Hội CCB Xã Khun Há

Hội CCB Xã Khun Há Hội Cựu Chiến Binh xã Khun Há

10/04/2026

DÂN CHỦ THỰC CHẤT - NHÌN TỪ THỰC TIỄN, KHÔNG PHẢI TỪ FACEBOOK

Lại có thêm một bài viết trên mạng xã hội dùng ngôn ngữ châm biếm để phủ nhận toàn bộ cơ chế chính trị của Việt Nam. Đọc qua thì có vẻ sắc sảo, nhưng xét kỹ thì chỉ là lối lập luận cảm tính, thiếu nền tảng so sánh và hoàn toàn bỏ qua thực tiễn.

Trước hết, về cơ chế bầu cử. Phần tử cơ hội này ngầm định rằng “dân chủ thật” phải là bầu cử trực tiếp, đa đảng, tranh cử ồn ào. Nhưng thực tế thế giới nói gì? Thủ tướng Đức không do dân bầu trực tiếp - Quốc hội bầu. Thủ tướng Anh, Nhật Bản, Ý cũng vậy. Không ai gọi những nước đó là “phòng kín”. Vậy tại sao cơ chế tương tự ở Việt Nam lại bị quy chụp bằng ngôn ngữ miệt thị?

Về tính chính danh của lãnh đạo. Quốc hội Việt Nam - do Nhân dân bầu ra thông qua phổ thông đầu phiếu - là cơ quan thực hiện việc bầu các chức danh lãnh đạo nhà nước, bao gồm việc bầu Tổng Bí thư Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước. Đây là thủ tục hiến định, minh bạch về quy trình, có căn cứ tại Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội. Gọi đó là “chia bài xì dách” không phải phản biện mà đó là xúc phạm.

Về kết quả thực tế - thước đo dân chủ quan trọng nhất. Trong khi nhiều quốc gia đa đảng rơi vào khủng hoảng chính trị triền miên, Việt Nam duy trì ổn định, đưa hơn 40 triệu người thoát nghèo trong 30 năm, GDP bình quân đầu người tăng gần 20 lần kể từ 1990. Theo Edelman Trust Barometer 2023, mức độ tin tưởng của người dân Việt Nam vào chính phủ đạt trên 77% - cao hơn nhiều so với Mỹ (42%) hay Pháp (35%). Dân chủ không chỉ là quyền bỏ phiếu - dân chủ còn là quyền được sống ổn định, no đủ và an toàn. Phê phán chính sách bằng lý lẽ có căn cứ là quyền của công dân và là điều cần thiết cho sự phát triển. Nhưng dùng ngôn ngữ giễu nhại để phủ nhận toàn bộ tính chính danh của nhà nước, kích động bất mãn xã hội mà không đưa ra bất kỳ giải pháp thay thế nào - đó không phải phản biện, đó là gây rối.

Đất nước ổn định không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một hệ thống lãnh đạo nhất quán, một nhân dân kiên nhẫn và một thể chế biết tự đổi mới. Những dòng trạng thái Facebook viết vội không thể phủ nhận điều đó.

-TV.BS-

10/04/2026

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI SỰ THẬT "THU THẬP DỮ LIỆU THÌ NHANH, BẢO VỆ THÌ... TỰ LO".

Trong kỷ nguyên chuyển đổi số toàn cầu, dữ liệu cá nhân không chỉ đơn thuần là thông tin, mà đã trở thành nguồn tài nguyên chiến lược định hình diện mạo nền kinh tế và quản trị quốc gia. Tuy nhiên, lợi dụng chiêu bài tâm lý lo ngại về quyền riêng tư, một số đối tượng phản động lại rêu rao luồng tư tưởng phiến diện mang tính quy chụp, thiếu căn cứ với luận điệu rằng: "Thu thập dữ liệu thì nhanh, bảo vệ thì...tự lo".

Thực chất, đây là một thủ đoạn xuyên tạc thâm hiểm, chúng cố tình tách rời hai mặt của một quá trình thống nhất. Việc đẩy mạnh số hóa dữ liệu là bước đi mang tính sống còn để kiến tạo một Chính phủ số, trong khi bảo mật dữ liệu chính là cam kết để bảo vệ chủ quyền số quốc gia. Những luận điệu này không gì khác ngoài mục đích gieo rắc sự hoài nghi, hòng làm giảm niềm tin của nhân dân vào các nỗ lực hiện đại hóa đất nước.

Thực tế, việc đẩy nhanh tiến độ thu thập dữ liệu không phải là hành động "chạy theo thành tích" mà là yêu cầu cấp bách để xây dựng Chính phủ số. Nhìn vào dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và việc cấp Căn cước công dân gắn chip, nhờ có sự đồng bộ dữ liệu cấp bách này, người dân đã giảm bớt được hàng loạt thủ tục rườm rà. Nếu không có sự quyết liệt trong thu thập dữ liệu, liệu chúng ta có thể thực hiện các dịch vụ công trực tuyến như đăng ký xe, khai báo tạm trú ngay tại nhà chỉ với vài cú chạm trên hệ thống.

Bên cạnh đó, quan điểm cho rằng Nhà nước "bỏ mặc" bảo vệ dữ liệu là hoàn toàn sai sự thật. Nhà nước đã thiết lập một "lá chắn pháp lý" vững chắc. Điển hình là Nghị định 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân có hiệu lực từ tháng 7/2023. Đây là văn bản pháp lý mang tính cột mốc, quy định cực kỳ khắt khe về trách nhiệm của các bên xử lý dữ liệu và mức phạt nặng đối với hành vi mua bán dữ liệu trái phép. Thực tế, Cục An ninh mạng đã triệt phá hàng loạt đường dây mua bán dữ liệu quy mô lớn (như vụ triệt phá nhóm tội phạm chiếm đoạt hàng triệu thông tin cá nhân tại nhiều tỉnh thành năm 2024).

Tuy nhiên, ta cũng có thể thấy trong không gian mạng, rủi ro bảo mật không chỉ đến từ lỗ hổng hệ thống mà còn đến từ sự chủ quan của bản thân người dùng. Một hệ thống bảo mật dù hiện đại đến đâu cũng không thể ngăn cản được hành động tự tay nhập mã OTP vào một đường link lừa đảo hay công khai số điện thoại, ngày sinh trên mạng xã hội. Việc Nhà nước ta tổ chức tuyên truyền người dân nâng cao cảnh giác chính là đang trang bị cho mỗi cá nhân kiến thức cần thiết để cùng nhau tạo nên một hệ sinh thái an toàn.

Từ đó ta có thể thấy, việc thu thập dữ liệu là để phục vụ lợi ích chung, còn bảo vệ dữ liệu là nhiệm vụ sống còn của quốc gia, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, đồng hành, bảo vệ người dân trong quá trình chuyển đổi số và phát triển đất nước. Để bảo vệ chính mình và xã hội, mỗi công dân cần tỉnh táo trước các thông tin sai lệch, đồng thời nâng cao ý thức tự bảo vệ thông tin cá nhân như bảo vệ chính tài sản của mình.

H.B.

10/04/2026

NHẬN DIỆN MƯU ĐỒ LỢI DỤNG “VẤN ĐỀ DÂN TỘC” ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ

Nằm trong âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, phản động luôn xem “vấn đề dân tộc” là mũi nhọn, là vấn đề “ưu tiên” để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước. Trong đó, chúng sử dụng nhiều chiêu bài, luận điệu để kích động tư tưởng ly khai, “dân tộc hẹp hòi”, gây mất ổn định chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam. Đây là hành động không chỉ đi ngược lại lợi ích quốc gia mà còn trực tiếp đe dọa đến sự ổn định chính trị – xã hội của đất nước.

Thực tế cho thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán chính sách dân tộc “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”. Trong những năm qua, Nhà nước ta đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số như xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế, bảo tồn văn hóa truyền thống… đã và đang mang lại nhiều kết quả tích cực, giúp đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được nâng cao. Những thành tựu này khẳng định sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, bác bỏ hoàn toàn luận điệu xuyên tạc về “phân biệt đối xử” hay “áp bức dân tộc” của các thế lực thù địch.

Mỗi công dân Việt Nam cần nâng cao nhận thức, cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Chỉ có sự đoàn kết, đồng lòng và niềm tin vững chắc vào đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước mới giúp dân tộc Việt Nam giữ vững độc lập, chủ quyền, đồng thời phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế./.

(CC-CSGT KV2)

09/04/2026

KHÔNG CÓ CUỘC CẢI CÁCH, ĐỔI MỚI NÀO MÀ BƯỚC ĐẦU KHÔNG KHÓ KHĂN, PHỨC TẠP
————
Kỷ nguyên là một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi những đặc điểm quan trọng hoặc những sự kiện có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội, văn hóa, chính trị và tự nhiên. Kỷ nguyên trước tạo tiền đề cho kỷ nguyên sau; kỷ nguyên sau kế thừa và phát triển những thành tựu của kỷ nguyên trước.

Sau 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã tích lũy đủ thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo. Giờ đây, chúng ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu bằng sự kiện trọng đại – Đại hội XIV của Đảng. Đây là thời điểm “hội tụ” tổng hòa các lợi thế và sức mạnh để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tiếp nối sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới.

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng tới xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đích đến của kỷ nguyên này là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Tiếp nối mạch nguồn lịch sử qua các kỷ nguyên, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đất nước ta không ngừng phát triển, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo nền tảng vững chắc cho kỷ nguyên vươn mình hôm nay. Những thành tựu đã đạt được chính là minh chứng sinh động cho bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong mỗi chặng đường lịch sử./.
-Thọ Phong-

09/04/2026

KHÔNG THỂ “XEM NGƯỢC” LỊCH SỬ: 30/4 LÀ CHIẾN THẮNG CỦA DÂN TỘC, KHÔNG PHẢI “HOÀNG HÔN TƯỞNG TƯỢNG”
***

Mỗi dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4, cùng với niềm tự hào và xúc động lan tỏa trong toàn xã hội, trên không gian mạng lại xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, cố tình bóp méo ý nghĩa lịch sử của sự kiện trọng đại này. Một rong số đó là tài khoản Lê Anh bằng cách diễn giải thậm chí gọi 30/4 là “khởi đầu của bi kịch”, là “hoàng hôn của dân tộc”. Những lập luận như vậy không chỉ sai lệch về lịch sử, mà còn thể hiện rõ cách tiếp cận phiến diện, thậm chí là phủ nhận thành quả đấu tranh của cả dân tộc Việt Nam.

Cần khẳng định một cách dứt khoát rằng, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đó là thắng lợi của khát vọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, là kết quả của sự hy sinh to lớn của hàng triệu người con đất Việt qua nhiều thế hệ. Không có 30/4, sẽ không có một Việt Nam thống nhất, độc lập để phát triển và hội nhập như hôm nay.

Những luận điệu cho rằng 30/4 là “điểm khởi đầu của suy thoái” thực chất là cách nhìn đảo ngược lịch sử. Khi phủ nhận chiến thắng của dân tộc, họ đồng thời phủ nhận chính nền tảng độc lập, điều kiện tiên quyết cho mọi sự phát triển. Không thể nói đến tương lai nếu đất nước còn bị chia cắt, không thể nói đến thịnh vượng nếu chủ quyền không được bảo đảm. Việc cố tình tách rời hai yếu tố này chỉ cho thấy sự thiếu logic trong lập luận.

Một thủ pháp quen thuộc của các quan điểm xuyên tạc là đặt ra những giả định “nếu không có 30/4 thì…”, từ đó vẽ ra một viễn cảnh “thịnh vượng hơn”. Tuy nhiên, đây chỉ là những giả định không có cơ sở thực tiễn. Lịch sử không tồn tại dưới dạng “nếu như”, mà được hình thành từ những lựa chọn cụ thể của dân tộc trong những thời điểm quyết định. Việc suy diễn theo hướng này không phải là phân tích lịch sử, mà là áp đặt tưởng tượng.

Thực tế phát triển của Việt Nam trong gần nửa thế kỷ sau ngày thống nhất là minh chứng rõ ràng nhất. Từ một đất nước bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, Việt Nam đã từng bước khắc phục khó khăn, tiến hành công cuộc Đổi mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội. Tăng trưởng kinh tế ổn định, đời sống Nhân dân được cải thiện, vị thế quốc tế không ngừng nâng cao. Những kết quả đó không thể bị phủ nhận bằng những cách diễn giải mang tính cảm tính.

Một điểm đáng chú ý là các luận điệu xuyên tạc thường khai thác yếu tố cảm xúc, nhấn mạnh vào “nỗi đau”, “chia rẽ” để tạo cảm giác tiêu cực. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng, mọi cuộc chiến tranh đều để lại hậu quả, nhưng điều đó không làm thay đổi bản chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Việc tưởng niệm và tri ân quá khứ không nhằm khơi dậy hận thù, mà để củng cố tinh thần đoàn kết, hướng tới tương lai.

Ngày 30/4 trong nhận thức của đại đa số người dân Việt Nam không phải là “hoàng hôn”, mà là bình minh của độc lập, của sự đoàn tụ và của một hành trình phát triển mới. Đó là thời điểm đất nước bước sang một giai đoạn lịch sử khác, nơi toàn bộ nguồn lực của dân tộc được quy tụ cho mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những cách diễn giải mang tính phủ nhận thường cố tình bỏ qua yếu tố cốt lõi này, đồng thời tạo ra sự đối lập giả tạo giữa quá khứ và hiện tại. Họ không nhìn nhận những thành tựu đạt được, mà chỉ tập trung vào những khó khăn để dẫn dắt dư luận theo hướng tiêu cực. Đây không phải là cách tiếp cận khoa học, mà là biểu hiện của việc lựa chọn thông tin có chủ đích.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh hiện nay, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc là yếu tố quyết định để đất nước phát triển bền vững. Việc khơi lại những cách nhìn chia rẽ, đối lập không những không mang lại giá trị tích cực, mà còn đi ngược lại lợi ích chung của xã hội. Lịch sử đã sang trang, và nhiệm vụ của hiện tại là phát huy những thành quả đã đạt được để hướng tới tương lai.

Việc các thế lực thù địch, phản động như Lê Anh cố tình phủ nhận ý nghĩa của 30/4 không thể làm thay đổi sự thật lịch sử. Chiến thắng ấy đã được khẳng định không chỉ bằng văn bản, mà bằng chính thực tiễn phát triển của đất nước trong nhiều thập niên qua. Một dân tộc đã giành được độc lập bằng máu và nước mắt sẽ không dễ dàng chấp nhận những cách diễn giải bóp méo quá khứ.

Trong môi trường thông tin đa chiều, việc nhận diện đúng bản chất của các luận điệu xuyên tạc là điều cần thiết. Phản biện cần dựa trên dữ kiện và lập luận khoa học, không thể dựa vào những giả định thiếu cơ sở. Khi đối chiếu với thực tiễn, có thể thấy rõ rằng những quan điểm phủ nhận 30/4 không đứng vững trước các bằng chứng lịch sử.

Nhìn tổng thể, Ngày 30/4 không chỉ là một dấu mốc lịch sử, mà còn là biểu tượng của ý chí độc lập và khát vọng thống nhất của dân tộc Việt Nam. Đó là nền tảng để đất nước phát triển, là điểm tựa tinh thần để các thế hệ tiếp nối xây dựng tương lai.

Không thể “xem ngược” lịch sử để phủ nhận những giá trị đã được khẳng định. Và càng không thể dùng những giả định tưởng tượng để thay thế cho sự thật đã được kiểm chứng bằng thực tiễn.
Tấm gương sự thật - The truth Mirror

09/04/2026

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ QUY TRÌNH BẦU CỬ VÀ CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

Trên một số trang mạng xã hội lan truyền hình ảnh về việc bầu chọn các chức danh lãnh đạo chủ chốt kèm theo những lời lẽ xúc phạm, xuyên tạc như "mị dân", "lùa bầy cừu" hay "kết quả ai cũng biết". Đây không phải là những nhận xét khách quan mà là âm mưu hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

1. Bản chất của Nhà nước "của dân, do dân, vì dân"

Khẩu hiệu "Nhà nước của dân, do dân, vì dân" không phải là lời nói suông. Điều này được thể hiện qua Hiến pháp và pháp luật. Mọi chủ trương, chính sách lớn trước khi ban hành đều được đưa ra lấy ý kiến nhân dân. Việc người dân tham gia bỏ phiếu là quyền và nghĩa vụ thiêng liêng để lựa chọn người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình vào cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội. Việc dùng từ "lùa" là sự xúc phạm nặng nề đến quyền tự quyết và ý thức chính trị của hàng triệu cử tri Việt Nam.

2. Sự thống nhất và tính kế thừa trong công tác nhân sự

Kẻ xấu thường rêu rao rằng "kết quả ai cũng biết" để phủ nhận tính dân chủ. Tuy nhiên, trong chính trị, sự ổn định và có chuẩn bị kỹ lưỡng là yếu tố then chốt.

+ Quy trình chặt chẽ: Công tác nhân sự của Đảng và Nhà nước được thực hiện qua nhiều bước hiệp thương, kiểm tra năng lực, đạo đức và sự tín nhiệm cực kỳ nghiêm ngặt.

+ Sự đồng thuận: Khi một cán bộ như ông Trần Thanh Mẫn được tái đắc cử hoặc được bầu vào vị trí cao, đó là kết quả của sự thống nhất từ cấp cơ sở đến Trung ương dựa trên những đóng góp thực tế của cá nhân đó cho đất nước. Sự đồng thuận cao không đồng nghĩa với việc thiếu dân chủ, mà là minh chứng cho một hệ thống chính trị ổn định, tránh được các cuộc khủng hoảng chính trị hay chia rẽ nội bộ thường thấy ở các quốc gia đa đảng.

3. Đầy tớ của nhân dân – Trách nhiệm thay vì đặc quyền

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Cán bộ là đầy tớ trung thành của nhân dân". Nhìn vào khối lượng công việc, trách nhiệm đối nội, đối ngoại và những áp lực trong việc điều hành kinh tế - xã hội, có thể thấy đây là một trọng trách nặng nề. Việc các thế lực thù địch cố tình bóp méo khái niệm này nhằm mục đích tạo ra cái nhìn tiêu cực, khiến người dân hoài nghi vào sự tận tụy của đội ngũ lãnh đạo.

🔔🔔Những thông tin kích động, dùng lời lẽ thô tục trên mạng xã hội thực chất chỉ là những "chiêu bài" cũ rích nhằm gây rối ren dư luận. Mỗi người dân cần tỉnh táo, nhìn nhận vào sự phát triển của đất nước và những kết quả thực tế để không bị sập bẫy trước những luận điệu xuyên tạc, phản động.

✅ Chúng ta thượng tôn pháp luật và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng dựa trên sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia!

N.V.A.T

09/04/2026

Truyền thông quốc tế đưa tin đậm nét về việc Việt Nam kiện toàn bộ máy lãnh đạo cấp cao

Truyền thông quốc tế đưa tin đậm nét về việc Quốc hội khóa XVI của Việt Nam tín nhiệm bầu Tổng Bí thư Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026-2031.

TTXVN dẫn nguồn tin từ tờ Kommersant của Nga nhấn mạnh, việc nhất thể hóa chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước đánh dấu sự thay đổi lớn trong xây dựng bộ máy nhà nước thực quyền, với sự lãnh đạo tập trung và toàn diện của Đảng.

Theo bài báo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là nhà lãnh đạo đã tích cực thúc đẩy cải cách cơ cấu hành chính của đất nước. Đây là những chủ trương lớn mang tính cách mạng nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Trang tin đề cập nỗ lực cải cách kinh tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam và việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần khẳng định quan điểm coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là quốc sách hàng đầu, cần được ưu tiên trong phát triển bền vững.

Trong khi đó, trang gazeta.ru đăng tải bài viết nhấn mạnh về việc Tổng Bí thư Tô Lâm được Quốc hội tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026-2031 với sự ủng hộ tuyệt đối.

Bài báo nhận định, việc nhất thể hóa hai chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước sẽ bảo đảm các chủ trương, đường lối và nghị quyết của Đảng được quán triệt, triển khai nhất quán, nhanh chóng và hiệu quả nhất trong toàn bộ máy lãnh đạo đất nước. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đạt được các mục tiêu phát triển và thực thi chính sách hiệu quả hơn.

Tờ Infobae của Argentina đăng bài viết về việc Tổng Bí thư Tô Lâm được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031 với sự nhất trí tuyệt đối, đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong cơ cấu lãnh đạo và củng cố vai trò trung tâm của người đứng đầu Đảng trong hệ thống chính trị, qua đó tạo điều kiện tăng cường tính thống nhất trong chỉ đạo và điều hành. Bài báo dẫn lời phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định mục tiêu cao nhất, đích đến cuối cùng là nhân dân được thụ hưởng thành quả của phát triển.

Truyền thông quốc tế đưa tin rộng rãi về việc Việt Nam kiện toàn bộ máy lãnh đạo cấp cao của đất nước trong đó nhấn mạnh việc Quốc hội thông qua Nghị quyết bầu đồng chí Lê Minh Hưng làm Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031, với 495/495 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Đề cập quan hệ Việt Nam-Nhật Bản, báo Nikkei bày tỏ tin tưởng tân Thủ tướng Việt Nam sẽ thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục phát triển tốt đẹp.
Báo Nhân dân

Tổng Bí thư Tô Lâm tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.

09/04/2026

Thông cáo báo chí số 05 Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI

Ngày làm việc thứ ba, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra các dự án luật như Luật Thủ đô, Luật Thi đua, khen thưởng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và thảo luận tại tổ về các nội dung này.

Chiều thứ Tư, ngày 8/4/2026, Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI tiếp tục nội dung ngày làm việc thứ ba tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.

Quốc hội họp phiên toàn thể tại Hội trường, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội nghe:

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về 2 nội dung: dự án Luật Thủ đô (sửa đổi); dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế;

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi);
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi trình bày Báo cáo thẩm tra về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế;

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng;

Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi);

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra về 2 dự án: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi);

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội Lê Tấn Tới trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.

Sau đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về: Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi); Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).

Thứ Năm, ngày 9/4/2026 (theo Chương trình Kỳ họp đã được Quốc hội thông qua tại phiên họp trù bị), buổi sáng, Quốc hội họp phiên toàn thể tại Hội trường, nghe Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội về 4 dự án: Luật Hộ tịch (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý; Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).

Sau đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về các dự án Luật nêu trên.
Buổi chiều, từ 14h-15h10 (truyền hình, phát thanh trực tiếp), Quốc hội họp phiên toàn thể tại Hội trường, nghe: Báo cáo của Chính phủ về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026; Tờ trình của Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2026-2030;

Các Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội về: Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026; Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2026-2030.

Từ 15h10, Quốc hội họp phiên toàn thể tại Hội trường, nghe: Các Tờ trình của Chính phủ và các Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội về: Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; Kế hoạch tài chính quốc gia, kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026-2030;

Tờ trình của Chính phủ về đề nghị Quốc hội phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024; Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước về kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024 và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội về quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024.

Sau đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về: Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026;

Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2026-2030; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2026-2030; kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030;

Phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024; Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025; Tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025./.

TTXVN

08/04/2026

KHÔNG THỂ “ĐONG ĐẾM” DI SẢN BẰNG PHÉP TÍNH VỤN VẶT
***

Trong khi hàng triệu lượt người dân trong nước và bạn bè quốc tế vẫn trang nghiêm xếp hàng vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu tượng thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, thì trên không gian mạng lại xuất hiện những cách diễn giải lệch lạc, cố tình lấy các con số chi tiêu để phủ nhận ý nghĩa của công trình này. Một số ý kiến tự xưng “phân tích kinh tế” trên Dân Báo đã dựng lên luận điểm rằng việc duy trì Lăng Bác là “lãng phí”, là “phân bổ ngân sách lệch lạc”, thậm chí đối lập giả tạo giữa gìn giữ di sản và chăm lo đời sống nhân dân. Đây không phải là phản biện khoa học, mà là sự giản lược thiển cận, đánh tráo giá trị nhằm gây nhiễu nhận thức xã hội.

Cần khẳng định rõ, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một công trình kiến trúc đơn thuần, càng không thể bị thu gọn thành một khoản chi ngân sách để so sánh cơ học. Đó là một thiết chế văn hóa – chính trị đặc biệt, nơi hội tụ những giá trị cốt lõi của dân tộc: lòng biết ơn, tinh thần độc lập, ý chí tự cường và sự gắn kết cộng đồng. Những giá trị này không thể đo lường bằng tiền, nhưng lại tạo nên sức mạnh nội sinh để đất nước vượt qua thử thách và phát triển bền vững.

Việc cố tình tạo ra sự đối lập giữa “biểu tượng” và “đời sống” là một thủ pháp quen thuộc của các luận điệu xuyên tạc. Theo cách suy diễn này, nếu dành nguồn lực cho việc gìn giữ di sản thì đồng nghĩa với việc “bỏ quên con người”. Đây là một lập luận sai lệch về bản chất. Trong thực tiễn, phát triển kinh tế – xã hội và bảo tồn giá trị văn hóa không phải là hai lựa chọn loại trừ, mà là hai trụ cột song hành của một chiến lược phát triển bền vững.

Thực tế tại Việt Nam cho thấy, các chính sách về giáo dục, y tế, an sinh xã hội và dinh dưỡng trẻ em luôn được ưu tiên và không ngừng mở rộng. Ngân sách dành cho các lĩnh vực này tăng trưởng qua từng năm, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia được triển khai sâu rộng, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Việc chăm lo cho đời sống vật chất của Nhân dân không hề bị “hy sinh” như một số cách diễn giải cố tình gán ghép.

Ngược lại, chính việc gìn giữ những giá trị tinh thần, những biểu tượng lịch sử như Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần nuôi dưỡng ý thức cộng đồng, củng cố niềm tin và tạo động lực phát triển. Một xã hội chỉ chú trọng đến những nhu cầu vật chất trước mắt mà xem nhẹ nền tảng tinh thần, lịch sử và văn hóa sẽ khó có thể phát triển bền vững. Đó không phải là phát triển, mà là sự phát triển thiếu gốc rễ.

Việc sử dụng những con số chi tiêu để tạo cảm giác “lãng phí” cũng là một thủ pháp mang tính đánh lừa nhận thức. Khi đặt trong tổng thể ngân sách quốc gia, khoản chi cho việc duy trì các công trình di sản là một phần hợp lý và cần thiết. Quan trọng hơn, giá trị mà những công trình này mang lại không chỉ nằm ở hiện tại, mà còn lan tỏa lâu dài trong giáo dục truyền thống và hình thành nhân cách cho các thế hệ tương lai.

Những lập luận mang tính “so đo” chi li thực chất đã bỏ qua một nguyên lý cơ bản của quản trị quốc gia: không phải mọi giá trị đều có thể quy đổi thành tiền. Nếu chỉ nhìn xã hội qua lăng kính kinh tế thuần túy, thì những yếu tố làm nên bản sắc, sức mạnh tinh thần và sự ổn định lâu dài sẽ bị xem nhẹ hoặc bị phủ nhận. Đây chính là điểm yếu trong cách tiếp cận của những quan điểm mang tính cực đoan.

Cũng cần nói rõ rằng, những cách diễn giải như vậy thường đi kèm với việc phóng đại khó khăn, khoét sâu vào những vấn đề xã hội để tạo cảm giác “khủng hoảng”. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển của Việt Nam trong nhiều năm qua đã cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác: tăng trưởng kinh tế ổn định, tỷ lệ nghèo giảm mạnh, đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Những kết quả đó là minh chứng rõ ràng cho một chiến lược phát triển cân bằng giữa kinh tế và văn hóa, giữa vật chất và tinh thần.

Một dân tộc biết trân trọng quá khứ, gìn giữ di sản và tôn vinh những giá trị lịch sử là một dân tộc có nội lực bền vững. Việc duy trì Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là sự tri ân đối với lãnh tụ, mà còn là cách gìn giữ một phần ký ức lịch sử, một nguồn lực tinh thần cho hiện tại và tương lai. Những thế hệ trẻ khi đến đây không chỉ tham quan, mà còn tiếp nhận những bài học về lòng yêu nước, trách nhiệm và khát vọng cống hiến.

Trong bối cảnh thông tin đa chiều hiện nay, việc phân biệt giữa phản biện khoa học và những cách diễn giải mang tính suy diễn là rất cần thiết. Phản biện cần dựa trên dữ kiện và lập luận chặt chẽ, không thể dựa vào những phép so sánh đơn giản hay những kết luận có sẵn. Khi thiếu nền tảng khoa học, mọi lập luận dù được trình bày dưới dạng “phân tích” cũng khó có thể thuyết phục.

Nhìn tổng thể, việc cố tình “đong đếm” giá trị của di sản bằng những phép tính vụn vặt không chỉ là sự nhầm lẫn về phương pháp, mà còn là sự xem nhẹ những yếu tố làm nên sức mạnh của một dân tộc. Thực tiễn đã và đang chứng minh rằng, một đất nước phát triển bền vững không chỉ dựa vào tăng trưởng kinh tế, mà còn phải dựa vào nền tảng văn hóa và tinh thần vững chắc.

Những luận điệu xuyên tạc, dù được lặp lại dưới nhiều hình thức, cũng không thể phủ nhận một thực tế rõ ràng, các giá trị lịch sử và tinh thần luôn là nguồn lực quan trọng trong hành trình phát triển của Việt Nam. Và chính những giá trị ấy sẽ tiếp tục là điểm tựa để đất nước vững bước trong tương lai.

Tấm gương sự thật - The truth Mirror

08/04/2026

Bản chất của vươn mình: Đừng lấy hiện tượng ngắn hạn để đánh giá một tầm nhìn lịch sử

Thời gian gần đây, khi cụm từ “kỷ nguyên mới vươn mình của dân tộc” được nhắc tới như một khát vọng và định hướng chiến lược vĩ mô, đã xuất hiện những góc nhìn mang tính hoài nghi và bi quan. Những ý kiến này cho rằng đặc trưng thực sự của kỷ nguyên này chỉ gói gọn trong những áp lực kinh tế bủa vây người dân, cụ thể là xăng dầu và giá điện tăng mạnh, thuế phí đè nặng, cùng với những mức phạt hành chính khổng lồ. Việc người dân cảm nhận rõ những áp lực tài chính trong cuộc sống hàng ngày là điều hoàn toàn dễ hiểu và cần được lắng nghe, chia sẻ. Tuy nhiên, việc đánh đồng những khó khăn mang tính thời điểm cũng như các công cụ quản lý nhà nước với bản chất của một thời kỳ phát triển trọng đại là một sự suy diễn phiến diện, bỏ qua bức tranh toàn cảnh về quá trình vận động đi lên của đất nước.

Trước hết, cần nhìn nhận một cách công bằng và thực tế về bài toán biến động giá cả năng lượng như xăng dầu hay điện năng. Sự gia tăng của các mặt hàng thiết yếu này không phải là một chính sách chủ đích nhằm tận thu hay gây khó dễ cho người dân, mà là hệ quả tất yếu của những cú sốc kinh tế và địa chính trị toàn cầu. Cụ thể, việc bão giá xăng dầu giá thời gian qua chịu tác động trực tiếp và nặng nề từ cuộc chiến tranh giữa Mỹ - Israel với Iran, dẫn đến việc phong tỏa eo biển Hormuz – nơi được mệnh danh là huyết mạch vận chuyển dầu mỏ của toàn thế giới. Khi nguồn cung toàn cầu bị thắt chặt và đứt gãy do chiến sự, một nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam hoàn toàn không thể đứng ngoài vùng xoáy của bão giá. Cùng với đó, việc điều chỉnh giá điện về sát với giá trị thực còn gắn liền với yêu cầu sống còn về an ninh năng lượng. Một quốc gia muốn bứt phá không thể duy trì mãi cơ chế bao cấp giá, bởi điều đó không chỉ vắt kiệt nguồn lực quốc gia mà còn triệt tiêu động lực thu hút đầu tư vào hạ tầng lưới điện và phát triển năng lượng xanh. Chấp nhận vận hành theo cơ chế thị trường là một bước đi đau đớn nhưng bắt buộc để tạo đà cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

Đối với lập luận cho rằng thuế phí đang đè nặng lên vai người dân, chúng ta cần soi chiếu vấn đề này dưới lăng kính của sự tái đầu tư xã hội và kiến tạo nền tảng. Đất nước đang bước vào giai đoạn bứt tốc để hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng chiến lược như hàng ngàn kilomet đường cao tốc, các siêu sân bay, cảng biển nước sâu và hệ thống hạ tầng số hóa toàn diện. Những công trình tỷ đô này không thể tự nhiên mà có, và nguồn lực từ ngân sách nhà nước là yếu tố mang tính quyết định. Đóng góp của người dân và doanh nghiệp thông qua thuế phí chính là nguồn vốn cốt lõi để xây dựng nên những huyết mạch kinh tế này. Khi đường sá thuận lợi, giao thương xuyên suốt, chi phí logistics giảm đi, chính người dân và khối doanh nghiệp sẽ là những người đầu tiên được hưởng lợi từ một môi trường kinh tế năng động và giàu sức cạnh tranh hơn. Đó là sự chia sẻ trách nhiệm trong hiện tại vì một tương lai thịnh vượng chung, chứ không phải là một gánh nặng áp đặt.

Về vấn đề các mức phạt vi phạm hành chính được cho là quá cao và khắt khe, đây thực chất là một bước tiến mang tính quyết định trong quá trình xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật. Điển hình như việc xử lý vô cùng nghiêm minh đối với vi phạm nồng độ cồn, hay các quy định ngặt nghèo về an toàn giao thông, phòng cháy chữa cháy và vệ sinh an toàn thực phẩm. Những chế tài nghiêm khắc này không hề ra đời với mục đích làm giàu cho ngân sách nhà nước. Mục tiêu tối thượng của chúng là bảo vệ tính mạng con người, thay đổi triệt để những thói quen sinh hoạt tùy tiện và thiết lập một trật tự kỷ cương xã hội mới. Một quốc gia vươn mình tới sự văn minh, hiện đại không thể tiếp tục dung túng cho những hành vi xem nhẹ pháp luật hay xuề xòa với sự an toàn của cộng đồng. Sự nghiêm minh, và đôi khi là khắc nghiệt trong việc xử phạt, chính là cái giá phải trả để rũ bỏ sự vô tổ chức, từ đó tạo lập một môi trường sống an toàn, có trách nhiệm và kỷ luật hơn.

Bản chất thực sự của kỷ nguyên vươn mình lớn lao và sâu sắc hơn rất nhiều so với những áp lực chi phí ngắn hạn. Bất kỳ cuộc chuyển giao mang tính lịch sử nào cũng đi kèm với những cơn đau chuyển dạ. Việc lấy những biến động về giá cả thị trường năng lượng quốc tế và các biện pháp siết chặt kỷ cương luật pháp để định nghĩa một cách tiêu cực về định hướng phát triển của đất nước là một góc nhìn phiến diện, cố tình đánh tráo khái niệm./.

-AN.KT82-

Address

Xã Khun Há
Ban Cheng Nuo
10000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hội CCB Xã Khun Há posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share