Hoa Hạnh Phúc

Hoa Hạnh Phúc 🌸 Hoa nở vì những điều tích cực, nói không với tin xấu độc 🌸

Tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Nga trong kỷ nguyên mớiNhận lời mời của Tổng thống Liên bang ...
08/09/2026

Tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Nga trong kỷ nguyên mới

Nhận lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga.

Là chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên tới Liên bang Nga của người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta kể từ năm 1991, đồng thời diễn ra sau thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, kiện toàn các chức danh lãnh đạo sau bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, chuyến thăm mang dấu ấn lịch sử đặc biệt quan trọng đối với quan hệ Việt Nam - Nga. Chuyến thăm khẳng định Việt Nam tiếp tục tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác chiến lược toàn diện với Liên bang Nga trong kỷ nguyên phát triển mới.

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân được kỳ vọng tạo dấu mốc mới và bước chuyển biến chiến lược trong hợp tác song phương, làm sâu sắc hơn nữa lòng tin chiến lược, tình cảm hữu nghị thủy chung đặc biệt giữa Việt Nam và Liên bang Nga; đồng thời thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực như khoa học-công nghệ, đào tạo, năng lượng, dầu khí, văn hóa, du lịch, hợp tác địa phương… Chuyến thăm cũng góp phần thắt chặt mối quan hệ giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các nhà lãnh đạo Liên bang Nga.

Tình hữu nghị Việt-Nga: Hơn 75 năm đồng hành cùng phát triển

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga có bề dày hơn 75 năm phát triển kể từ khi hai bên chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1950. Mối quan hệ này được vun đắp và ngày càng gặt hái nhiều thành tựu dựa trên nền tảng là tình đồng chí, sự chia sẻ, hỗ trợ vô tư và chân thành giữa nhân dân hai nước trong quá khứ. Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của Liên Xô trước đây và nước Nga ngày nay đối với sự nghiệp giành độc lập dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước của Việt Nam.

Trên nền tảng quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam và Liên bang Nga mong muốn khai thác tối đa thế mạnh của hai bên để phục vụ cho giai đoạn phát triển mới của mỗi nước. Nga coi Việt Nam là đối tác quan trọng tại Đông Nam Á và châu Á-Thái Bình Dương.

Hai bên thường xuyên tiến hành trao đổi đoàn và tiếp xúc các cấp, các kênh, phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong các vấn đề quốc tế. Ngày 10/5/2025, hai bên thông qua Tuyên bố chung về những định hướng lớn của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Nga trong giai đoạn hợp tác mới.

Quan hệ chính trị Việt-Nga có độ tin cậy cao và không ngừng được củng cố. Trao đổi đoàn cấp cao diễn ra thường xuyên, tạo động lực mạnh mẽ cho việc phát triển quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước. Hai nước thường xuyên trao đổi nhiều đoàn cấp Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng và lãnh đạo các địa phương.

Tình cảm gắn bó giữa hai nước không chỉ xuất phát từ sự ủng hộ, hợp tác chặt chẽ về chính trị, kinh tế và nhiều lĩnh vực khác, mà còn từ sự đồng điệu trong tâm hồn giữa người dân hai nước. Các thế hệ du học sinh Việt Nam tại Nga luôn dành cho nước Nga một tình cảm đặc biệt, sâu sắc. Nhiều tác phẩm văn học của những tên tuổi lớn đến từ Xứ sở Bạch dương đã trở nên quen thuộc đối với người Việt Nam.

Triển vọng hợp tác rộng mở

Thời gian qua, quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga đã gặt hái những thành tựu tích cực. Theo Thứ trưởng Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng, Việt Nam và Liên bang Nga có mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đã được nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp trong suốt hơn 75 năm qua. Quan hệ hai nước có độ tin cậy chính trị rất cao, nền tảng xã hội sâu rộng, đã được tôi luyện qua thời gian và những biến động của lịch sử. Thời gian qua, quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Liên bang Nga tiếp tục phát triển năng động và đạt được nhiều kết quả hết sức tích cực.

Hai nước duy trì cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học-kỹ thuật, thành lập từ năm 1992 và được nâng cấp lên cấp Phó Thủ tướng từ năm 2011. Ủy ban liên Chính phủ họp thường niên. Khóa họp lần thứ 25 được tổ chức tại Nga vào tháng 9/2024. Việt Nam và các nước Liên minh Kinh tế Á-Âu, mà Nga là thành viên, đã chính thức ký Hiệp định Thương mại tự do vào ngày 29/5/2015, có hiệu lực từ ngày 05/10/2016.

Kim ngạch trao đổi thương mại song phương trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt 3,24 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2025. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Nga gồm: điện thoại, điện tử, dệt may, giầy dép, nông, thủy, hải sản các loại…; các mặt hàng nhập khẩu chính gồm: than đá, lúa mì, sắt thép, phân bón, ô-tô, máy móc, thiết bị các loại…

Về đầu tư, tính đến tháng 7/2026, phía Nga hiện có 223 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký khoảng 996,4 triệu USD, đứng thứ 28 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam có 19 dự án đầu tư sang Nga còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 1,64 tỷ USD, xếp thứ 4/88 quốc gia và vùng lãnh thổ Việt Nam có đầu tư, trong đó có Liên doanh dầu khí Rusvietpetro, Dự án chăn nuôi bò sữa và nông nghiệp của Tập đoàn TH…
Hai bên phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn đa phương và tổ chức quốc tế. Nga ủng hộ lập trường của Việt Nam về giải quyết tranh chấp tại Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Các hoạt động giao lưu văn hóa giữa hai nước được tổ chức thường xuyên, góp phần tăng cường hiểu biết và hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Nga. Hai bên tổ chức thường niên và luân phiên Những Ngày Văn hóa tại Việt Nam và Nga.

Du lịch phục hồi mạnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đón 742.000 lượt khách Nga, gấp 2,8 lần so với mức cùng kỳ năm 2025. Các hãng hàng không Việt Nam và Nga đã nối lại đường bay thẳng giữa các thành phố hai nước.

Về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo, trước đây, Liên Xô đã giúp Việt Nam đào tạo gần 40.000 cán bộ và chuyên gia giỏi thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau. Từ năm 2019, Nga đã tăng số học bổng lên khoảng 1.000 suất/niên học. Hiện có khoảng hơn 3.000 sinh viên Việt Nam du học tại Nga.

Hợp tác khoa học - công nghệ đang được hai nước quan tâm thúc đẩy. Hai nước đã thực hiện các dự án nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Hợp tác nghiên cứu khoa học trong khuôn khổ Trung tâm Nhiệt đới tại Việt Nam mang lại nhiều kết quả tích cực. Hai bên đang triển khai dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học và công nghệ hạt nhân và tổ chức các hoạt động trong khuôn khổ Năm chéo 2026 về hợp tác khoa học và giáo dục.

Hợp tác địa phương tiếp tục được duy trì thông qua trao đổi đoàn và ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác. Có khoảng 20 cặp quan hệ giữa các địa phương hai nước được thiết lập, đặc biệt giữa Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Moskva, Saint Petersburg.

Cộng đồng người Việt Nam tại Nga, với gần 80.000 người, đã và đang có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của hai nước và quan hệ song phương, luôn đi đầu trong các hoạt động từ thiện.

Theo Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga Đặng Minh Khôi, nhờ nỗ lực chung của cả hai bên, hợp tác Việt Nam-Liên bang Nga thời gian qua đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Quan hệ chính trị tin cậy không ngừng được tăng cường, trao đổi đoàn, tiếp xúc, đối thoại các cấp, đặc biệt cấp cao, diễn ra thường xuyên. Thương mại song phương đang lấy lại đà tăng trưởng tích cực. Hợp tác năng lượng, dầu khí được mở rộng. Hợp tác du lịch phục hồi mạnh mẽ, phát triển vượt bậc trong 2 năm trở lại đây. Hợp tác văn hóa có bước đột phá. Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo có nhiều kết quả thực chất, nhiều sinh viên Việt Nam đã lựa chọn Liên bang Nga là điểm đến du học ưa thích. Đại sứ cho rằng, những kết quả đã đạt được rất đáng mừng nhưng tiềm năng hợp tác giữa hai nước còn rất nhiều. Trong bối cảnh đó, chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Liên bang Nga lần này là cơ hội rất tốt để lãnh đạo cấp cao nhất hai nước cùng trao đổi về những phương hướng lớn tăng cường hơn nữa hợp tác song phương.

Nguồn: Báo Nhân Dân
Ảnh: Trong chương trình thăm chính thức Liên bang Nga, ngày 10/5/2025, tại Điện Kremlin ở thủ đô Moskva, Tổng Bí thư Tô Lâm hội đàm hẹp với Tổng thống Nga Vladimir Putin. (TTXVN)










17/08/2026

Thông tin vụ tai nạn giao thông tại đường Nguyễn Huy Tự, Hà Nội

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mớiTrong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh ...
17/08/2026

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mới

Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh xác định đầu tư kết cấu hạ tầng là một trong ba đột phá chiến lược, tạo nền tảng mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng (GPMB), thủ tục đầu tư và nguồn lực triển khai, tỉnh vẫn tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các dự án giao thông, cảng biển và hạ tầng kinh tế trọng điểm, qua đó tạo thêm dư địa để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 13% trong năm 2026.

Trong nhiều năm qua, Quảng Ninh dành ưu tiên cao cho phát triển kết cấu hạ tầng, coi đây không chỉ là điều kiện nâng cao khả năng kết nối vùng, thu hút đầu tư mà còn là yếu tố quan trọng để hình thành các động lực tăng trưởng mới. Kết quả đầu tư những tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy định hướng này. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 61.300 tỷ đồng, tăng 16,4%, qua đó tạo nền tảng để tỉnh phấn đấu hoàn thành mục tiêu cả năm tăng 13%.

Điểm đáng chú ý là nguồn lực đang được tập trung vào các công trình có tính chất động lực, có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Nhiều dự án giao thông, cảng biển, logistics và hạ tầng kinh tế trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, đồng thời các vướng mắc về thủ tục, GPMB, vật liệu và nguồn lực đầu tư được tập trung tháo gỡ.

Trong nhóm dự án ngoài ngân sách, Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh (giai đoạn 1) đang được tỉnh đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, các sở, ngành, Ban Quản lý Khu kinh tế và UBND phường Móng Cái 2 liên tục kiểm tra hiện trường, hướng dẫn chủ đầu tư hoàn thiện các thủ tục, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn liên quan đến nguồn vật liệu san lấp và tiến độ thi công. Ban Quản lý Khu kinh tế đã yêu cầu chủ đầu tư rà soát tổng thể tiến độ, xây dựng kế hoạch chi tiết và cam kết hoàn thành toàn bộ dự án trong tháng 12/2026.

Cùng với Vạn Ninh, Bến cảng tổng hợp Con Ong - Hòn Nét được xác định là dự án có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển hệ thống cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Theo Quyết định số 860/QĐ-BXD ngày 19/6/2025 của Bộ Xây dựng, khu bến được quy hoạch phát triển thành khu bến cảng tổng hợp, container và hàng rời, gồm 2 cầu cảng, công suất khoảng 4,5-6 triệu tấn/năm vào năm 2030, hướng tới hình thành cảng trung chuyển quốc tế phía Bắc. Tuy nhiên, do yêu cầu về quy mô đầu tư, hạ tầng kết nối và nguồn lực rất lớn, đến nay dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư. Trước thực tế này, Quảng Ninh đang chủ động tìm kiếm các giải pháp nâng cao tính hấp dẫn của dự án, trong đó phối hợp với Viện Hàng hải Đông Bắc (Hoa Kỳ) nghiên cứu định hướng phát triển hạ tầng cảng biển; đồng thời đề xuất Bộ Xây dựng hỗ trợ đầu tư nạo vét luồng Cẩm Phả vào khu vực cảng Hòn Nét - Con Ong.

Việc tháo gỡ từng điểm nghẽn, chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng kết nối và điều kiện khai thác được kỳ vọng sẽ tạo thêm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược, từng bước phát huy lợi thế về vị trí cửa ngõ, cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Qua đó, những công trình hạ tầng trọng điểm không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại mà còn góp phần mở rộng không gian kinh tế, tạo thêm động lực tăng trưởng cho tỉnh trong giai đoạn 2026-2030.

Song hành với việc đầu tư vào các công trình hạ tầng lớn, Quảng Ninh đang chú trọng nâng cấp, hoàn thiện hệ thống luồng hàng hải, qua đó nâng cao năng lực khai thác cảng biển và kết nối logistics. Các dự án nâng cấp tuyến luồng sông Chanh, duy tu luồng Cẩm Phả và luồng Hòn G*i - Cái Lân đã được Bộ Xây dựng đưa vào danh mục rà soát kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Hiện Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang triển khai các thủ tục để thực hiện nạo vét, duy tu các tuyến luồng trong năm 2026 và đầu năm 2027.

Đáng chú ý, các dự án hạ tầng đang được triển khai có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống quy hoạch chiến lược được tỉnh công bố ngày 30/6/2026, gồm: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh; Quy hoạch Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh tổ chức lại không gian phát triển, mở rộng các khu vực đô thị, công nghiệp, logistics và kinh tế biển theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Đặc biệt, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất bổ sung tuyến cao tốc kết nối cao tốc Hải Phòng - Hạ Long với đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Nếu được đầu tư, tuyến kết nối này sẽ mở thêm hướng liên kết giữa Quảng Ninh với vùng thủ đô và các trung tâm kinh tế lớn phía Bắc, qua đó tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển công nghiệp, logistics, thương mại và đô thị.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, mỗi công trình hạ tầng hoàn thành không chỉ giải quyết nhu cầu giao thông, vận tải trước mắt mà còn tạo ra những không gian phát triển mới. Cao tốc mở rộng khả năng kết nối và thu hút đầu tư; cảng biển nâng cao năng lực xuất nhập khẩu; các khu công nghiệp tạo thêm mặt bằng cho sản xuất; trong khi hệ thống logistics đồng bộ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực.

Trên nền tảng đó, thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các công trình động lực; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong giải quyết thủ tục đầu tư, GPMB; nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong thực hiện cam kết tiến độ. Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, tỉnh chủ động làm việc với các bộ, ngành Trung ương để kịp thời tháo gỡ. Cùng với đó, đẩy mạnh xúc tiến, thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực hạ tầng, cảng biển và logistics, từng bước biến lợi thế về vị trí, kết nối và kinh tế biển thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho Quảng Ninh phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.





Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc giaPhát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn...
17/08/2026

Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc gia

Phát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn, đúng đắn, làm trục xương sống cho sự phát triển đất nước. Để chủ trương ấy thành công và bền vững, cần kiên định tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền công nghệ như một bộ phận của chủ quyền quốc gia, thông qua quản trị công nghệ hiệu quả, thực chất trong toàn bộ dự án.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra mười hai định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, và nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” như một định hướng nền tảng. Trong dòng chảy ấy, chủ trương phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao quốc gia là nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa làm trục xương sống cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Có thể khẳng định, đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời và mang tầm nhìn chiến lược. Ngày 30-11-2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, với chiều dài khoảng 1.541km, đường đôi khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế 350km/giờ, tải trọng 22,5 tấn/trục, tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,713 triệu tỷ đồng, dự kiến hoàn thành năm 2035.

Ngay trong mục tiêu nền tảng, Nghị quyết đã đặt yêu cầu gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngang hàng hiệu quả kinh tế-một tư duy sâu sắc về vai trò chiến lược của hạ tầng giao thông đối với vận mệnh quốc gia. Chủ trương ấy không đứng đơn lẻ, mà nằm trong một hệ thống chính sách nhất quán, thể hiện sự lãnh đạo bài bản của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở định hướng của Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23-1-2026 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, hệ thống đó cũng kế thừa và bổ sung từ Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về tuyến Bắc-Nam và Nghị quyết số 187/2025/QH15 về tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đưa công nghệ đường sắt tốc độ cao vào danh mục mười nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Tầm nhìn không dừng ở một tuyến, mà hướng tới cả một mạng lưới hiện đại, đồng bộ. Từ chuỗi các nghị quyết, căn cứ pháp lý được thông qua và ban hành đã khẳng định nỗ lực triển khai quyết liệt những chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả trong thực tiễn và đảm bảo các mục tiêu chiến lược đề ra, cần xem xét mạng lưới đường sắt tốc độ cao trong bối cảnh chủ quyền, an ninh quốc gia, đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề về chủ quyền công nghệ.

Trong thời đại số, chủ quyền quốc gia không chỉ là chủ quyền về lãnh thổ, biển đảo, vùng trời, mà còn bao hàm chủ quyền công nghệ - quyền và năng lực tự quyết của đất nước đối với những công nghệ chiến lược, không bị lệ thuộc đến mức bị chi phối từ bên ngoài. Với một hạ tầng huyết mạch như đường sắt tốc độ cao, làm chủ công nghệ chính là một phương diện thiết yếu của bảo vệ chủ quyền. Tự chủ công nghệ là phương thức; chủ quyền công nghệ là mục tiêu và là trạng thái cần đạt tới. Kiên định tự chủ công nghệ, do đó, không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để bảo đảm đất nước nắm vững vận mệnh của chính mình.

Bảo đảm chủ quyền công nghệ có thể thông qua con đường: Tiếp cận và triển khai một cách bài bản, khoa học công tác dự báo công nghệ và quản trị công nghệ. Dự báo công nghệ là năng lực nhìn xa có cơ sở khoa học - nhận diện quỹ đạo phát triển của từng phân hệ, lường trước rủi ro phụ thuộc, chuẩn bị cho nhiều kịch bản trước khi lựa chọn. Quản trị công nghệ là năng lực làm chủ - biến dự báo thành các điều khoản chuyển giao chặt chẽ, khả thi về kinh tế và lợi ích các bên tham gia, đồng thời kiên định về mục tiêu chiến lược, hình thành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chương trình đào tạo nhân lực và lộ trình nội địa hóa cụ thể. Với một dự án vận hành nhiều thập kỷ, mỗi quyết định công nghệ hôm nay ràng buộc hiệu năng, an toàn và mức tự chủ của đất nước về sau. Vì vậy phải quản trị bằng phương pháp khoa học, thực chất, xuyên suốt toàn bộ dự án.

Đường sắt tốc độ cao là hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, chạy dọc sống lưng đất nước; vì thế các dự án gắn bó hữu cơ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

Trong thời đại số, hệ thống thông tin - tín hiệu và điều khiển là bộ não của toàn tuyến, cần được bảo vệ tuyệt đối trước các nguy cơ an ninh khác nhau. Một hệ thống mà đất nước không nắm được khả năng kiểm tra, giám sát độc lập sẽ tiềm ẩn rủi ro chủ quyền. Do đó, quản trị công nghệ phải đặt lên hàng đầu, yêu cầu làm chủ khả năng giám sát hệ thống tín hiệu, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và chủ quyền dữ liệu vận hành. Chủ trương của Chính phủ về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đường sắt, tích hợp yêu cầu an toàn và an ninh ngay từ đầu, vì thế là hết sức đúng đắn và cần triển khai khẩn trương.

Thực tiễn đang chứng minh tính đúng đắn của chủ trương. Ngày 19-12-2025, tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành-Cần Giờ tại Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công, dài hơn 54km, khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ. Ngày 12-4-2026, tuyến Cổ Loa-Hạ Long nối Hà Nội với Quảng Ninh chính thức khởi công, dài khoảng 120km, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ, dự kiến sử dụng đoàn tàu thế hệ mới và hệ thống tín hiệu của đối tác quốc tế gắn với thỏa thuận chuyển giao công nghệ. Việc doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư những công trình tầm vóc như vậy thể hiện đúng tinh thần Đại hội XIV về phát huy nội lực và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.

Điều có ý nghĩa nhất về công nghệ là: Các tuyến này, cùng trục Bắc-Nam, đều theo khổ tiêu chuẩn 1.435mm và tốc độ tối đa 350km/giờ, song Việt Nam kỳ vọng có thể dùng những giải pháp và nhà cung cấp khác nhau. Khi đất nước hình thành cả một mạng lưới do nhiều chủ đầu tư, nhiều đối tác từ các quốc gia khác nhau triển khai, bài toán liên thông, tích hợp đồng bộ và an toàn trên toàn hệ thống trở nên cấp thiết. Hiệu năng và an ninh của toàn mạng lưới không phụ thuộc vào riêng một tuyến, mà vào năng lực dự báo và quản trị công nghệ ở tầm quốc gia. Đa dạng hóa có thể áp dụng ở tầng xây dựng hạ tầng, cung cấp toa xe, thiết bị phụ trợ; nhưng tầng kiến trúc lõi, hệ thống thông tin - tín hiệu điều khiển của trục xương sống Bắc - Nam bắt buộc phải tuân thủ một chuẩn thống nhất tuyệt đối ở tầm quốc gia để bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và an toàn vận hành. Nếu Nhà nước chủ động làm chủ kiến trúc hệ thống và bộ tiêu chuẩn giao diện chung từ sớm, có mô hình và phương pháp quản trị công nghệ khoa học, thì sự đa dạng nhà cung cấp lại trở thành lợi thế giúp tránh phụ thuộc, vừa bảo đảm liên thông, vừa giữ vững chủ quyền công nghệ.

Khi hai tuyến Bến Thành-Cần Giờ và Cổ Loa-Hạ Long đã đồng loạt khởi động, việc khẩn trương đưa trục xương sống Bắc-Nam vào triển khai đúng tiến độ, với mục tiêu khởi công vào tháng 12-2026, càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, mà còn tạo hiệu ứng cộng hưởng, hình thành một thị trường và một ngành công nghiệp đường sắt nội địa đủ lớn để việc làm chủ công nghệ trở nên khả thi về quy mô. Càng triển khai sớm, đồng bộ và bài bản, đất nước càng sớm tích lũy năng lực và càng giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Tinh thần kiên định tự chủ công nghệ phải được quán triệt: Chuyển giao công nghệ là điều kiện tiên quyết khi chọn đối tác, gắn với mục tiêu tăng dần tỷ lệ nội địa hóa, tiến tới tự chủ chiến lược.

Thước đo cuối cùng của thành công không chỉ là những chuyến tàu chạy đúng giờ trong năm đầu, mà là việc sau mười, hai mươi năm, đất nước tự sản xuất được bao nhiêu bộ phận, tự bảo trì và bảo đảm an ninh được bao nhiêu cấu phần trong các đại dự án, tự kết nối liên thông được cả mạng lưới đến đâu. Khi ấy, nguồn vốn đầu tư khổng lồ không chỉ tạo nên những tuyến đường, mà còn kiến tạo một năng lực công nghệ quốc gia mới, đúng tinh thần phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả và tự chủ mà Đại hội XIV đã đề ra.

Phát huy khí thế và niềm tin từ thành công của Đại hội XIV, với tinh thần “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, có thể khẳng định và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự đồng thuận của nhân dân và bằng việc coi trọng đúng mức, vận dụng khoa học công tác dự báo, quản trị công nghệ, dự án đường sắt tốc độ cao sẽ được triển khai thành công, hiệu quả, bền vững và an toàn. Đó vừa là trục xương sống cho phát triển, vừa là biểu tượng của khát vọng tự lực, tự cường và ý chí làm chủ công nghệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn toàn tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Nguồn: Báo QĐND

Tác giả: TRẦN VŨ TUẤN PHAN, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ






Cựu Phó đại sứ Australia: Việt Nam là câu chuyện thành công nổi bật của khu vực(Dân trí) - Theo ông Layton Pike, cựu Phó...
10/08/2026

Cựu Phó đại sứ Australia: Việt Nam là câu chuyện thành công nổi bật của khu vực

(Dân trí) - Theo ông Layton Pike, cựu Phó đại sứ Australia tại Việt Nam, tốc độ chuyển mình, cam kết cải cách cùng năng lượng, khát vọng của người dân đang tạo nền tảng để Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong những thập niên tới.

Nhận lời mời của Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand từ ngày 9 đến ngày 14/8.

Trước thềm chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia, Dân trí đã thực hiện cuộc phỏng vấn với ông Layton Pike, cựu Phó Đại sứ Australia tại Việt Nam, thành viên Hội đồng Cố vấn thuộc Viện Chính sách Australia - Việt Nam (AVPI).

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sắp có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia. Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của chuyến thăm này?

- Chuyến thăm Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chuyến thăm phản ánh tầm quan trọng ngày càng tăng của quan hệ Australia - Việt Nam cũng như mức độ tin cậy cao đã được vun đắp giữa hai nước. Trong bối cảnh quan hệ song phương tiếp tục mở rộng trên nhiều lĩnh vực then chốt, các hoạt động tiếp xúc cấp cao đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì động lực phát triển và tăng cường hợp tác.

Đặc biệt, chuyến thăm gửi tín hiệu tích cực tới cộng đồng doanh nghiệp, các trường đại học, nhà đầu tư và người dân của cả Australia và Việt Nam rằng chính phủ hai nước đều cam kết làm sâu sắc hơn mối quan hệ hợp tác lâu dài.

Ông đánh giá như thế nào về thời điểm diễn ra chuyến thăm và ông kỳ vọng chuyến thăm sẽ mang lại những kết quả gì?

- Đây là thời điểm quan trọng và thuận lợi khi cả hai quốc gia đều đang tập trung tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế, xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu tương lai, đồng thời thích ứng với những chuyển đổi lớn về công nghệ và năng lượng. Chuyến thăm sẽ mở ra thêm nhiều cơ hội về thương mại, đầu tư và củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh giữa hai nước.

Chuyến thăm cũng tạo cơ hội tăng cường hợp tác trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và quá trình chuyển đổi xanh trên diện rộng, bao gồm các hoạt động nghiên cứu, phát triển nguồn nhân lực và triển khai các dự án.

Quan trọng không kém là các sáng kiến nhằm tăng cường giao lưu nhân dân thông qua mạng lưới cựu du học sinh, các chương trình trao đổi sinh viên và trao đổi chuyên môn. Những kết nối này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự gắn kết lâu dài giữa Australia và Việt Nam.

Theo ông, chuyến thăm có thể tạo xung lực nào để đưa Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Australia vào thực chất?

- Cơ hội lớn nhất là chuyển trọng tâm từ việc xây dựng khuôn khổ và định hướng sang triển khai và thực thi trên thực tế. Chuyến thăm này cũng có thể góp phần thúc đẩy các quan hệ đối tác giữa chính phủ, các trường đại học, doanh nghiệp và các viện nghiên cứu trong những lĩnh vực ưu tiên chung.

Quan trọng hơn, chuyến thăm có thể giúp củng cố mạng lưới kết nối giữa các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu và cộng đồng, từ đó xây dựng những mối quan hệ làm nền tảng cho hợp tác lâu dài.

Tại Viện Chính sách Australia - Việt Nam, chúng tôi vui mừng tiếp tục đóng góp vào quá trình phát triển của quan hệ song phương thông qua việc thúc đẩy đối thoại có cơ sở, tăng cường nghiên cứu và mở rộng hợp tác giữa Australia và Việt Nam.

Tiềm năng hợp tác trên nhiều lĩnh vực

Ông đã đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau trong tiến trình thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Australia, từ ngoại giao đến giáo dục và nghiên cứu chính sách. Ông đánh giá như thế nào về sự phát triển hiện nay của quan hệ Việt Nam - Australia?

- Australia và Việt Nam đang bước vào một giai đoạn đặc biệt đầy hứa hẹn và tham vọng trong quan hệ song phương sau khi hai nước ký kết Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện vào năm 2024. Dấu mốc quan trọng này đã tạo ra một nền tảng vững chắc để thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn trong các lĩnh vực như khả năng chống chịu của nền kinh tế, giáo dục, đổi mới sáng tạo, ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh và giao lưu nhân dân.

Australia và Việt Nam có sự tin cậy sâu sắc, đồng thời mối quan hệ song phương được xây dựng trên những thế mạnh có tính bổ trợ cao cho nhau, tạo nền tảng vững chắc cho sự hợp tác trong tương lai.

Cơ hội hiện nay là biến những cam kết trong khuôn khổ Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện thành các kết quả thiết thực mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, học sinh - sinh viên, các nhà nghiên cứu và người dân hai nước.

Theo ông, những lĩnh vực nào có tiềm năng lớn nhất để tạo ra bước đột phá trong quan hệ song phương vào những năm tới?

- Tôi nhận thấy tiềm năng đặc biệt trong các lĩnh vực: thương mại - đầu tư có giá trị cao và có khả năng chống chịu tốt hơn; giáo dục và phát triển kỹ năng; quan hệ đối tác về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo; năng lượng sạch, khoáng sản thiết yếu và chuỗi cung ứng bền vững; cùng với việc tăng cường kết nối giữa mạng lưới các cựu du học sinh, cộng đồng doanh nghiệp, giới chuyên môn và các mạng lưới cộng đồng.

Giáo dục cần tiếp tục giữ vai trò trọng tâm. Australia và Việt Nam có thể phát huy nền tảng hợp tác lâu dài thông qua các chương trình liên kết, đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn của ngành và nghiên cứu trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi số, sản xuất tiên tiến, y tế, năng lượng tái tạo và nông nghiệp bền vững.

Chuyển đổi xanh đang nổi lên như một trụ cột then chốt của quan hệ đối tác Australia - Việt Nam. Năng lực của Australia trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, khoáng sản thiết yếu và quản lý môi trường có thể bổ trợ hiệu quả cho nhu cầu của Việt Nam về nguồn năng lượng ổn định, có chi phí hợp lý nhằm hỗ trợ phát triển công nghiệp và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0.

Việt Nam đang đặt mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, trong khi Australia có nhiều thế mạnh về giáo dục, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. Ông nhìn nhận như thế nào về khả năng hai nước bổ trợ cho nhau để đạt được các mục tiêu phát triển dài hạn?

- Khát vọng trở thành quốc gia có thu nhập cao của Việt Nam rất phù hợp với các thế mạnh của Australia trong lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển kỹ năng. Australia có thể đóng góp cho hành trình này thông qua việc nâng cao năng lực bằng các chương trình hợp tác giáo dục đại học, nghiên cứu chung và các sáng kiến phát triển lực lượng lao động.

Đồng thời, thế mạnh nghiên cứu của Australia và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đang phát triển nhanh của Việt Nam tạo ra những cơ hội hợp tác rất lớn. Hai nước có thể hợp tác trong các lĩnh vực hướng tới tương lai như trí tuệ nhân tạo (AI), chất bán dẫn, sản xuất tiên tiến, năng lượng tái tạo, y tế và nông nghiệp bền vững.

Trong bối cảnh khu vực và thế giới biến động nhanh, điều gì khiến Việt Nam và Australia ngày càng cần nhau hơn trong 5-10 năm tới, thưa ông?

- Cả Australia và Việt Nam đều đang thích ứng với những chuyển dịch lớn trên toàn cầu. Các mối quan hệ đối tác về thương mại và đầu tư có khả năng chống chịu cao hơn sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với an ninh kinh tế và tăng trưởng. Hợp tác trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển kỹ năng sẽ giúp cả hai nước duy trì năng lực cạnh tranh trong một khu vực đang thay đổi nhanh chóng.

Quá trình chuyển đổi sang năng lượng xanh mở ra nhiều cơ hội hợp tác thiết thực trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, khoáng sản thiết yếu và phát triển bền vững. Mối liên kết sâu rộng giữa người dân hai nước, bao gồm mạng lưới cựu du học sinh, sinh viên, các chuyên gia và cộng đồng người Việt tại Australia, tạo nên nền tảng tin cậy và giá trị hơn trong những năm tới.

Australia và Việt Nam có thể cùng nhau đóng góp vào việc xây dựng một khu vực có khả năng chống chịu tốt hơn, thịnh vượng hơn và gắn kết hơn.

Theo ông, Việt Nam cần tập trung vào điều gì để có thể phát huy trọn vẹn tiềm năng của mình?

- Trong những thập niên gần đây, Việt Nam đã đạt được những bước tiến vượt bậc về kinh tế - xã hội và sở hữu tiềm năng to lớn cho sự phát triển trong tương lai. Điều đặc biệt ấn tượng là Việt Nam có thể kết hợp giữa mục tiêu phát triển kinh tế đầy tham vọng và tinh thần lạc quan mạnh mẽ hướng tới tương lai.

Trên hành trình hướng tới các mục tiêu phát triển dài hạn, việc tiếp tục đầu tư vào giáo dục, kỹ năng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ vẫn là yếu tố then chốt. Những quốc gia thành công trong tương lai sẽ là những nước không chỉ đầu tư vào hạ tầng và công nghệ mà còn đầu tư vào con người.

Tài sản lớn nhất của Việt Nam chính là con người. Năng lượng, khát vọng và sự kiên cường của người Việt Nam đã đóng vai trò trung tâm trong những thành công của đất nước cho đến nay. Tôi tin rằng đó cũng sẽ là chìa khóa để Việt Nam phát huy tối đa tiềm năng của mình trong những thập niên tới.

Các chuyên gia Australia hỗ trợ các doanh nghiệp của Việt Nam khám phá các giải pháp bền vững cho những thách thức về rác thải nhựa (Ảnh: Đại sứ quán Australia tại Việt Nam).

Giao lưu nhân dân là cốt lõi của quan hệ song phương

Nhiều chuyên gia cho rằng một mối quan hệ song phương bền vững phải được xây dựng trên sự thấu hiểu lẫn nhau giữa người dân hai nước. Theo ông, làm thế nào để tiếp tục tăng cường hơn nữa sự gắn kết giữa người dân Việt Nam và Australia?

- Giao lưu nhân dân là cốt lõi của quan hệ Australia - Việt Nam. Mặc dù thương mại, đầu tư và quan hệ hợp tác giữa hai chính phủ rất quan trọng, nhưng chính mối quan hệ giữa các cá nhân, gia đình, sinh viên, nhà nghiên cứu, doanh nhân và các cộng đồng mới là yếu tố tạo nên sức mạnh và khả năng chống chịu của quan hệ đối tác.

Giáo dục là một trong những cách hiệu quả nhất để xây dựng những kết nối này. Việc mở rộng trao đổi sinh viên, hợp tác nghiên cứu và giáo dục xuyên quốc gia tạo cơ hội để người dân hai nước học hỏi lẫn nhau, xây dựng tình hữu nghị bền chặt và hiểu sâu sắc hơn về văn hóa cũng như góc nhìn của nhau.

Mạng lưới cựu du học sinh cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những người từng học tập tại hai quốc gia có thể trở thành các nhà lãnh đạo trong nhiều lĩnh vực như kinh doanh, quản trị, giáo dục và cộng đồng, từ đó tạo nên những mối liên kết lâu dài giúp củng cố quan hệ song phương theo thời gian.

Khi Việt Nam tiếp tục phát triển và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong khu vực, việc đầu tư vào các mối liên kết giữa người dân hai nước sẽ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Những kết nối này giúp xây dựng lòng tin, tạo ra cơ hội hợp tác và bảo đảm quan hệ Australia - Việt Nam tiếp tục bền vững cho các thế hệ tương lai.

Một chuyên gia kinh tế gần đây có nhận định, trong mắt người dân Australia, hình ảnh Việt Nam đã chuyển dịch từ một “cuộc chiến tranh trong quá khứ” sang một “nền kinh tế năng động và điểm đến hấp dẫn”. Từ những quan sát cá nhân, ông nhìn nhận sự chuyển biến này diễn ra như thế nào?

- Tôi cho rằng sự thay đổi này phản ánh thực tế rằng Việt Nam và người dân Việt Nam luôn có tầm nhìn hướng về phía trước và tràn đầy tinh thần lạc quan. Thay vì bị định hình bởi quá khứ, Việt Nam tập trung vào cơ hội, tăng trưởng và tương lai. Chính tư duy đó là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế năng động mà chúng ta đang chứng kiến ngày nay.

Đồng thời, nền văn hóa đặc sắc, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và sự thân thiện, hiếu khách của người dân đã khiến Việt Nam trở thành điểm đến ngày càng hấp dẫn đối với du khách từ khắp nơi trên thế giới. Đối với nhiều người Australia, Việt Nam ngày nay không chỉ được biết đến qua lịch sử, mà còn được nhìn nhận là một quốc gia năng động, tự tin và phát triển nhanh chóng.

Câu chuyện thành công của Việt Nam

Ông từng giữ cương vị Phó Đại sứ Australia tại Việt Nam. Sau nhiều năm sinh sống và làm việc tại đây, điều gì ở Việt Nam khiến ông ấn tượng nhất? Việt Nam đã thay đổi như thế nào kể từ khi ông lần đầu đến đây?

- Điều khiến tôi ấn tượng nhất về Việt Nam là tốc độ thay đổi đáng kinh ngạc. Mỗi lần trở lại, tôi đều nhìn thấy những minh chứng rõ ràng cho sự chuyển mình của Việt Nam.

Kể từ lần đầu tiên đến Việt Nam vào năm 2016, tôi đã chứng kiến các thành phố phát triển mạnh mẽ với những tòa nhà cao tầng mới mọc lên, hệ thống đường sắt đô thị được xây dựng, cơ sở hạ tầng được cải thiện và ngày càng có nhiều không gian xanh.

Bên cạnh những thay đổi về diện mạo của Việt Nam, tôi cũng rất ấn tượng với cam kết cải cách của chính phủ và sự cởi mở trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Những chính sách này đã góp phần tạo nên một môi trường kinh doanh năng động và đưa Việt Nam trở thành một trong những câu chuyện thành công về kinh tế nổi bật nhất của khu vực.

Điều khiến quá trình chuyển đổi này trở nên đặc biệt ấn tượng là Việt Nam đã đạt được những thành tựu trong khi vẫn gìn giữ được bản sắc dân tộc, nền văn hóa và tinh thần lạc quan hướng tới tương lai.

Ông có thể chia sẻ một số kỷ niệm đáng nhớ nhất trong quãng thời gian sinh sống và làm việc tại Việt Nam?

- Tôi có rất nhiều kỷ niệm đẹp về khoảng thời gian sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Tôi yêu ẩm thực và văn hóa Việt Nam, đồng thời đã có cơ hội trải nghiệm sự đa dạng và vẻ đẹp của đất nước này trong suốt những năm qua.

Một trong những trải nghiệm đáng nhớ nhất của tôi là chuyến đi khám phá cung đường Hà Giang cùng con trai vào đầu năm nay. Được cùng con chia sẻ hành trình ấy và chiêm ngưỡng những cảnh quan hùng vĩ bậc nhất của Việt Nam là một trải nghiệm vô cùng đặc biệt.

Hơn tất cả, điều đọng lại sâu sắc nhất trong tôi là tinh thần lạc quan, kiên cường và ý chí vươn lên của người Việt Nam. Ở bất cứ nơi đâu, bạn cũng có thể cảm nhận được khát vọng mạnh mẽ và niềm tin vào tương lai của người Việt Nam. Theo tôi, chính tư duy tích cực và luôn hướng về phía trước ấy là động lực thực sự đứng sau những thành công nổi bật và sự tăng trưởng bền vững của Việt Nam.

Nếu gửi một thông điệp tới thế hệ trẻ của cả Việt Nam và Australia về tương lai quan hệ song phương, ông sẽ nói điều gì?

- Nếu được gửi một thông điệp tới các bạn trẻ của Việt Nam và Australia, tôi muốn nhấn mạnh rằng tương lai của quan hệ Australia - Việt Nam sẽ được định hình bởi chính thế hệ trẻ. Thanh niên của cả hai nước hiện có nhiều cơ hội hơn bao giờ hết để học tập, làm việc, đổi mới sáng tạo và hợp tác cùng nhau.

Sau cùng, những mối quan hệ đối tác bền vững nhất luôn được xây dựng bởi con người. Thế hệ trẻ của Australia và Việt Nam có cơ hội kiến tạo một mối quan hệ năng động, bền vững và hướng tới việc tạo ra những cơ hội chung cho tương lai.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Báo Dân trí









Address

Chon Thanh

Telephone

+84386769175

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hoa Hạnh Phúc posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Hoa Hạnh Phúc:

Shortcuts

Share