Đảng ủy Công ty Xổ số Đồng Nai

Đảng ủy Công ty Xổ số Đồng Nai Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Đảng ủy Công ty Xổ số Đồng Nai, Political organisation, 1894, Nguyễn Ái Quốc, Khu phố Bình Thiền, Phường Trấn Biên, Biên Hòa.

02/09/2026

Chào mừng Quốc khánh 2/9!
Cào vui - Trúng lớn cùng vé số cào Đồng Nai!

02/09/2026

Tuyên ngôn Độc lập: Văn kiện lịch sử vô giá

Cách đây tròn 81 năm, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc.

81 năm đã trôi qua, nhưng những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập về quyền con người, quyền dân tộc và sự thống nhất biện chứng giữa quyền con người và quyền dân tộc, về khát vọng và tinh thần đấu tranh kiên cường để giữ vững nền độc lập, tự do, vẫn vẹn nguyên tính thời sự, có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc.

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc


/9

02/09/2026
02/09/2026

Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, lấy người dân làm trung tâm

Văn phòng Trung ương Đảng đã ban hành Thông báo kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội.

Văn phòng Trung ương Đảng đã ban hành Thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế (Thông báo số 159-TB/VPTW, ngày 29/8/2026).

Sau đây là nội dung Thông báo số 159-TB/VPTW:

Ngày 25/8/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương[1] về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế. Sau khi nghe Đảng ủy Chính phủ báo cáo, ý kiến của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:

1. Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự chung sức của toàn xã hội, công tác an sinh xã hội đã đạt nhiều kết quả quan trọng, giúp ổn định xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Đến nay, cả nước có 99,1 triệu người tham gia bảo hiểm y tế (96,9% dân số); khoảng 2,5 triệu người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội; chính sách giảm nghèo, tín dụng, nhà ở, giáo dục, y tế, việc làm và cứu trợ thiên tai đã trở thành điểm tựa của hàng triệu gia đình.

Tuy nhiên, chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế vẫn còn nhiều bất cập; mức hưởng và chất lượng dịch vụ ở nhiều nơi còn hạn chế, nhiều người có thẻ bảo hiểm y tế nhưng ngại đi khám vì các thủ tục hành chính và chi phí liên quan; nhiều lao động phi chính thức, lao động nền tảng, lao động di cư... vẫn chưa được bảo vệ đầy đủ; khoảng cách phát triển giữa các vùng, các nhóm dân cư còn khá lớn.

Hiện nay, cả nước có hơn 17 triệu người cao tuổi, dự báo đến năm 2036, người từ 60 tuổi trở lên sẽ chiếm khoảng 20% dân số, Việt Nam đang đứng trước áp lực già hoá dân số, đặt ra những yêu cầu cấp bách về thu nhập, sức khoẻ và chăm sóc dài hạn.

Bên cạnh đó, tác động của thiên tai, dịch bệnh, tự động hoá và biến động thị trường lao động tạo ra những dạng tổn thương mới cho xã hội.

2. Tình hình đó đòi hỏi phải đổi mới tư duy, hoàn thiện các chính sách và tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả hơn với các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu như sau:

2.1. Về quan điểm

a) Bảo đảm an sinh xã hội là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội, là đầu tư cho con người và tương lai phát triển đất nước. Hiệu quả chính sách an sinh xã hội phải được đo lường bằng sức khoẻ, giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực, sự ổn định xã hội và niềm tin của Nhân dân.

b) An sinh xã hội phải bao phủ toàn dân, đồng thời ưu tiên nguồn lực cho những người yếu thế, nhất là trẻ em, người cao tuổi không có lương hưu, người khuyết tật, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người gặp thiên tai, mất việc làm, nạn nhân của bạo lực và những người không có khả năng tự bảo vệ.

c) An sinh bền vững phải dựa trên việc làm, thu nhập ổn định, khả năng tiếp cận nhà ở, y tế, giáo dục, dinh dưỡng, chăm sóc trẻ em và các dịch vụ thiết yếu.

d) Lấy người dân làm trung tâm; gia đình, cộng đồng làm nền tảng; cấp cơ sở là tuyến đầu hành động. Chính sách cần được thiết kế sát với thực tế, không bị chia cắt bởi địa giới hành chính hay cơ quan quản lý. Nhà nước phải chủ động phát hiện, hỗ trợ đúng người, đúng lúc, không yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin đã có.

đ) Bảo đảm hài hoà giữa công bằng và hiệu quả, nhân văn và kỷ luật, quyền lợi trước mắt và bền vững lâu dài; khắc phục tình trạng bình quân, dàn trải; không để những quy định "máy móc" loại những người thực sự khó khăn ra khỏi chính sách.

e) Đánh giá kết quả bằng những thay đổi thực chất trong đời sống và niềm tin của Nhân dân; không chỉ thống kê số văn bản, số người thụ hưởng hay số tiền đã chi, mà phải bảo đảm chính sách đến đúng người, kịp thời, giảm gánh nặng chi phí, tạo việc làm cho người trong độ tuổi lao động, bảo đảm trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường.

2.2. Về mục tiêu, yêu cầu đến năm 2030, 2045

a) Mục tiêu

Đến năm 2030, hình thành cơ bản hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, số hoá, bảo đảm sàn an sinh tối thiểu cho tất cả người dân. Đến năm 2045, hệ thống phải tiếp cận chuẩn mực của các nước phát triển có thu nhập cao, dịch vụ chất lượng, tài chính bền vững, quản trị minh bạch và khả năng ứng phó nhanh trước các rủi ro.

b) Yêu cầu

Sàn an sinh tối thiểu phải bảo đảm chăm sóc y tế thiết yếu, thu nhập cơ bản và điều kiện phát triển cho trẻ em, hỗ trợ người trong độ tuổi lao động khi mất việc, mất sinh kế, thai sản, tai nạn, khuyết tật; bảo đảm thu nhập và chăm sóc thiết yếu cho người cao tuổi. Trên nền tảng đó, tiếp tục phát triển các tầng bảo hiểm bắt buộc, tự nguyện, bổ sung và huy động sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng, gia đình.

- An sinh xã hội phải được đặt trong mối quan hệ gia đình và liên thế hệ; việc làm, thu nhập của cha mẹ gắn liền với điều kiện sống, chăm sóc và học tập của các con. Chính sách phải được đánh giá bằng lợi ích thực chất đối với mỗi người dân, sự bền vững của gia đình và tương lai của thế hệ sau. Tinh thần "không để ai bị bỏ lại phía sau" phải được cụ thể hoá bằng kết quả có thể kiểm tra, giám sát; không để người dân rơi xuống dưới mức sống tối thiểu mà không được phát hiện, trẻ em bỏ học vì nghèo, người khuyết tật đặc biệt nặng không có người chăm sóc, gia đình gặp thiên tai phải chờ đợi quá lâu mới được hỗ trợ.

- An sinh xã hội cần phải có tầm nhìn dài hạn, xác định đúng ưu tiên, tổ chức thực hiện hiệu quả. Nguồn lực chi cho an sinh xã hội không chỉ có ngân sách nhà nước mà còn là trách nhiệm chung của cộng đồng và ý chí, nghị lực của mỗi người dân.

Đột phá quan trọng nhất không chỉ là tăng mức trợ cấp mà là nâng cao năng lực của Nhà nước trong việc phát hiện, lắng nghe và hỗ trợ người dân kịp thời; bảo đảm các chính sách được thực hiện đồng bộ, phòng ngừa tốt rủi ro và tạo điều kiện để người dân tự vươn lên.

2.3. Về nhiệm vụ

Thứ nhất, thiết lập hồ sơ an sinh và đầu mối phục vụ. Chính phủ khẩn trương xây dựng Cơ sở dữ liệu an sinh xã hội quốc gia, kết nối với cơ sở dữ liệu dân cư, bảo hiểm, thuế, việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở và thiên tai, bảo đảm an ninh, an toàn và quyền riêng tư. Mỗi người dân có một hồ sơ an sinh theo vòng đời; mỗi gia đình được đánh giá đầy đủ về nhu cầu hỗ trợ.

Xây dựng bộ chỉ số quốc gia về an sinh xã hội, công bố hằng năm theo địa phương và nhóm dân cư; bộ chỉ số phải đo được mức độ bao phủ, phạm vi quyền lợi, tỉ lệ bỏ sót, thời gian giải quyết, chi phí người dân phải tự trả, khả năng có việc làm, khả năng tiếp cận của người khuyết tật và mức độ hài lòng của người hưởng. Nơi nào để sót đối tượng, giải quyết chậm, để người dân phản ánh kéo dài thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm và giải trình.

Thứ hai, củng cố sàn an sinh và cải cách chính sách trợ giúp xã hội. Rà soát, hợp nhất các chương trình trùng lặp, giảm đầu mối, thống nhất tiêu chí cốt lõi, đồng thời dành dư địa để địa phương xử lý những vấn đề đặc thù. Mức trợ giúp phải được điều chỉnh phù hợp với mức sống tối thiểu, biến động giá cả và khả năng ngân sách, hỗ trợ bổ sung kịp thời những người gặp biến cố.

Thứ ba, mở rộng bảo hiểm xã hội và xây dựng thị trường lao động bao trùm. Hoàn thiện các gói bảo hiểm linh hoạt về mức đóng, thời gian đóng và phương thức tham gia, có hỗ trợ phù hợp đối với người thu nhập thấp. Nghiên cứu, xác định trách nhiệm đóng góp của Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp cung cấp nền tảng số (gọi xe, taxi công nghệ...).

Mở rộng bảo hiểm tai nạn lao động và chế độ thai sản cho khu vực phi chính thức. Chính sách trợ giúp người trong độ tuổi lao động phải gắn với đào tạo kỹ năng, tư vấn việc làm, tín dụng và kết nối doanh nghiệp.

Đào tạo phải được đánh giá bằng kết quả việc làm thực tế, không chỉ bằng số người tham dự. Có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật, người sau cai nghiện, người chấp hành xong án phạt tù và lao động lớn tuổi.

Thực hiện giới thiệu việc làm, hướng nghiệp cho đối tượng dễ bị tổn thương, yếu thế. Ưu tiên hỗ trợ cho người có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ thí điểm mô hình sinh kế đối với hộ gia đình có người cao tuổi, người khuyết tật; ưu tiên được vay vốn với lãi suất ưu đãi để tạo việc làm, tăng thu nhập.

Thứ tư, xây dựng hệ thống an sinh gia đình và liên thế hệ. Quy hoạch khu công nghiệp, khu kinh tế, đô thị phải đồng bộ giữa việc làm với nhà ở xã hội, trường học, cơ sở y tế, nhà trẻ và các dịch vụ thiết yếu. Chính sách an sinh phải theo người lao động, không bị gián đoạn bởi nơi cư trú hay loại hình việc làm.

Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động phải cùng chia sẻ trách nhiệm về phát triển nhà ở, trường học, nhà trẻ và thiết chế xã hội. Đặc biệt, quan tâm trẻ em sống xa cha mẹ, trẻ em do ông bà chăm sóc và gia đình có nhiều người phụ thuộc. Không để khó khăn của thế hệ trước trở thành thiệt thòi của các thế hệ sau.

Thứ năm, phát triển kinh tế chăm sóc, chủ động ứng phó với tình trạng già hoá dân số. Xây dựng chiến lược quốc gia về kinh tế chăm sóc, kết hợp y tế, phục hồi chức năng, công tác xã hội và chăm sóc tại gia đình, cộng đồng. Phát triển mạng lưới chăm sóc ban ngày, chăm sóc tạm thời, trợ giúp người khuyết tật, chăm sóc giảm nhẹ và hỗ trợ sức khoẻ tâm thần.

Nghiên cứu thí điểm bảo hiểm chăm sóc dài hạn tại một số địa phương, đánh giá kỹ tác động tài chính trước khi nhân rộng. Đồng thời, chuẩn hoá nghề chăm sóc, đào tạo và có chính sách phù hợp với nhân viên công tác xã hội, điều dưỡng và người chăm sóc tại nhà.

Xây dựng mô hình nhà xã hội chăm sóc người cao tuổi độc thân, người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa, bảo đảm người cao tuổi không phải sống trong nhà tạm, nhà dột nát.

Triển khai kịp thời chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khám sức khoẻ định kỳ, lập sổ theo dõi sức khoẻ người cao tuổi ở y tế tuyến xã, ưu tiên nhóm từ 80 tuổi trở lên và từng bước mở rộng đến nhóm từ 65 tuổi trở lên.

Thực hiện khám chữa bệnh tại nhà cho người cao tuổi không có điều kiện đến cơ sở y tế. Phát triển khoa lão khoa tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và Trung ương; phát triển bệnh viện tuyến cơ sở để phòng ngừa khuyết tật, phát hiện sớm, phục hồi chức năng và hỗ trợ phát triển toàn diện trẻ em ngay từ những năm đầu đời.

Thứ sáu, bảo đảm cơ hội phát triển công bằng cho trẻ em và người yếu thế. Ưu tiên đầu tư cho 1.000 ngày đầu đời (dinh dưỡng, tiêm chủng, giáo dục mầm non, sàng lọc khuyết tật và can thiệp sớm).

Hỗ trợ đối tượng yếu thế ở các cấp học phổ thông, cơ sở đào tạo nghề, hướng nghiệp. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đặc thù; ứng dụng hệ thống học liệu chuyên dụng phục vụ chuyển đổi ngôn ngữ ký hiệu, chữ nổi cho học sinh khiếm thị; bổ sung đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên có trình độ chuyên môn phù hợp với phương pháp giáo dục người khuyết tật.

Bảo đảm người khuyết tật tiếp cận công trình công cộng, giao thông, giáo dục, y tế và dịch vụ số. Có giải pháp khuyến khích người dân chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn, khám sức khoẻ trước khi kết hôn, khám sàng lọc trước sinh, sơ sinh, khám sàng lọc một số loại bệnh phổ biến, nguy hiểm, phù hợp với từng lứa tuổi, nhóm đối tượng.

Thứ bảy, nâng cao khả năng thích ứng với thiên tai, dịch bệnh và quá trình phát triển xanh. Mỗi địa phương phải có bản đồ rủi ro, danh sách các hộ gia đình dễ bị tổn thương và giải pháp ứng phó. Khi xảy ra thiên tai, dữ liệu, ngân sách và hệ thống thanh toán phải được kích hoạt ngay, rút ngắn thời gian hỗ trợ từ nhiều tuần xuống còn vài ngày đối với các trường hợp đã đủ căn cứ.

Các chương trình phát triển, thu hồi đất, sắp xếp sản xuất phải gắn với phương án về việc làm, thu nhập, sinh kế; có phương án đào tạo lại, hỗ trợ di chuyển, bảo hiểm thất nghiệp và tạo việc làm tại chỗ; không để người nghèo và người lao động yếu thế phải gánh chịu bất lợi của quá trình phát triển.

Thứ tám, đổi mới quản trị, tài chính và giám sát xã hội. Xây dựng kế hoạch tài chính an sinh trung hạn; công khai nguồn lực, kết quả của từng chương trình, cắt giảm chính sách trùng lặp, kém hiệu quả. Huy động nguồn lực xã hội nhưng Nhà nước giữ vai trò bảo đảm sàn an sinh tối thiểu. Quốc hội tăng cường giám sát mức độ bao phủ, chất lượng chính sách và bền vững tài chính.

Mặt trận Tổ quốc phát huy vai trò giám sát tại cộng đồng, tiếp nhận phản ánh và đối thoại với người thụ hưởng. Xử lý nghiêm hành vi trục lợi chính sách, thiếu trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm; bảo vệ cán bộ cơ sở dám quyết định, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích của Nhân dân trong những tình huống cấp thiết.

3. Tổ chức thực hiện

Giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo sớm xây dựng Chương trình hành động quốc gia về hiện đại hoá hệ thống an sinh xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045[2]; xác định rõ trách nhiệm, tiến độ, nguồn lực và kết quả; trước mắt, tập trung chuẩn hoá cơ sở dữ liệu, hoàn thiện, đơn giản hoá quy trình xác định và chi trả; chỉ đạo xây dựng bộ chỉ số quốc gia về an sinh xã hội.

Giao Đảng ủy Quốc hội chỉ đạo rà soát, hoàn thiện đồng bộ pháp luật về bảo hiểm xã hội, việc làm, trợ giúp xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và phòng, chống bạo lực[3]. Mỗi chính sách được quyết định phải có nguồn lực bảo đảm và phải được đánh giá đầy đủ tác động đối với người yếu thế.

- Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy vai trò giám sát, phản biện và huy động sức mạnh Nhân dân; tổ chức phát hiện sớm những hoàn cảnh khó khăn ngay tại cộng đồng; kết nối các nguồn lực xã hội công khai, minh bạch, tránh trùng lặp và tôn trọng phẩm giá người được hỗ trợ[4].

Cấp uỷ, chính quyền địa phương xác định xã, phường là địa bàn phục vụ an sinh trực tiếp và gần dân nhất. Mỗi trường hợp khó khăn, phức tạp phải có một đầu mối chịu trách nhiệm giải quyết đến cùng, không để người dân phải đi qua nhiều cơ quan; thường xuyên rà soát, không bỏ sót người cần hỗ trợ[5].

- Doanh nghiệp và toàn xã hội thể hiện trách nhiệm thông qua tạo việc làm bền vững, nâng cao thu nhập, đóng bảo hiểm đầy đủ, bảo đảm an toàn lao động và cơ hội bình đẳng cho người lao động; khuyến khích doanh nghiệp xã hội, quỹ cộng đồng, dịch vụ chăm sóc và công nghệ trợ giúp hoạt động đúng pháp luật, minh bạch, hiệu quả.

Văn phòng Trung ương Đảng thông báo để Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai thực hiện./.

________________________

[1]. Cùng dự có các đồng chí: Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Nguyễn Hải Ninh, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; đồng chí Đào Hồng Lan, Bộ trưởng Bộ Y tế; đồng chí Nguyễn Đắc Vinh, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội; đồng chí Đặng Khánh Toàn, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; đồng chí Tô Ân Xô, Trợ lý Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Phụ trách Văn phòng Tổng Bí thư; các đồng chí đại diện lãnh đạo Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

[2]. Sản phẩm: (i) Chương trình hành động quốc gia về hiện đại hoá an sinh xã hội. (ii) Cơ sở dữ liệu an sinh xã hội. (iii) Kết quả đơn giản hoá quy trình, thủ tục.

[3]. Sản phẩm: (i) Báo cáo kết quả tổng rà soát, đề xuất hoàn thiện chính sách an sinh xã hội. (ii) Đánh giá tác động chính sách. (iii) Báo cáo giám sát chuyên đề.

[4]. Sản phẩm: (i) Báo cáo giám sát chuyên đề, báo cáo giám sát độc lập. (ii) Chương trình/Quỹ vận động xã hội hoá hỗ trợ người yếu thế.

[5] Sản phẩm: (i) Kế hoạch hành động hàng năm. (ii) Danh sách người yếu thế trên địa bàn. (iii) Thông báo công khai danh sách cán bộ chuyên trách về an sinh xã hội, số điện thoại liên hệ.

TTXVN

02/09/2026

Đừng để tin giả chạy nhanh hơn sự thật trong thời đại số

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, khi thật-giả ngày càng khó phân biệt, cuộc chiến với tin giả không còn là câu chuyện của riêng cơ quan quản lý mà trở thành trách nhiệm của cả xã hội.

Chỉ một cú nhấp chuột, tin giả có thể lan tới hàng triệu người, nhưng để sự thật được kiểm chứng đôi khi cần nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày.

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, khi thật-giả ngày càng khó phân biệt, cuộc chiến với tin giả không còn là câu chuyện của riêng cơ quan quản lý mà trở thành trách nhiệm của cả xã hội.

Nghị định 328/2026/NĐ-CP vì thế mở ra một “vòng chắn” mới để bảo vệ sự thật, niềm tin và an toàn trên không gian mạng.

Cuộc chiến bảo vệ sự thật và niềm tin
Theo nhà báo Trần Tiến Duẩn, Tổng Biên tập Báo điện tử VietnamPlus (Thông tấn xã Việt Nam), tin giả hôm nay không còn mang dáng hình của những lời đồn vô danh. Nó có thể khoác lên mình một tiêu đề giật gân, một bức ảnh được cắt ghép tinh vi, một đoạn video tưởng như chân thực, một giọng nói được tạo bằng trí tuệ nhân tạo hay thậm chí là một tài khoản mang danh “chính chủ.”

Chỉ trong vài phút, một thông tin chưa được kiểm chứng có thể vượt qua mọi khoảng cách địa lý, len vào hàng triệu màn hình điện thoại và tác động trực tiếp đến suy nghĩ, cảm xúc, hành vi của cộng đồng.

Đáng lo hơn, khi con người chia sẻ thông tin bằng cảm xúc nhanh hơn bằng lý trí, tin giả không chỉ được lan truyền mà còn có thể biến thành “sự thật” trong nhận thức của một bộ phận công chúng.

Đằng sau mỗi dòng thông tin sai lệch có thể là những hệ lụy rất thật: một cá nhân bị tổn thương danh dự, một doanh nghiệp bị ảnh hưởng uy tín, một cộng đồng hoang mang; thậm chí, những vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự, đối ngoại và lợi ích quốc gia cũng có thể bị tác động.

Nhà báo Trần Tiến Duẩn cho rằng: “Việc phòng, chống tin giả không thể chỉ dừng ở việc "xóa một bài viết" hay "chặn một tài khoản," mà phải là một cuộc chiến có tổ chức, có quy trình và có trách nhiệm. Nghị định 328/2026/NĐ-CP đặt vấn đề này trong một khuôn khổ rõ ràng hơn: từ phát hiện thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật, kiểm chứng, xác minh, làm rõ đến gắn nhãn, công bố, cảnh báo, ngăn chặn, gỡ bỏ và xử lý vi phạm. Đáng chú ý, quy định về thời hạn gắn nhãn, công bố, cảnh báo cho thấy yêu cầu cấp thiết phải đưa sự thật đến với công chúng nhanh nhất có thể. Bởi trên không gian mạng, nếu sự thật đến quá muộn, khoảng trống thông tin sẽ lập tức bị tin giả lấp đầy. Và khi niềm tin đã bị tổn thương, việc khôi phục đôi khi khó hơn rất nhiều lần so với việc bảo vệ nó ngay từ đầu.”

Khi khuôn mặt có thể bị giả, niềm tin dễ bị đánh cắp
Thực tế thời gian gần đây cho thấy, cuộc chiến với tin giả đã bước sang một cấp độ mới khi công nghệ ngày càng phát triển, khiến ranh giới thật-giả trở nên mong manh. Tin giả do AI tạo ra đã len vào những vấn đề thời sự được xã hội đặc biệt quan tâm.

Trong thời điểm mưa lũ tại miền Trung và miền núi phía Bắc diễn biến phức tạp, mạng xã hội xuất hiện những hình ảnh, video do AI tạo dựng, giả cảnh kêu cứu, thổi phồng mức độ tàn phá, dễ kích hoạt tâm lý hoảng loạn và thương cảm của cộng đồng. Đây là minh chứng rõ ràng rằng trong thiên tai, khi nhu cầu thông tin chính xác lên cao nhất, một nội dung giả mạo cũng có thể gây hậu quả thật.

Deepfake là công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) biến chính khuôn mặt và giọng nói của con người thành “công cụ” để đánh cắp niềm tin. Lực lượng Công an liên tục cảnh báo các thủ đoạn giả danh người thân, điều tra viên, cán bộ thuế, thanh tra... bằng cuộc gọi video, hình ảnh và giọng nói được tạo bởi AI, sau đó gây áp lực để nạn nhân chuyển tiền.

Có trường hợp, kẻ gian chỉ cần khai thác những hình ảnh, đoạn video công khai trên mạng xã hội để tạo nên một “bản sao kỹ thuật số” có vẻ chân thực đến mức người nhận cuộc gọi khó nhận ra bất thường. Khi một khuôn mặt có thể bị giả, một giọng nói có thể bị sao chép, điều còn lại để bảo vệ mỗi người chính là sự tỉnh táo.

Bà V.T.Q., chủ một cơ sở kinh doanh văn phòng phẩm trên đường Nguyễn Thái Học, phường Vĩnh Phúc (Phú Thọ), cho biết: “Tôi nhận được một số cuộc gọi từ những người không quen biết. Họ tự xưng là cán bộ của một cơ quan Trung ương và yêu cầu cơ sở chuẩn bị nhiều loại hồ sơ, giấy tờ như giấy phép kinh doanh, giấy tờ liên quan đến điều kiện phòng cháy, chữa cháy, an toàn thực phẩm... Nếu không có, cơ sở kinh doanh sẽ bị phạt và thông tin này sẽ được phổ biến trên báo chí, trên mạng cho nhiều người biết, ảnh hưởng đến việc kinh doanh. Sau khi nhận ra mình có thể bị lừa, tôi thông báo đã ghi âm các cuộc gọi và sẽ báo cơ quan chức năng để xử lý hành vi đe dọa, lừa đảo. Từ đó, tôi không còn nhận được các cuộc gọi làm phiền,” bà Q. chia sẻ.

Nguy cơ tin giả không chỉ nằm ở những tài khoản vô danh mà còn có thể khoác lên mình dáng vẻ của thông tin chính thống. Thời gian gần đây, các ngành chức năng đã cảnh báo nhiều nội dung giả mạo, trong đó có việc cắt ghép hình ảnh lãnh đạo cơ quan nhà nước, lãnh đạo doanh nghiệp vào khuôn hình báo chí để tạo cảm giác đáng tin; hoặc các video không rõ nguồn gốc lan truyền trên mạng xã hội, gây ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp.

Điều đáng sợ nhất của tin giả thời AI không còn là việc nó “giả đến đâu,” mà là nó có thể trông thật đến mức nào.

Những câu chuyện trên cho thấy chống tin giả hôm nay không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm hay sự cảnh giác thông thường. Xã hội cần một cơ chế đủ nhanh, đủ rõ và đủ sức răn đe để khi tin giả vừa xuất hiện, sự thật đã có thể kịp thời lên tiếng.

Chung tay dựng “lá chắn” thông tin
Muốn tin giả không còn đất sống, cần một “lá chắn” nhiều tầng: cơ quan chức năng phát hiện sớm, xác minh nhanh, công bố minh bạch; các nền tảng số phải phối hợp ngăn chặn, gỡ bỏ; báo chí phải là địa chỉ kiểm chứng đáng tin cậy; còn mỗi người dân phải tự trang bị “sức đề kháng” trước thông tin chưa được xác thực.

Nghị định 328/2026/NĐ-CP đã tạo hành lang cho quy trình này, từ phát hiện, kiểm chứng đến gắn nhãn, cảnh báo, ngăn chặn, gỡ bỏ và xử lý. Đặc biệt, việc thiết lập cơ chế tiếp nhận phản ánh, phối hợp 24/7 với các nền tảng và yêu cầu người dùng không tiếp tay cho thông tin đã được xác định là giả cho thấy cuộc chiến này cần sự vào cuộc đồng bộ.

Nhưng trên hết, mỗi người hãy tập một thói quen rất đơn giản: đừng vội tin, đừng vội giận, đừng vội chia sẻ. Chỉ một vài giây kiểm chứng có thể ngăn một thông tin sai lan tới hàng nghìn người.

Trong kỷ nguyên số, bảo vệ sự thật cũng chính là bảo vệ niềm tin. Nghị định 328/2026/NĐ-CP không chỉ đặt ra những “hàng rào” pháp lý để xử lý tin giả mà còn gửi đi một thông điệp mạnh mẽ: không thể để tốc độ của công nghệ vượt qua trách nhiệm của con người.

Từ ngày 5/10/2026, Nghị định 328/2026/NĐ-CP có những quy định chính thức có hiệu lực, hiệu quả của cuộc chiến này sẽ không chỉ được đo bằng số tin giả bị gỡ bỏ mà còn bằng khả năng xã hội nhận diện, phòng ngừa và không tiếp tay cho chúng. Để sự thật không đến sau, mỗi chúng ta hãy bắt đầu từ chính một cú nhấp chuột có trách nhiệm./.

TTXVN

02/09/2026

[Infographic] Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới

Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Theo đó, tầm nhìn đến 2045, các vùng phát triển và vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng và phát triển.

02/09/2026

Những con số ấn tượng trong chương trình đi bộ "Cùng Việt Nam tiến bước" năm 2026

Chương trình đi bộ “Cùng Việt Nam tiến bước” năm 2026 ghi nhận 1.774.268 người tham gia, đóng góp 10.068.000.515 bước chân tại 34 tỉnh, thành phố và gần 3.000 xã, phường, đặc khu hành chính.

BÔNG MAI

Báo Nhân dân


02/09/2026

HÀNG LOẠT CHÍNH SÁCH MỚI CÓ HIỆU LỰC TỪ THÁNG 9

Từ tháng 9/2026, nhiều chính sách mới có hiệu lực, nổi bật là các chính sách liên quan chi trả lương hưu qua VNeID; trẻ dưới 6 tuổi được cấp thẻ Căn cước; quy định về định danh địa điểm; xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa…

👉Cung cấp dịch vụ liên quan tài sản mã hóa khi chưa được cấp phép bị phạt tới 200 triệu đồng

Chính phủ ban hành Nghị định số 284/2026/NĐ-CP ngày 16/7/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/9/2026.

Nghị định quy định mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm là 200 triệu đồng đối với tổ chức, 100 triệu đồng đối với cá nhân.

Trong đó, đối với các vi phạm về tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa, Nghị định quy định phạt tiền từ 180-200 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

- Thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ liên quan tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa;

- Quảng cáo, tiếp thị liên quan tài sản mã hóa khi chưa được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa.

Mức phạt tiền quy định dưới đây được áp dụng đối với tổ chức. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

👉Mỗi địa điểm sẽ có mã định danh 12 chữ số, hiển thị trên VNeID

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định về định danh địa điểm.

Nghị định nêu rõ các nguyên tắc định danh địa điểm. Theo đó, mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, tuân thủ cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, bảo đảm tính liên tục và ổn định, không trùng lặp trong toàn hệ thống.

Mã định danh địa điểm sau khi được tạo lập, gắn mã duy nhất cho một đối tượng cụ thể phải có tính ổn định lâu dài. Mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập. Mỗi địa điểm được gắn một mã định danh riêng biệt, không trùng lặp, bảo đảm tính ổn định, mở rộng và khả năng liên kết, tích hợp, kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Cơ quan Nhà nước được giao quản lý chuyên ngành đối với đối tượng thuộc danh mục định danh địa điểm hoặc cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành chứa dữ liệu gốc về sự hình thành, tồn tại, biến động của đối tượng có trách nhiệm chủ trì rà soát, chuẩn hóa, thu thập dữ liệu, đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện cấp mã định danh địa điểm.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2026.

👉Trẻ dưới 6 tuổi được cấp thẻ Căn cước

Nghị định số 301/2026/NĐ-CP ngày 30/7/2026 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2024/NĐ-CP ngày 10/6/2024 của Chính phủ quy định việc thực hiện liên thông điện tử 2 nhóm thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, giải quyết mai táng phí, tử tuất.

Theo đó, cha mẹ có thể đăng ký cấp thẻ căn cước cho trẻ dưới 6 tuổi nếu có nhu cầu ngay trong quá trình đăng ký khai sinh liên thông điện tử, không phải thực hiện thêm một thủ tục riêng như trước đây.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 1/9/2026.

👉Việt Nam cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bởi hành vi cưỡng bức lao động

Chính phủ ban hành Nghị định 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương.

Đáng chú ý, Nghị định cũng cấm nhập khẩu các sản phẩm, hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bởi hành vi cưỡng bức lao động từ các doanh nghiệp, quốc gia, vùng lãnh thổ phù hợp với các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 5/9/2026.

👉Phạt đến 75 triệu đồng đối với hành vi lôi kéo, dụ dỗ, quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao động

Chính phủ ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Trong đó, Nghị định quy định phạt tiền từ 50-75 triệu đồng đối với một trong các hành vi: lôi kéo; dụ dỗ; hứa hẹn; quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nghị định cũng quy định cụ thể phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội sau đây: Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định; không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự…

Quy định trên có hiệu lực từ ngày 10/9/2026.

👉Bổ sung một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Chính phủ ban hành Nghị định số 311/2026/NĐ-CP ngày 6/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Nghị định sửa đổi, bổ sung một số khoản tại Điều 6 của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP về thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành, lĩnh vực và một số chức danh khác. Cụ thể như sau:

Tại khoản 1, Điều 6: Sửa đổi, bổ sung theo hướng đổi tên một số chức danh như: Chi cục trưởng Chi cục An toàn thực phẩm, Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực dân số, trẻ em thuộc Sở Y tế thành Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm, Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực dân số, trẻ em, phòng, chống tệ nạn xã hội thuộc Sở Y tế; Chi cục trưởng Chi cục Thống kê cấp tỉnh thuộc Cục Thống kê thành Trưởng Thống kê cấp tỉnh; Giám đốc Bảo hiểm xã hội khu vực thành Giám đốc Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh.

Đồng thời, bổ sung thẩm quyền xử phạt của Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực môi trường thuộc Cục Môi trường để phù hợp với thực tiễn, bảo đảm sự tương đồng về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường (lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thú y, quản lý chất lượng nông lâm, thủy sản, thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai).

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 26/9/2026.

👉Chi trả lương hưu qua VNeID

Nghị định số 320/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử, có hiệu lực thi hành từ ngày 28/9/2026.

Theo đó, "tài khoản hưởng an sinh xã hội" được quy định là thông tin định danh trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID), cho phép tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử hoặc tài khoản tiền di động để tiếp nhận các khoản hỗ trợ, hưu trí, chi trả an sinh xã hội và các khoản kinh phí hợp pháp.

Trước đó, việc liên kết tài khoản ngân hàng với VNeID đã được triển khai để phục vụ chi trả các khoản hỗ trợ, an sinh xã hội. Từ 28/9/2026, cơ chế này được quy định cụ thể hơn tại Nghị định 320/2026/NĐ-CP.

(Nguồn: Báo Nhân dân)

Address

1894, Nguyễn Ái Quốc, Khu Phố Bình Thiền, Phường Trấn Biên
Biên Hòa
810000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đảng ủy Công ty Xổ số Đồng Nai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share