Công an phường 2 - TP Trà Vinh

Công an phường 2 - TP Trà Vinh Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Công an phường 2 - TP Trà Vinh, Law enforcement agency, Ba Don.

13/12/2024
CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ SỨC KHỎE TRƯỚC ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍTheo Tổ chức Y tế thế giới và các nghiên cứu cho thấy...
04/12/2024

CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ SỨC KHỎE TRƯỚC ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

Theo Tổ chức Y tế thế giới và các nghiên cứu cho thấy ô nhiễm không khí làm tăng nguy cơ mắc các bệnh viêm đường hô hấp cấp, viêm phổi tắc nghẽn mãn tính, hen suyễn, bệnh tim mạch, đột quỵ và ung thư. Ngoài ra tiếp xúc với chất ô nhiễm trong không khí có thể gây tổn thương da, các bệnh về mắt, tác động đến hệ thần kinh, hệ miễn dịch. Trong thời gian qua, tại một số thành phố đã xảy ra tình trạng ô nhiễm không khí. Do đó, người dân cần tăng cường các biện pháp dự phòng, bảo vệ sức khỏe trước những ảnh hưởng của ô nhiễm không khí như hiện nay.

CẢNH BÁO LỪA ĐẢO TUYỂN DỤNG NHÂN SỰ ONLINE VÀO NGÂN HÀNGTheo Công an thành phố Hà Nội, thời gian qua, xuất hiện thủ đoạn...
04/12/2024

CẢNH BÁO LỪA ĐẢO TUYỂN DỤNG NHÂN SỰ ONLINE VÀO NGÂN HÀNG

Theo Công an thành phố Hà Nội, thời gian qua, xuất hiện thủ đoạn lừa đảo qua hình thức mạo danh ngân hàng để tuyển dụng nhân viên. Các đối tượng sẽ yêu cầu nạn nhân tham gia trải nghiệm dự án của ngân hàng rồi dẫn dắt nạn nhân đầu tư để chiếm đoạt tiền.

HƯỚNG DẪN ĐĂNG KÝ CẤP PHIẾU LÝ LỊCH TƯ PHÁP TRÊN ỨNG DỤNG VNEID
04/12/2024

HƯỚNG DẪN ĐĂNG KÝ CẤP PHIẾU LÝ LỊCH TƯ PHÁP TRÊN ỨNG DỤNG VNEID

04/12/2024

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM “VIỆT NAM THAM GIA CUNG ỨNG SẢN PHẨM QUỐC PHÒNG LÀ TRÁI VỚI CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG HÒA BÌNH, TỰ VỆ”

Xây dựng Quân đội hiện đại không thể không hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 xác định: “Phấn đấu đến năm 2030, công nghiệp quốc phòng sẽ có sức cạnh tranh quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu”. Đây là chủ trương có tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta trong tự chủ, hiện đại hóa nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch xuyên tạc Việt Nam “cung ứng, xuất khẩu sản phẩm quốc phòng ra thế giới là trái với chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam”. Luận điệu này là vô căn cứ, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn nên cần phải phản bác.

Xuyên tạc nhằm chống phá mục đích phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam

Đảng, Nhà nước Việt Nam định hướng xây dựng, hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng là chủ trương đúng đắn có tầm nhìn chiến lược trong bối cảnh diễn biến phức tạp của tình hình khu vực, thế giới đang đe dọa tiềm tàng đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Một trong những mục tiêu có tính đột phá trong phát triển công nghiệp quốc phòng được công bố trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 là phấn đấu đến năm 2030, các sản phẩm được sản xuất từ nền công nghiệp quốc phòng nội địa sẽ tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu (tức là xuất khẩu sản phẩm quốc phòng). Đây là mục tiêu có tính đột phá, đặt ra yêu cầu rất cao phải xây dựng được nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự cường, hiện đại, có sức cạnh tranh quốc tế.

Đây là chủ trương đúng đắn, nhưng bị các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo. Các đối tượng chống phá cho rằng, Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm công nghiệp quốc phòng là “buôn bán vũ khí để kiếm lời, bán vũ khí là gián tiếp gây chiến tranh, xung đột, bất ổn”, “nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam cũng chẳng khác gì bản chất của chủ nghĩa tư bản, trái ngược với bản chất của nền quốc phòng hòa bình, tự vệ”. Đây là luận điệu không đúng sự thật, cố tình chống phá bản chất, mục đích phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Việt Nam tham gia cung ứng sản phẩm quốc phòng chỉ vì mục đích hòa bình, tự vệ

Cần khẳng định rằng, Việt Nam tham gia cung ứng, xuất khẩu sản phẩm quốc phòng không trái ngược với tính chất của nền quốc phòng hòa bình, tự vệ Việt Nam đã công bố với thế giới. Điều đó thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Một là, tính chất của nền quốc phòng Việt Nam là hòa bình, tự vệ, do đó chủ trương tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm quốc phòng không nằm ngoài mục đích hòa bình, tự vệ. Việt Nam công bố công khai với thế giới chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ với mục đích thực hiện quyền tự vệ quốc gia chính đáng. Đây là định hướng căn bản, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tổ chức, hoạt động quốc phòng từ xây dựng, hiện đại hóa Quân đội đến xây dựng, hiện đại hóa các mặt, các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực công nghiệp quốc phòng. Điều đó cũng có nghĩa là mục đích, tính chất của nền quốc phòng Việt Nam chi phối xuyên suốt mục đích xây dựng, hiện đại hóa nền công nghiệp quốc phòng. Theo đó, nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam được xây dựng tự chủ, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng để sản xuất các loại vũ khí, trang bị hiện đại vừa phục vụ mục đích xây dựng Quân đội hiện đại, đủ sức tự chủ với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cũng có khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu để đóng góp xây dựng nền hòa bình thế giới dưới góc độ gia tăng khả năng tự vệ chính đáng của các quốc gia đối tác.

Hai là, xuất khẩu sản phẩm quốc phòng luôn tuân thủ công ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam tham gia xuất khẩu sản phẩm quốc phòng luôn tuân thủ các nguyên tắc theo công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc tuân thủ các thỏa thuận hợp tác song phương, đa phương trong lĩnh vực quốc phòng dựa trên các điều ước quốc tế là nguyên tắc bắt buộc để bảo đảm trật tự thế giới, tránh việc tùy tiện trong trao đổi, mua bán vũ khí, trang bị quân sự vì mục đích chạy đua vũ trang, gây chiến tranh, xung đột, kích động mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, đe dọa sự ổn định và hòa bình thế giới.

Ba là, đối tác để Việt Nam có thể xuất khẩu sản phẩm quốc phòng phải là quốc gia hợp pháp được quốc tế công nhận và là thành viên của Liên hợp quốc có nhu cầu tự vệ chính đáng, phù hợp với chính sách quốc phòng Việt Nam. Theo đó, nếu các đối tác là quốc gia hợp pháp nhưng mục đích sử dụng vũ khí, trang bị được cung ứng từ Việt Nam không được cam kết rõ ràng; hoặc các đối tác không phải là quốc gia hợp pháp được công nhận theo công ước quốc tế; các tổ chức khủng bố; các tổ chức ly khai… không phải là đối tác để Việt Nam cung ứng các sản phẩm quốc phòng. Chỉ các quốc gia hợp pháp được công nhận theo công ước quốc tế, có cam kết sử dụng vũ khí, trang bị vì mục đích hòa bình, tự vệ, mục đích sử dụng đó cũng không nhằm vào bất kể quốc gia thứ ba nào mới là đối tác để Việt Nam cung ứng các sản phẩm quốc phòng theo thỏa thuận.

Bốn là, mục đích sử dụng sản phẩm quốc phòng sản xuất từ Việt Nam là thực hiện quyền tự vệ quốc gia chính đáng. Đối tác mua vũ khí, trang bị hoặc chuyển giao công nghệ sản xuất của nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam phải được thẩm định chặt chẽ về tính pháp lý, nhu cầu, mục đích sử dụng. Theo đó, vũ khí, trang bị là sản phẩm quốc phòng Việt Nam sẽ được xuất khẩu cho đối tác sử dụng với mục đích thực hiện quyền tự vệ chính đáng khi bị đe dọa, bị xâm phạm, bị tấn công xâm lược. Quốc gia đối tác với tư cách là người sử dụng cuối cùng sản phẩm vũ khí, trang bị từ Việt Nam phải có các điều khoản cam kết chặt chẽ, rõ ràng về mục đích sử dụng. Việc sử dụng chỉ với mục đích duy nhất là tự vệ, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia đối tác mà không nhằm gây chiến tranh, xung đột với quốc gia khác, không nhằm vào hoặc đe dọa bất kỳ quốc gia nào.

Năm là, chủng loại vũ khí, trang bị Việt Nam xuất khẩu là các loại có khả năng phòng thủ. Cũng giống như chính sách mua sắm vũ khí, trang bị trong nước, để phù hợp với khả năng hòa bình, tự vệ, Việt Nam chỉ chủ trương mua các loại vũ khí, trang bị, phương tiện có tính năng phòng thủ phù hợp để tự vệ trước các hình thái chiến tranh xâm lược. Việt Nam không chủ trương mua sắm vũ khí tấn công chiến lược, không tham gia chạy đua vũ trang, thực hiện chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ trong mua sắm vũ khí, trang bị. Việc tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm quốc phòng Việt Nam cho các quốc gia đối tác cũng như vậy, sẽ cung ứng vũ khí, trang bị có tính năng phòng thủ, bảo vệ.

Xây dựng công nghiệp quốc phòng Việt Nam có đủ khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

Trước hết, cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trên cơ sở đó tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức làm cho cán bộ, đảng viên, mọi tầng lớp nhân dân nhận thức rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm trong xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Bên cạnh đó, cần làm tốt công tác truyền thông về ý nghĩa phát triển, hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng, sự cần thiết tham gia hội nhập quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng nói chung, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm quốc phòng nói riêng để tạo sự yên tâm, tin tưởng, ủng hộ, hợp tác của cộng đồng quốc tế, của các đối tác nước ngoài về chủ trương, chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam.

Vấn đề có ý nghĩa then chốt là xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia có trình độ chuyên sâu về nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị, đồng thời có khả năng, nghiệp vụ, trình độ pháp lý, ngoại ngữ để đàm phán, thẩm định đối tác trong lĩnh vực mua bán, chuyển giao công nghệ, sản phẩm quốc phòng. Đó là cơ sở nền tảng vững chắc để thực hiện đúng định hướng chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ trong tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu về sản phẩm quốc phòng. Do vậy cần thúc đẩy, nâng cao chất lượng đào tạo các lĩnh vực chuyên sâu về nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị trong nước, đồng thời đẩy mạnh hợp tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia khoa học quân sự, chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ vũ khí, trang bị với các đối tác nước ngoài, nhất là các đối tác chiến lược toàn diện, các đối tác có nền công nghiệp quốc phòng tiên tiến, hiện đại.

Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học-công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số trong sản xuất quốc phòng để nghiên cứu, sản xuất sản phẩm công nghiệp quốc phòng phù hợp với từng đối tác, từng thị trường trong khuôn khổ các nội dung hợp tác quốc tế. Trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và chuyển đổi nền kinh tế số, công nghiệp quốc phòng muốn đạt trình độ hiện đại, đủ sức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu thì không thể nằm ngoài xu thế đó. Việc thay đổi tư duy, cách tiếp cận các dạng thức sản xuất, kinh doanh, thương mại trên nền tảng hạ tầng kinh tế số là một tất yếu. Theo đó, nền công nghiệp quốc phòng phải từng bước cập nhật, ứng dụng nhanh thành tựu Cách mạng công nghiệp 4.0 theo hướng tập trung, chuyên môn hóa, đồng bộ hóa, kết nối hóa để nghiên cứu, thiết kế, sản xuất sản phẩm vũ khí, trang bị mới.

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục đưa ra các luận điệu xuyên tạc, chống phá vấn đề tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của sản phẩm công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Âm mưu của chúng là tìm cách gây nhiễu loạn thông tin, xuyên tạc sự thật để gây áp lực ngăn cản Việt Nam tham gia thị trường thế giới. Do đó, cần tiếp tục phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng; phát huy vai trò của các cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà nghiên cứu và các cơ quan báo chí truyền thông để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc của thế lực thù địch. Cùng với đó, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đồng thuận, ủng hộ chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam; đồng thời củng cố niềm tin của bạn bè quốc tế đối với chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam.

Đại tá ĐẶNG HỒNG SƠN, Giám đốc Nhà máy Z117, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng

04/12/2024

🚨 Ngày 25/12/2024 tới đây, Nghị định 147/2024/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng chính thức có hiệu lực, thay thế Nghị định 72/2013/NĐ-CP và 27/2018/NĐ-CP. Đây được xem là giải pháp mạnh mẽ nhằm:🌐
✅ Ngăn chặn vi phạm trên không gian mạng
✅ Bảo vệ thông tin người dùng
✅ Chống lừa đảo trực tuyến và quảng cáo xấu độc
✅ Tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng trên Internet
📌 Điểm mới nổi bật đáng chú ý:
Quy định rõ ràng quyền và trách nhiệm của người dùng, nhà mạng, và các nền tảng số.
Yêu cầu xác thực danh tính người dùng để xây dựng không gian mạng minh bạch và an toàn.
Tăng cường biện pháp giám sát, ngăn chặn và gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật.
💡 Nghị định được ban hành kịp thời và đúng thời điểm khi hội đủ các điều kiện về hạ tầng công nghệ. Hiện tại, 100% người dân đã có mã số định danh hoặc căn cước công dân gắn chip, các tài khoản viễn thông, tài khoản thanh toán cũng đã được định danh.
📣 Nghị định 147/2024/NĐ-CP không chỉ là quy định pháp lý mà còn là bước tiến lớn để xây dựng một xã hội số trách nhiệm, năng động và minh bạch!

ĐÓNG GÓP CHO CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ, NÂNG CAO VỊ THẾ VIỆT NAMNhững năm qua, Việt Nam đã có nhiều đóng góp hiệu quả cho công v...
04/12/2024

ĐÓNG GÓP CHO CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ, NÂNG CAO VỊ THẾ VIỆT NAM

Những năm qua, Việt Nam đã có nhiều đóng góp hiệu quả cho công việc chung của các tổ chức khu vực và quốc tế, góp phần giải quyết các vấn đề và thách thức mang tính toàn cầu. Thông qua hoạt động này không chỉ chứng minh năng lực, trách nhiệm của Việt Nam đối với các nỗ lực vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng trên toàn thế giới, mà còn khẳng định vai trò, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao của đất nước.

Từ những ý tưởng, sáng kiến…

Những đóng góp của Việt Nam trước hết được thể hiện qua sự tham gia tích cực, có trách nhiệm trong việc tìm giải pháp cho các vấn đề mà Liên hợp quốc (LHQ) – tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh – cũng như các tổ chức khu vực và quốc tế quan tâm.

Đến nay, Việt Nam đã hai lần đảm nhiệm thành công cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (HĐBA) LHQ, qua đó thể hiện trách nhiệm cao, trực tiếp đóng góp vào các nỗ lực duy trì hòa bình, an ninh quốc tế và khu vực. Dấu ấn mà Việt Nam để lại trong nhiệm kỳ đầu tiên (2008-2009) đảm nhiệm cương vị này là đóng góp vào các quyết định trên nhiều vấn đề liên quan đến xung đột tại các khu vực, tái thiết hậu xung đột, chống khủng bố, nâng cao tính minh bạch của HĐBA LHQ; thúc đẩy hợp tác giữa LHQ với các tổ chức khu vực, nhất là trong việc tăng cường lòng tin và đối thoại, ngăn ngừa và giải quyết xung đột, xử lý các thách thức chung toàn cầu.

Trong nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam tiếp tục hoàn thành xuất sắc vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ thông qua việc thúc đẩy bầu không khí đồng thuận, đối thoại, hợp tác vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế; đề xuất nhiều sáng kiến, đóng góp thực chất vào công việc của HĐBA. Điển hình là trên vai trò Chủ tịch HĐBA tháng 1-2020, Việt Nam đã thúc đẩy HĐBA thông qua Tuyên bố Chủ tịch đầu tiên của HĐBA về tôn trọng Hiến chương LHQ, góp phần đề cao giá trị và các nguyên tắc, chuẩn mực ứng xử dựa trên Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế. Tiếp đó, khi đảm nhiệm vai trò Chủ tịch HĐBA vào tháng 4-2021, Việt Nam đã thúc đẩy thông qua Tuyên bố Chủ tịch của HĐBA nhấn mạnh nhu cầu tăng cường hợp tác quốc tế để chung tay giải quyết hậu quả bom, mìn sau chiến tranh đối với an toàn và sinh kế của người dân, cộng đồng.

Ở bình diện khu vực, trong suốt chặng đường đồng hành với ASEAN, Việt Nam đã có nhiều đóng góp thực chất cho hợp tác nội khối cũng như giữa ASEAN với các đối tác. Đặc biệt, trong hai lần đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN vào năm 2010 và 2020, Việt Nam đã thể hiện vai trò dẫn dắt trong đề cao tinh thần đoàn kết, thống nhất nội khối; tăng cường hợp tác, gắn bó, tương trợ và ủng hộ lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên ASEAN; thúc đẩy giải quyết các thách thức an ninh ở khu vực. Còn khi đảm nhiệm vai trò chủ nhà của Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) vào năm 2017, Việt Nam là một trong những quốc gia chủ động đề xuất và tham gia triển khai nhiều sáng kiến liên quan tới các lĩnh vực khác nhau như thương mại, đầu tư, y tế, chống khủng bố…

…đến hành động cụ thể

Bên cạnh việc tích cực đề xuất các ý tưởng, sáng kiến, Việt Nam còn triển khai các hoạt động cụ thể để hỗ trợ cộng đồng quốc tế và các nước bạn bè, đối tác giải quyết các vấn đề nổi cộm.

Một trong những ví dụ điển hình nhất minh chứng cho đóng góp của Việt Nam vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu, đó là từ năm 2014, Việt Nam đã cử sĩ quan tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ tại Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi. Sau 10 năm triển khai, đến nay, Việt Nam đã cử hơn 900 lượt quân nhân, cảnh sát cùng các bệnh viện dã chiến cấp 2 và đội công binh tham gia các phái bộ gìn giữ hòa bình LHQ ở Nam Sudan, Cộng hòa Trung phi, Khu vực Abyei. Các cán bộ, sĩ quan của Việt Nam luôn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, thể hiện bản lĩnh, năng lực chuyên môn tại địa bàn công tác và được lãnh đạo, các quan chức LHQ nhiều lần khen ngợi, đánh giá cao. Điều này đã góp phần lan tỏa hình ảnh tốt đẹp về đất nước, con người và Quân đội nhân dân Việt Nam.

Khi Thổ Nhĩ Kỳ hứng chịu các trận động đất với quy mô và mức độ tàn phá nghiêm trọng vào tháng 2-2023, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên cử lực lượng tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn sang giúp nước bạn. Trong điều kiện khó khăn về nhiều mặt, đặc biệt là thời tiết khắc nghiệt, các cán bộ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội nhân dân Việt Nam đã phối hợp cùng lực lượng của các nước kịp thời xác định nhiều vị trí có người gặp nạn, bàn giao cho chính quyền và lực lượng chức năng Thổ Nhĩ Kỳ xử lý, qua đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đáng chú ý, đây mới là lần đầu tiên Quân đội nhân dân Việt Nam cử lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa động đất ở nước ngoài. Phía Thổ Nhĩ Kỳ nhấn mạnh nghĩa cử cao đẹp này đã thể hiện rõ cam kết của Việt Nam trong việc thực hiện sứ mệnh nhân đạo toàn cầu.

Ngay trong thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, không chỉ tích cực tham gia chia sẻ kinh nghiệm phòng, chống dịch với cộng đồng quốc tế, Việt Nam còn triển khai các hoạt động viện trợ về vật tư, thiết bị y tế cho công cuộc chống dịch của các quốc gia khác ở khu vực cũng như thế giới; đóng góp tài chính cho Quỹ ứng phó Covid-19 của LHQ và cơ chế COVAX; đồng thời cử chuyên gia y tế sang hỗ trợ một số nước ASEAN chống dịch.

Tình hình khu vực và quốc tế đang chứng kiến nhiều chuyển biến, nhưng với những kết quả đã đạt được và với đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho các mục tiêu liên quan đến hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như thế giới.

ANH VŨ

04/12/2024

CẢNH BÁO LỪA ĐẢO KHI MUA VÉ XEM CÁC CHƯƠNG TRÌNH ÂM NHẠC

Công an thành phố Hà Nội vừa phát đi cảnh báo về việc người dân cần tỉnh táo để tránh bị lừa đảo khi mua vé các chương trình âm nhạc thông qua các giao dịch, bài đăng trong hội nhóm trên mạng xã hội. Trước sức hút của các chương trình âm nhạc lớn, nhiều người hâm mộ không thể đăng ký mua được vé khi ban tổ chức mở bán online nên đã phải tìm mua lại vé trên mạng. Việc này tiềm ẩn nguy cơ người dân bị lừa đảo, mất tiền.

ĐỔI THAY TÍCH CỰC Ở VÙNG ĐỒNG BÀO KHMER TÂY NAM BỘÐồng bào Khmer Nam Bộ hiện có hơn 1,3 triệu người, chiếm 4,45% tổng dâ...
04/12/2024

ĐỔI THAY TÍCH CỰC Ở VÙNG ĐỒNG BÀO KHMER TÂY NAM BỘ

Ðồng bào Khmer Nam Bộ hiện có hơn 1,3 triệu người, chiếm 4,45% tổng dân số khu vực Nam Bộ; sinh sống thành cộng đồng, đan xen với các dân tộc Kinh, Hoa và một số dân tộc khác. Nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng; quan tâm, ban hành nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên đầu tư phát triển toàn diện đối với vùng dân tộc và miền núi, trong đó có vùng đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ.

BÀI 1: TẠO NỀN TẢNG VỮNG CHẮC PHÁT TRIỂN VÙNG ĐỒNG BÀO KHMER

Nhờ thực hiện các chính sách, chương trình, dự án, cho nên kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội vùng có đông đồng bào Khmer, các xã biên giới, vùng đặc biệt khó khăn được đầu tư phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân.

Phát triển kết cấu hạ tầng

Mỹ Tú là huyện vùng sâu có đông đồng bào Khmer của tỉnh Sóc Trăng, điều kiện kinh tế, xã hội còn thấp, kết cấu hạ tầng nhiều hạn chế. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thuận Hưng, huyện Mỹ Tú, Châu Thị Muỗi cho biết, xã có hơn 50% dân số là người Khmer. Mới đây, đồng bào Khmer ở ấp Tà Ân B, xã Thuận Hưng rất phấn khởi vì có cầu nông thôn Ðại Ðoàn Kết 3 chiều dài 24m, chiều rộng 3m, tổng kinh phí xây dựng 250 triệu đồng. Khi chưa có cầu, người dân đến chợ phải đi đường vòng, trẻ em đi học và vận chuyển người bệnh gặp nhiều khó khăn. Tính đến cuối năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo của huyện Mỹ Tú chiếm khoảng 6% dân số với gần 1.000 hộ. Năm 2023, địa phương vận động được hơn 19 tỷ đồng, theo đó xây dựng 128 căn nhà, 36 cây cầu và nhiều tuyến lộ giao thông làm bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi.

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Sóc Trăng Hồ Thị Cẩm Ðào cho biết, giai đoạn 2019-2024, từ nguồn lực của 3 Chương trình Mục tiêu quốc gia, tỉnh đã lồng ghép đầu tư, nâng cấp, làm mới kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số. Qua đó, 100% xã có đường ô-tô đến trung tâm; 99% số hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số được sử dụng lưới điện quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 99,65%. Toàn tỉnh đã có 70 trong số 80 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó 34 xã vùng dân tộc thiểu số; 4 huyện, thị xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Tại Kiên Giang, thông qua nguồn lực của Trung ương và địa phương, thời gian qua tỉnh đã tập trung đầu tư thực hiện các chương trình, dự án, chính sách, hạ tầng vùng đồng bào Khmer.

Trưởng ban Dân tộc tỉnh Kiên Giang Danh Phúc cho biết, giai đoạn 2019-2024, từ nguồn vốn nhà nước và các nguồn lực khác, tỉnh đã xây dựng 244 công trình cầu, đường giao thông, trạm xá, trường học, hệ thống thủy lợi ở vùng đồng bào Khmer với tổng kinh phí 672 tỷ đồng. Nhờ kinh phí phân bổ từ 3 Chương trình Mục tiêu quốc gia, tỉnh Kiên Giang đầu tư hạ tầng vùng đồng bào Khmer, qua đó cơ bản bảo đảm giao thông nông thôn thuận tiện; điện lưới quốc gia, hệ thống thủy lợi bảo đảm cho sản xuất và sinh hoạt, hạ tầng viễn thông được kết nối.

Từ Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, tỉnh Trà Vinh kết hợp xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, giảm nghèo bền vững.

Theo Trưởng ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh Kiên Ninh, giai đoạn 2022-2025, tỉnh Trà Vinh triển khai các dự án hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số với tổng mức đầu tư hơn 271 tỷ đồng. Bên cạnh đó còn triển khai dự án cấp điện nông thôn với tổng mức đầu tư hơn 307 tỷ đồng, mục tiêu cấp điện sinh hoạt cho hơn 12.000 hộ đồng bào Khmer. Trước đây, từ nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, tỉnh thực hiện dự án cung cấp điện cho 20.000 hộ dân chưa có điện, chủ yếu là hộ đồng bào Khmer tại 83 xã với tổng kinh phí hơn 227 tỷ đồng. Dự án đưa vào khai thác, nâng tỷ lệ hộ đồng bào Khmer sử dụng điện từ 93,8% lên 97,4%, cải thiện đáng kể đời sống vật chất, tinh thần người dân.

Theo Ủy ban Dân tộc, giai đoạn 2016-2020, thực hiện Chương trình 135 trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, toàn khu vực Tây Nam Bộ có 95 xã khu vực 3, 14 xã biên giới và 417 ấp đặc biệt khó khăn của 10 tỉnh, thành phố được thụ hưởng đầu tư với tổng kinh phí hơn 1.721 tỷ đồng, bằng 7,1% vốn Chương trình 135 của cả nước. Từ nguồn vốn này đã xây dựng được 1.613 công trình, hầu hết là giao thông (1.360 công trình), 43 công trình thủy lợi, 9 công trình điện, 105 công trình văn hóa, 1 công trình y tế, 70 công trình giáo dục, 3 công trình nước sinh hoạt và 22 công trình xây dựng khác…

Giai đoạn 2021-2023, hầu hết các chính sách dân tộc được tích hợp vào Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, các địa phương vùng Tây Nam Bộ được phân bổ ngân sách hơn 2.707 tỷ đồng. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc Khmer giảm bình quân từ 2-4%/năm.

Nâng cao đời sống đồng bào

Trong căn nhà khang trang, gia đình ông Lý Be, xã Ðại Tâm, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng người già, người trẻ đang tíu tít chuẩn bị Lễ cúng Trăng. Ông Lý Be hồ hởi: “Năm nay làm ăn thuận lợi, các con cháu tui cùng tề tựu sum vầy đón Lễ Oóc Om Bóc thật vui!”.

Mừng Lễ Oóc Om Bóc năm nay, các phum sóc vùng đồng bào Khmer Sóc Trăng thật rôm rả, tươi vui. Nhiều ngôi nhà ở thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi mới được xây dựng, giúp người dân đón nghi lễ truyền thống của dân tộc mình thêm tươm tất.

Ông Trần Diệu ngụ ấp Trà Quýt A, thị Trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng cho biết, đây là năm đầu tiên gia đình ông được đón lễ ấm cúng và đầy đủ nhất trong ngôi nhà mới do chính quyền trao tặng. Gia đình nghèo, không có đất sản xuất cho nên ông Diệu phải xa quê đi mưu sinh khắp nơi. Hơn 6 năm làm công cố gắng tích cóp nhưng cũng không đủ tiền xây ngôi nhà đàng hoàng để ở. Nhờ được Nhà nước hỗ trợ cùng với số tiền dành dụm sau bao năm, ông đã xây được ngôi nhà mới khang trang để gia đình ổn định cuộc sống.

Trưởng ban Dân tộc tỉnh Sóc Trăng Lâm Hoàng Mẫu cho biết, đến nay toàn tỉnh đã hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 4.607 hộ với 67 mô hình phát triển sản xuất, góp phần đa dạng hóa sinh kế cộng đồng và giảm nghèo bền vững. Ðến cuối năm 2023, trên địa bàn tỉnh còn 4.116 hộ nghèo là người dân tộc thiểu số, giảm 6.545 hộ so với năm 2021. Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm 2%/năm, trong đó giảm tỷ lệ hộ dân tộc Khmer nghèo 3%/năm. Nhờ việc triển khai hiệu quả các chính sách cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần quan trọng nâng cao đời sống người dân. Qua đó, đồng bào càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ðảng, phát huy tốt khối đại đoàn kết các dân tộc, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế-xã hội. Riêng năm 2023, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 6,54%, GRDP bình quân đầu người là 60,1 triệu đồng/người/năm.

Sự chung tay góp sức của nhiều cấp, ngành và xã hội đã đem đến những hiệu quả tích cực. Mới đây, Bộ Công an đã vận động các nguồn lực hỗ trợ xây 1.300 căn nhà Ðại đoàn kết tặng hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn về nhà ở tỉnh Trà Vinh; trong đó chủ yếu là hộ đồng bào dân tộc thiểu số.

Trà Cú là huyện vùng sâu của tỉnh, với dân số hơn 156 nghìn người, đồng bào Khmer chiếm hơn 62%. Giai đoạn 2022-2024, huyện được hỗ trợ nhà Ðại đoàn kết nhiều nhất tỉnh với gần 1.000 căn, kinh phí hơn 45 tỷ đồng.

Cùng gia đình đón Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây, Sen Dolta, Lễ Oóc Om Bóc năm 2024 trong ngôi nhà mới khang trang trị giá 80 triệu đồng, ông Sơn Nhung, xã Thanh Sơn, huyện Trà Cú phấn khởi cho biết: “Gia đình tôi rất vui mừng. Cảm ơn Ðảng, Nhà nước, chính quyền xã đã xét hỗ trợ nhà đại đoàn kết”.

Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Trà Vinh Lê Thanh Bình cho biết năm 2024, từ nguồn quỹ an sinh xã hội tỉnh, các địa phương triển khai hỗ trợ 1.999 căn nhà Ðại đoàn kết cho hộ khó khăn về nhà ở với kinh phí hơn 100 tỷ đồng. Ðến nay, các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đã tổ chức lễ bàn giao nhà. Nhờ những chính sách hỗ trợ hiệu quả, dự kiến cuối năm 2024 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của tỉnh Trà Vinh giảm 0,3%, tương đương giảm 862 hộ; trong đó tỷ lệ hộ nghèo dân tộc Khmer giảm 0,5%, tương đương 451 hộ; phấn đấu giảm tỷ lệ hộ cận nghèo khoảng 1%, tương đương 1.724 hộ; thu nhập bình quân đầu người ước đạt hơn 93,7 triệu đồng. Ðến nay, 100% xã của tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao; tất cả 9 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh đạt chuẩn và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao; phấn đấu hoàn thành xây dựng tỉnh nông thôn mới trước năm 2025.

(Còn nữa)

LIÊN PHONG và TRINH KHỞI

CON NGƯỜI – CHỦ THỂ THAM GIA, THỤ HƯỞNG THÀNH QUẢ CỦA PHÁT TRIỂNKhi con người tham gia tích cực vào quá trình phát triển...
04/12/2024

CON NGƯỜI – CHỦ THỂ THAM GIA, THỤ HƯỞNG THÀNH QUẢ CỦA PHÁT TRIỂN

Khi con người tham gia tích cực vào quá trình phát triển, lẽ dĩ nhiên, không ai khác, chính họ phải là người đầu tiên được thụ hưởng thành quả phát triển đó.

Từ năm 1986 với việc thông qua Tuyên ngôn về quyền phát triển, Liên hợp quốc (LHQ) đã chính thức thừa nhận quyền phát triển vừa là quyền của cá nhân, vừa là quyền tập thể (quyền của nhóm, quốc gia, dân tộc).Và hiện nay, LHQ đang dự thảo Công ước quốc tế về quyền phát triển, hướng tới hiệu lực pháp lý quốc tế bắt buộc đối với các quốc gia thành viên khẳng định quyền phát triển là quyền con người, trong đó, bao gồm cả quyền của cá nhân và quyền của tập thể.

Với thế và lực sau gần 40 năm đổi mới đất nước, với thời cơ, vận hội mới đang đặt ra yêu cầu cần phải phát huy cao nhất nguồn lực con người, cũng như để con người xã hội chủ nghĩa được thừa hưởng tốt nhất thành quả của công cuộc đổi mới, phát triển.

Quyền tham gia và quyền thụ hưởng thành quả của phát triển
Lời mở đầu Tuyên bố của LHQ về quyền phát triển năm 1986 thừa nhận rằng, “con người là trung tâm của quá trình phát triển và do đó chính sách phát triển cần phải đưa con người tham gia chính và được thụ hưởng thành quả của sự phát triển”.

Trong Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (năm 1993) tái khẳng định, “bởi con người là chủ thể trung tâm của các quyền và tự do cơ bản nên con người phải là đối tượng được thụ hưởng chính, cũng như phải tham gia tích cực vào việc thực hiện những quyền và tự do của mình”.

Thứ nhất, bàn về sự tham gia của con người vào quá trình phát triển. Tuyên ngôn về quyền phát triển năm 1986, Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna năm 1993 nhấn mạnh, các chính sách phát triển cần phải đưa con người trở thành người tham gia chính và tham gia tích cực vào việc thực hiện những quyền và tự do của con người.

Đó là các chính sách phát triển của quốc gia phải đưa con người trở thành người tham gia chính, có mối liên hệ với cách tiếp cận lấy con người là trung tâm, chủ thể của các chương trình, chiến lược phát triển, tức phát triển vì con người. Khía cạnh này, con người là mục tiêu hướng tới, mục tiêu cần đạt được trong hoạch định các chương trình, chính sách phát triển. Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu phát triển vì con người, con người không thể thụ động, chờ đợi mà phải tham tích cực vào quá trình phát triển.

Theo chuẩn mực quốc tế, trách nhiệm đầu tiên trong việc thực hiện các quyền con người trước hết thuộc về nhà nước với 3 cấp độ nghĩa vụ (tôn trọng, bảo vệ và thực hiện), nhà nước phải có cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý cho thực hiện các quyền con người, để mỗi cá nhân con người đều ý thức được quyền, tích cực, chủ động thực hiện quyền và tự do của mình.

Và như vậy, sự tham gia của con người, chính là quyền tham gia mà nội hàm khái niệm quyền tham gia chính là thực hiện các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Đây không chỉ nhằm đạt được mục tiêu lấy con người là trung tâm, là chủ thể mà còn hướng tới sự phát triển toàn diện con người.

Thứ hai, khía cạnh con người là đối tượng thụ hưởng chính thành quả của phát triển. Phát triển đối với cá nhân là sự toàn diện về thể chất, về tinh thần theo các tiêu chí phát triển con người; phát triển đối với quốc gia, dân tộc là một tiến trình toàn diện, với sự hưng thịnh về dân sự, văn hóa, kinh tế, môi trường, chính trị và xã hội mà mục đích hướng tới là cải thiện không ngừng phúc lợi của toàn thể dân chúng và của tất cả các dân tộc cùng sinh sống trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, các cá nhân trên cơ sở sự tham gia tích cực, tự do và có ý nghĩa của họ vào phát triển và sự phân bổ công bằng các lợi ích thu được.

Khi con người tham gia tích cực vào quá trình phát triển, vào hoạch định đường lối, chính sách phát triển quốc gia, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và tổ chức thực hiện hiệu quả, lẽ dĩ nhiên, không ai khác, chính họ phải là người đầu tiên được thụ hưởng thành quả phát triển. Đây là quyền con người cơ bản – quyền được thụ hưởng thành quả phát triển. Và để bảo đảm thực hiện quyền này, đòi hỏi sự phân phối lợi ích một cách công khai, công bằng dựa trên nguyên tắc xuyên suốt của luật nhân quyền quốc tế, đó là bình đẳng và không phân biệt đối xử, không ai bị bỏ lại phía sau.

Vận dụng vào công cuộc phát triển đất nước hiện nay
Quyền được tham gia và quyền được thụ hưởng thành quả phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạch định các chính sách phát triển quốc gia, phát triển con người, phát triển kinh tế, xã hội, hướng mục tiêu vì con người, lấy con người là trung tâm, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.

Thứ nhất, về quan điểm lấy con người là trung tâm, trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”.

Quan điểm này của Đảng hoàn toàn phù hợp cách tiếp cận của cộng đồng quốc tế. Đồng thời từ cách tiếp cận và xác định con người là trung tâm trong hoạch định chính sách phát triển tại Đại hội XI của Đảng thì đến Đại hội XIII của Đảng, phát triển thêm một bước chủ thể hưởng quyền đó là Nhân dân, “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Thứ hai, về quan điểm con người là chủ thể trung tâm của quyền con người. Trong Hiến pháp năm 2013, trong tổng số 120 điều, có 36 điều Hiến pháp quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Các quyền con người trong Hiến pháp 2013 cũng chủ yếu là quyền con người với tư cách là quyền của cá nhân, công dân. Và bên cạnh quyền của cá nhân, có quy định quyền có tính tập thể, quyền của nhóm, như quyền trẻ em, phụ nữ, thanh niên…

Hiện nay, trong dự thảo Công ước của LHQ về quyền phát triển, một trong những nguyên tắc được đưa ra là “Phát triển lấy cá nhân và các dân tộc làm trung tâm: cá nhân và các dân tộc là những chủ thể trung tâm của phát triển và cần phải là những chủ thể tham gia tích cực và thụ hưởng quyền phát triển”.

Chính vì vậy, một trong những vấn đề cần làm rõ đó là khi Đảng đề cập con người là trung tâm, cần phải hiểu theo cách tiếp cận của cộng đồng quốc tế, vừa với tư cách cá nhân, vừa với tư cách tập thể/nhóm và tương tự, khi nói về “Nhân dân” cũng cần phải hiểu Nhân dân vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách tập thể và nhóm.

Và như vậy, quyền con người là hàm ý quyền cá nhân và cả quyền của nhóm; quyền của Nhân dân, vừa hàm ý quyền của cá nhân và quyền của tập thể, nhưng xuyên suốt đó là quyền của cá nhân như quy định trong Hiến pháp năm 2013.

Nhận thức rõ vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiếp cận quyền con người trong hoạch định các chính sách phát triển quốc gia, phát triển con người. Đặc biệt là sự vận dụng quan điểm lý luận của Đảng về lấy con người, lấy Nhân dân là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực phát triển đất nước.

Thứ ba, về con người tham gia và thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển.

Về quyền tham gia: Quyền tham gia là một trong những quyền dân chủ về chính trị được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm.

Quyền tham gia của Nhân dân thể hiện trong nhiều Văn kiện của Đảng, với quan điểm là “Bảo đảm để Nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của Nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện”1và thực hiện nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Đồng thời đề cao sự tham gia của người dân vào các công việc của Đảng, Nhà nước với quan điểm: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, kiên trì thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Quan điểm của Đảng về bảo đảm sự tham gia của người dân đã được hiến định và luật định. Điều 28, Hiến pháp năm 2013 quy định (1) Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; (2) Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.

Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 quy định cụ thể về những nội dung nhân dân bàn và quyết định (Chương 2, mục 2 Nhân dân bàn và quyết định; mục 3 Nhân dân tham gia ý kiến).

Về cơ bản, quan điểm của Đảng là phù hợp với cách tiếp cận chung của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, mới chỉ dừng ở bảo đảm sự tham gia với việc nhà nước tạo điều kiện để người dân tham gia và quy định các hình thức tham gia chủ yếu mới ở cấp cơ sở; chưa chú ý tiếp cận và có quy định về các biện pháp để nâng cao ý thức người dân chủ động, tích cực tham gia thực hiện các quyền và tự do của con người, của công dân.

Về quyền thụ hưởng: Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm kiên trì thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Mặc dù chưa nêu rõ nội hàm dân thụ hưởng là gì, tuy nhiên quyền được thụ hưởng của người dân lần đầu tiên được quy định tại Điều 7, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 với nội hàm gồm: (i) được nhà nước và pháp luật công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện các quyền về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; (ii) được thông tin đầy đủ, kịp thời về các quyền và lợi ích hợp pháp, chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội theo quy định của pháp luật và quyết định của chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức ở nơi mình cư trú, công tác, làm việc; (iii) được thụ hưởng thành quả đổi mới, phát triển tế – xã hội, chế độ an sinh xã hội, sự an toàn, ổn định của đất nước, của địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động và kết quả thực hiện dân chủ ở nơi mình cư trú, công tác, làm việc; (iv) được tạo điều kiện để tham gia học tập, công tác, lao động, sản xuất, kinh doanh, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bản thân, gia đình và cộng đồng.

Trên cơ sở quan điểm của Đảng và các quy định của Hiến pháp, pháp luật, quyền tham gia và quyền thụ hưởng cần tiếp tục được nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học, bảo đảm quyền tham gia thực chất, chủ động của người dân vào hoạt động quản lý nhà nước và xã hội, chủ động, tích cực tham gia thực hiện các quyền và tự do của con người, của công dân đã được hiến pháp, pháp luật quy định và quyền được thụ hưởng công bằng thành quả của quá trình phát triển, thành quả của công cuộc đổi mới.

PGS. TS TƯỜNG DUY KIÊN (baoquocte.vn)

Address

Ba Don

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công an phường 2 - TP Trà Vinh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share