quyết sách chính là con đường căn bản để củng cố "thế trận lòng dân", tạo sức mạnh nội sinh bền vững, đưa đất nước tiến mạnh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên phát triển mới.

81 năm đã trôi qua nhưng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy" trong Tuyên ngôn Độc lập, đến hôm nay vẫn vang vọng núi sông. Lời kêu gọi ấy có sức cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn./.

Báo Thể Thao & Văn Hóa

🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳Mùa Thu năm 1945 đi vào lịch sử dân tộc như một mùa Thu đặc biệt: Mùa Thu của độc lập, tự do; mùa Thu nh...
01/09/2026

🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳
Mùa Thu năm 1945 đi vào lịch sử dân tộc như một mùa Thu đặc biệt: Mùa Thu của độc lập, tự do; mùa Thu nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đứng lên làm chủ vận mệnh đất nước. Chỉ trong khoảng nửa cuối tháng 8-1945, chính quyền cách mạng đã lần lượt về tay nhân dân ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và nhiều địa phương trong cả nước; ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng tuyên bố với quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhìn từ chiều sâu lịch sử, thắng lợi ấy không chỉ là kết quả của việc chớp đúng thời cơ cách mạng, mà trước hết là kết quả của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được tổ chức, giác ngộ và phát huy đến đỉnh cao. Chính sức mạnh ấy làm cho một dân tộc bị áp bức, với lực lượng cách mạng còn nhỏ bé, có thể vùng lên giành chính quyền trên phạm vi cả nước.

Sức mạnh của “muôn người như một”

Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong một hoàn cảnh đặc biệt. Nhật Bản đầu hàng đồng minh, bộ máy thống trị của phát xít Nhật và chính quyền tay sai rơi vào khủng hoảng; thời cơ “ngàn năm có một” xuất hiện. Nhưng, thời cơ tự nó không biến thành thắng lợi. Điều quyết định là có lực lượng đủ mạnh để biến thời cơ thành hành động cách mạng.

Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng vấn đề căn bản ấy bằng việc đặt độc lập dân tộc lên trên hết, tập hợp mọi lực lượng yêu nước, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, dân tộc, giới tính, nghề nghiệp, miễn là cùng hướng tới mục tiêu cứu nước, giành độc lập. Mặt trận Việt Minh trở thành hình thức tổ chức tiêu biểu để quy tụ và phát huy sức mạnh đó. Các nguồn tư liệu chính thống nhấn mạnh rằng chính sách tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu nước trong Việt Minh đã góp phần quyết định tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân trong Cách mạng Tháng Tám.
Đây là một sáng tạo lớn về nghệ thuật lãnh đạo cách mạng. Đoàn kết không phải là lời kêu gọi chung chung, càng không phải phép cộng cơ học các lực lượng xã hội. Muốn đoàn kết phải xác định được mẫu số chung của dân tộc. Năm 1945, mẫu số chung ấy chính là khát vọng độc lập, tự do, quyền sống của dân tộc và quyền làm chủ của nhân dân. Bởi vậy, từ công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ đến các tầng lớp yêu nước khác đều có thể tìm thấy vị trí của mình trong sự nghiệp chung. Lòng yêu nước được chuyển hóa thành hành động chính trị; tinh thần dân tộc được chuyển hóa thành sức mạnh quần chúng; ý chí độc lập được chuyển hóa thành lực lượng vật chất trực tiếp làm thay đổi vận mệnh đất nước. Đó chính là sự khác biệt giữa một dân tộc có lòng yêu nước và một dân tộc biết tổ chức lòng yêu nước thành sức mạnh cách mạng.

Từ lòng dân đến sức dân - từ sức dân thành sức mạnh cách mạng

Một trong những bài học nổi bật của mùa Thu năm 1945 là mối quan hệ hữu cơ giữa “lòng dân” và “sức dân”. “Lòng dân” là niềm tin, khát vọng, sự đồng thuận và ý chí hướng về độc lập, tự do. “Sức dân” là khi những tình cảm, khát vọng ấy được biến thành hành động cụ thể. Khi lòng dân đã thuận, sức dân được tổ chức, lãnh đạo đúng hướng thì sức mạnh ấy trở nên vô cùng to lớn. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám chính là sự chuyển hóa kỳ diệu đó.

Điều đáng chú ý là Đảng lúc đó chỉ có khoảng 5.000 đảng viên, trong khi dân số cả nước hơn 20 triệu người. Song, một lực lượng chính trị nhỏ bé đã có thể lãnh đạo toàn dân vùng dậy giành chính quyền. Điều đó không thể giải thích bằng tương quan số lượng đơn thuần. Sức mạnh của Đảng nằm ở khả năng nắm bắt quy luật, xác định đúng mục tiêu, tập hợp lực lượng, tổ chức quần chúng và hành động quyết đoán khi thời cơ xuất hiện. Nói cách khác, Đảng không thay thế nhân dân làm cách mạng; Đảng lãnh đạo để nhân dân trở thành chủ thể và lực lượng quyết định của cách mạng.
Chính vì vậy, khi thời cơ đến, lời hiệu triệu “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” đã nhanh chóng biến thành hành động rộng lớn của hàng triệu người. Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào xác định những nguyên tắc tập trung, thống nhất, kịp thời; Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàn dân tổng khởi nghĩa. Sự kết hợp giữa lãnh đạo đúng, đường lối đúng, tổ chức đúng, lòng dân thuận, hành động kịp thời đã tạo nên sức mạnh tổng hợp làm nên thắng lợi.

Đoàn kết để giành chính quyền, đoàn kết để giữ chính quyền

Một giá trị sâu sắc khác của mùa Thu năm 1945 là: Đại đoàn kết không chỉ có ý nghĩa trong đấu tranh giành chính quyền mà còn là điều kiện để bảo vệ thành quả cách mạng. Sau ngày độc lập, nước Việt Nam mới phải đối mặt với muôn vàn khó khăn. Chính quyền cách mạng đứng trước tình thế cực kỳ hiểm nghèo, trong khi nền kinh tế kiệt quệ, nạn đói, nạn dốt, thù trong giặc ngoài cùng đe dọa. Trong hoàn cảnh đó, đoàn kết dân tộc tiếp tục trở thành nguồn lực căn bản để củng cố chính quyền và bảo vệ nền độc lập vừa giành được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tổng kết thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không chỉ bằng sự lãnh đạo của Đảng mà còn nhấn mạnh “sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân” trong và ngoài Mặt trận Việt Minh. Điều đó cho thấy một chân lý: Giành được chính quyền đã khó, giữ vững chính quyền còn khó hơn; muốn làm được cả hai phải dựa vào dân, phát huy sức dân và củng cố lòng tin của dân.

Giá trị vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Hơn tám thập niên đã qua, đất nước đã thay đổi căn bản. Mục tiêu, nhiệm vụ, điều kiện lịch sử không còn giống năm 1945. Nhưng quy luật về sức mạnh của lòng dân và đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn giữ nguyên giá trị.

Trước hết, phải tiếp tục lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và lợi ích chính đáng của nhân dân làm điểm quy tụ đồng thuận. Trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phân hóa ngày càng đa dạng của đời sống xã hội, càng không thể đoàn kết bằng mệnh lệnh hành chính. Đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng, đối thoại, chia sẻ lợi ích, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Thứ hai, phải chuyển sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất của phát triển. Đại đoàn kết không chỉ là cùng nhau vượt qua khó khăn mà còn phải trở thành động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động, xây dựng xã hội văn minh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống. Khi mỗi người dân thấy mình là chủ thể và có phần trách nhiệm trong sự phát triển đất nước, sức mạnh dân tộc sẽ được nhân lên.

Thứ ba, phải đặc biệt coi trọng củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Bài học năm 1945 cho thấy muốn tập hợp được dân phải có đường lối đúng; muốn dân tin phải hành động vì lợi ích của dân. Vì vậy, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia; xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm chính là những giải pháp trực tiếp củng cố, tăng cường thế trận lòng dân.

Thứ tư, phải phát huy dân chủ, tôn trọng nhân dân, dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Đại đoàn kết không thể tách rời dân chủ. Nhân dân phải được tham gia, được biết, được bàn, được giám sát và được thụ hưởng những thành quả của phát triển. Mọi chủ trương lớn muốn đi vào cuộc sống đều cần bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh lợi ích chính đáng của nhân dân và nhận được sự đồng thuận xã hội.

Thứ năm, trong bảo vệ Tổ quốc, phải tiếp tục xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền mà còn bảo vệ môi trường hòa bình, an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, không gian mạng và lợi ích quốc gia - dân tộc. Một đất nước có lòng dân vững chắc sẽ có sức chống chịu lớn trước mọi biến động và thách thức.
Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, càng phải tránh hai khuynh hướng: Hoặc tuyệt đối hóa sức mạnh bên ngoài mà xem nhẹ nội lực; hoặc chỉ dựa vào nội lực mà xem nhẹ việc tranh thủ sức mạnh của thời đại. Mùa Thu năm 1945 cho thấy nghệ thuật kết hợp sức mạnh dân tộc với điều kiện quốc tế thuận lợi; nhưng yếu tố quyết định vẫn là sự chủ động, tự lực và sức mạnh của chính nhân dân Việt Nam.

Đoàn kết - từ bài học lịch sử thành sức mạnh của tương lai

Mùa Thu năm 1945 đã chứng minh một điều tưởng như giản dị nhưng có ý nghĩa chiến lược: Khi lòng dân đồng thuận, ý chí dân tộc được khơi dậy, sức mạnh nhân dân được tổ chức và đặt dưới sự lãnh đạo đúng đắn, thì một dân tộc dù phải đối mặt với những thử thách khắc nghiệt vẫn có thể tạo nên những bước ngoặt lịch sử. Bài học ấy không nằm nguyên trong quá khứ. Nó hiện diện trong từng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Nếu năm 1945, đoàn kết toàn dân là sức mạnh để giành lấy độc lập, thì trong thời đại mới, đại đoàn kết phải trở thành sức mạnh để giữ vững độc lập, phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân và đưa Việt Nam vươn lên. Vì thế, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc không phải là công việc trước mắt hay một khẩu hiệu vận động quần chúng đơn thuần. Đó là chiến lược lâu dài, là nguồn lực nội sinh, là nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia.

Từ Quảng trường Ba Đình mùa Thu 1945 đến hành trình xây dựng đất nước hôm nay, sợi chỉ đỏ xuyên suốt vẫn là lòng dân. Khi Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, Nhà nước thực sự vì nhân dân phục vụ, mọi tầng lớp nhân dân đồng tâm vì lợi ích quốc gia - dân tộc, thì sức mạnh đại đoàn kết sẽ tiếp tục trở thành “thành trì” vững chắc nhất của độc lập, tự do và phát triển. Mùa Thu năm 1945 đã làm nên một cuộc đổi đời của dân tộc. Mùa Thu hôm nay phải tiếp tục khơi dậy sức dân, quy tụ lòng dân, nhân lên đồng thuận xã hội để làm nên một cuộc bứt phá mới, vì một Việt Nam độc lập, tự cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc và vững bước tiến vào tương lai.

Address

Da Nang

Telephone

+842363921637

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Quân Sự Phường Sơn Trà posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Quân Sự Phường Sơn Trà:

Shortcuts

Share