The Army

The Army Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from The Army, Political organisation, Lữ Gia, Đà Lạt.

10/04/2020

Càng trong khó khăn, thách thức, chúng ta càng thấy tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, ý chí, sức mạnh và trí tuệ của Dân tộc Việt Nam. Thật tự hào về Tổ quốc chúng ta. Nhất định chúng ta sẽ chiến thắng giặc Covid-19.

CỤC BỘ, BÈ PHÁI TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ - HỆ LUỴ VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ: cục ...
02/11/2019

CỤC BỘ, BÈ PHÁI TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ - HỆ LUỴ VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ: cục bộ, bè phái trong công tác cán bộ là căn bệnh rất nguy hiểm, một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Vì vậy, nhận diện và kiên quyết đấu tranh, loại bỏ “căn bệnh” nguy hiểm này, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao sức chiến đấu, uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng là vấn đề cấp bách hiện nay.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, đồng thời đánh giá cao vị trí, vai trò của cán bộ và công tác cán bộ. Người khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc; huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” (1). Quá trình lãnh đạo cách mạng, Người đã sớm phát hiện những “lỗ hổng” và hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ. Trong đó, “cục bộ, bè phái” là “căn bệnh” rất nguy hiểm, gây mất đoàn kết trong Đảng, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, dẫn đến suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng.

Hiện nay, căn bệnh này đã và đang len lỏi, biến hóa rất tinh vi trong thực hiện nguyên tắc, quy chế, quy định, quy trình của công tác cán bộ. Và có thể nhận diện rõ, như: tư tưởng “một người làm quan, cả họ được nhờ”, “hậu duệ”, “đồ đệ”, “địa phương chủ nghĩa”, “lợi ích nhóm”, “cánh hẩu”, v.v. Điều đó dẫn đến việc xem xét, quy hoạch, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ sai lệch, nảy sinh cơ hội, tham nhũng và nhiều căn bệnh khác nguy hại cho Đảng, cho tổ chức, v.v. Dễ nhận thấy là, hành vi trái nguyên tắc, vi phạm dân chủ, đề cao cá nhân, độc đoán, chuyên quyền, kéo bè, kéo cánh, thậm chí biến cơ quan thành “gia đình trị”, để rồi xuất hiện những “cấp ủy nội tộc”, “chi bộ dòng họ”, “ủy ban dòng họ A”, “cơ quan bộ của tỉnh B”, ngành của “biển số xe C”, v.v. Điều đó tất yếu làm nảy sinh các hành vi: xu nịnh, tâng bốc, bao che khuyết điểm, dìm người tốt, người thẳng thắn, trung thực; thậm chí vi phạm nguyên tắc trong bầu cử, bỏ phiếu tín nhiệm bằng các hành vi vận động hành lang, vận động dòng họ, vận động không bầu cho cán bộ luân chuyển từ địa phương khác đến, rỉ tai, mua chuộc, ép buộc, đe dọa những người không a dua theo; cất nhắc, bổ nhiệm những người thân quen không đủ điều kiện, tiêu chuẩn, uy tín, rồi bao biện “cho nợ tiêu chí”, “bồi dưỡng sau, vừa làm vừa bồi dưỡng”, v.v.

Những biểu hiện trên của “căn bệnh” này là rất nguy hại, làm chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết, mất niềm tin của cán bộ vào tổ chức, xa rời quần chúng nhân dân. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ” (2); đồng thời, nó chính là căn nguyên thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm mất sức chiến đấu, vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng, làm suy yếu Đảng và đội ngũ cán bộ của Đảng.

Tính chất nguy hại của tư tưởng, biểu hiện “cục bộ, bè phái” trong công tác cán bộ còn là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận thành tựu của công tác xây đảng nói chung, công tác cán bộ của Đảng ta nói riêng. Đặc biệt, trước thềm Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch tiếp tục tìm mọi cách đưa ra những luận điệu phản động, tuy không mới nhưng với tần suất cao hơn, tinh vi và xảo quyệt hơn, như: “cuộc đấu tranh chống tham nhũng vừa qua chỉ là cuộc đấu đá, thanh trừng lẫn nhau giữa các phe cánh trong Đảng Cộng sản Việt Nam”, “chủ trương không có vùng cấm, không có ngoại lệ chỉ là khẩu hiệu suông”, “hạ bệ được quan tham này, thì quan tham khác lại xuất hiện”, v.v. Đây là những luận điệu vô cùng nguy hiểm, đánh vào ý chí, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Những biểu hiện “cục bộ, bè phái” trong công tác cán bộ hiện nay do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do nhận thức sai lệch về công tác cán bộ của Đảng, sự chi phối bởi lợi ích, nhất là về quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ gìn, phát huy truyền thống đoàn kết trong Đảng và sự lợi dụng chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, để đấu tranh, loại bỏ triệt để những biểu hiện “cục bộ, bè phái” trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay cần phải được tiến hành đồng bộ, quyết liệt; trong đó, tập trung thực hiện tốt các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiến hành đợt sinh hoạt chính trị sâu, rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta về tính chất nguy hại của biểu hiện “cục bộ, bè phái” trong công tác cán bộ, cùng những giải pháp, cách thức phòng ngừa, đấu tranh. Đây là giải pháp quan trọng, không chỉ nâng cao vai trò tiền phong, bản chất cách mạng của người cán bộ, đảng viên của Đảng, mà còn khơi dậy và phát huy vai trò, trách nhiệm trong phòng ngừa, đấu tranh với căn bệnh nguy hại - “cục bộ, bè phái” trong công tác cán bộ cho mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ được giao trọng trách tiến hành công tác cán bộ của Đảng. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang chuẩn bị tiến hành đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, để công tác chuẩn bị nhân sự cán bộ cho nhiệm kỳ mới đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra, lựa chọn được các đồng chí thực sự tiêu biểu về tài, đức vào vị chí lãnh đạo, không có biểu hiện “cục bộ, bè phái”, các cấp, các ngành phải tiến hành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng; trọng tâm là, quán triệt sâu sắc Chỉ thị 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đặc biệt, phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc Quy định 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị về “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”, nhất là những nội dung trực tiếp ngăn chặn biểu hiện “cục bộ, bè phái”, như: tự giác báo cáo với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo quản lý khi có người thân (bố, mẹ, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột) là người có quyền, lợi ích liên quan đến việc thực hiện quy trình công tác cán bộ. “Nghiêm cấm các hành vi: Để người khác, nhất là vợ, chồng, bố, mẹ, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để thao túng, can thiệp công tác cán bộ”(3). Để mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần quan điểm “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị” hiện nay. Từ đó, chuyển biến về nhận thức, đấu tranh kiên quyết ngay từ trong suy nghĩ, tư tưởng, đến hành động của mỗi cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ được giao trọng trách tiến hành công tác cán bộ.

Hai là, đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo và các khâu, bước, quy trình công tác cán bộ. Trên thực tế, tình trạng “cục bộ, bè phái” thường tiềm ẩn trong tư tưởng, suy nghĩ và hành động của cả người được giao trọng trách làm công tác cán bộ và cả phía cán bộ, đảng viên thuộc đối tượng của công tác cán bộ; thường nảy sinh ngay trong quá trình tiến hành các khâu, các bước trong quy trình công tác cán bộ. Thực tiễn cho thấy, ở đâu cấp ủy đảng luôn chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, xây dựng được quy chế, thực hiện nghiêm quy chế, quy định, xây dựng hệ thống tiêu chí cán bộ một cách đồng bộ, chuẩn hóa, thì ở đó công tác cán bộ bảo đảm chất lượng, không có hiện tượng mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền, cục bộ, bè phái trong công tác cán bộ và ngược lại. Do đó, đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của các cấp ủy, tổ chức đảng có vai trò hết sức quan trọng trong khắc phục tư tưởng cục bộ địa phương, kéo bè kéo cánh trong công tác cán bộ. Trong đó, các cấp, các ngành và địa phương cần đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư, cấp ủy cấp tỉnh, huyện không là người địa phương; luân chuyển cán bộ, đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ,… góp phần khắc phục tư tưởng, biểu hiện “cục bộ, bè phái” trong công tác cán bộ.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát, giám sát nhằm khắc phục tư tưởng cục bộ, bè phái trong các khâu, các bước quy trình công tác cán bộ. Đây là giải pháp quan trọng, có có ý nghĩa trực tiếp khắc phục biểu hiện “cục bộ, bè phái” khi mới nảy sinh. Khi cơ chế và công tác kiểm soát, giám sát càng chặt chẽ, đầy đủ thì nguy cơ, biểu hiện “cục bộ, bè phái” trong công tác cán bộ sẽ được hạn chế, loại bỏ. Theo đó, cấp ủy đảng, trước hết là ủy ban kiểm tra các cấp, từ Trung ương đến địa phương, cơ sở phải phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm trong sàng lọc, phát hiện những biểu hiện “cục bộ, bè phái” trong công tác cán bộ. Phải kiểm soát quyền lực một cách thực sự, chặt chẽ, kết hợp kiểm soát từ bên trong và kiểm soát từ bên ngoài; chống chạy chức, chạy quyền, chủ nghĩa cá nhân, cục bộ địa phương, họ hàng trong công tác cán bộ. Đồng thời, cần có cơ chế và chú trọng phát huy vai trò phản biện dư luận xã hội, ý kiến của nhân dân thông qua các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội, trong tiến hành công tác cán bộ. Đây là một trong những kênh, biện pháp rất quan trọng góp phần ngăn chặn tệ “cục bộ, bè phái” trong công tác cán bộ.

Bốn là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cấp ủy viên và người đứng đầu cấp ủy. Công tác cán bộ là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của các cấp ủy đảng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng đóng vai trò quyết định đến sự thành công của công tác cán bộ nói chung và trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng “cục bộ, bè phái” trong công tác cán bộ nói riêng. Vì vậy, cùng với việc chấp hành nghiêm điều lệ, quy chế, giữ vững nguyên tắc, dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ, các cấp ủy đảng, người đứng đầu cấp ủy phải trung thực, nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, khắc phục ngay trong mình những biểu hiện cục bộ, địa phương, “cánh hẩu”, né tránh, nể nang, ngại va chạm. Phải có dũng khí, dám thẳng thắn bảo vệ cái đúng, kiên quyết can ngăn cái sai, chống cho được tệ bè phái, cục bộ, cá nhân chủ nghĩa, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ và cũng không để bị lợi ích nào cám dỗ, chi phối bởi quan hệ cá nhân, thân quen. Thực hiện đúng đắn, đầy đủ những nội dung trong Quy định 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải nghiêm chỉnh chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó có công tác cán bộ. Kiên quyết không bố trí cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định, nhất là đối với người nhà, người thân; để vợ (chồng), bố, mẹ, con, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để vụ lợi.

Căn bệnh “cục bộ, bè phái” trong công tác cán bộ hiện nay biểu hiện hết sức tinh vi, gắn chặt với những căn bệnh chạy chức, chạy quyền, lợi dụng, lạm dụng quyền hạn, chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, v.v... Do đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và hệ thống chính trị cần phải có quyết tâm cao, kiên trì, dũng cảm và có nhiều phương thức, biện pháp kiên quyết đấu tranh khắc phục nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng các tổ chức cơ sở đảng, toàn Đảng luôn đoàn kết, thống nhất, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, hoàn thành sứ mệnh và xứng đáng là người lãnh đạo đất nước, dân tộc trong tình hình mới.

Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN SỸ HỌA, Học viện Lục quân
_________________

1 - Hồ Chí Minh- Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 10.

2 - Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 297.

3 - Quy định số 205-QĐ/TW của Bộ Chính trị“Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”, Hà Nội, ngày 23 tháng 9 năm 2019.

NHIỆM VỤ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC LUÔN ĐƯỢC ĐẶT LÊN HÀNG ĐẦUPhát biểu tại phiên thảo luận về tình hình kin...
02/11/2019

NHIỆM VỤ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC LUÔN ĐƯỢC ĐẶT LÊN HÀNG ĐẦU

Phát biểu tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội sáng 31-10, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (TCCT), đại biểu Quốc hội tỉnh Tiền Giang, khẳng định: Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc luôn được Đảng, Nhà nước, nhân dân quan tâm đặt lên hàng đầu; các lực lượng thực thi nhiệm vụ đã thực hiện đúng đường lối, quan điểm của Đảng và đối sách của Đảng.

Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa cho biết, thời gian qua, công tác quốc phòng, an ninh đối ngoại của chúng ta được tăng cường và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đảng, Nhà nước, nhân dân luôn quan tâm, đặt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo lên hàng đầu.

Các lực lượng thực thi nhiệm vụ đã thực hiện đúng đường lối quan điểm của Đảng và đối sách của Đảng. Đó là kiên quyết, kiên trì bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế để giữ vững độc lập chủ quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và lợi ích quốc gia dân tộc. Đồng thời giữ được môi trường hòa bình, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội để phát triển kinh tế và xã hội.

Theo Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, vừa qua, trong dư luận có những người dân có hiến kế cách này cách khác. Đảng, Nhà nước ta luôn luôn lắng nghe những ý kiến chính đáng và tâm huyết của nhân dân. Đảng, Nhà nước cũng kiên trì, kế thừa truyền thống văn hóa giữ nước của cha ông, chúng ta kiên quyết, kiên trì theo tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

"Những vấn đề thuộc về nguyên tắc là chúng ta kiên quyết giữ gìn, như Thủ tướng đã nói: "Những vấn đề thuộc về độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là chúng ta quyết không nhân nhượng". Nhưng chúng ta phải có đối sách phù hợp, truyền thống văn hóa giữ nước của chúng ta là hòa hiếu, hòa bình. Điều này đã khẳng định trong tầm cao mới vì đường lối quan điểm đó là đúng đắn”, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa khẳng định.

Đồng chí Phó chủ nhiệm TCCT Quân đội nhân dân Việt Nam nhấn mạnh, người dân Việt Nam ai cũng có khát vọng để vươn lên và tinh thần ấy hiện nay đang được khơi dậy. Khi đất nước ta chưa có độc lập thì khát vọng lớn nhất là đấu tranh giành độc lập, tự do cho đất nước. Ngày nay, khát vọng lớn nhất của chúng ta là giữ vững được độc lập chủ quyền và thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Khát vọng đó chính là niềm tin, điểm tương đồng để củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khát vọng đó đang đứng trước thời cơ lớn, song đó cũng là quá trình liên tục lâu dài, phải phấn đấu và phải vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, gian khổ. Một trong những thách thức đó chính là bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

“Chúng ta phải đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tổng thể các mối quan hệ của sự nghiệp cách mạng, đặc biệt là sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phải kế thừa truyền thống văn hóa giữ nước của cha ông, của Bác Hồ và nâng lên tầm cao mới. Chúng ta kiên trì bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ nhưng trong từng tình huống cụ thể chúng ta phải có sách lược phù hợp, phải khẳng định tính đúng đắn, tính chính nghĩa, phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc, của đất nước, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của quốc tế. Chúng ta phải sử dụng tổng hợp và gắn kết thế trận chặt chẽ giữa các lĩnh vực, kể cả chính trị, ngoại giao, kể cả lịch sử pháp lý”, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh.

Chúng ta giữ gìn, bảo vệ biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc bằng biện pháp hòa bình, sử dụng lịch sử pháp lý là một trong những căn cứ quan trọng để khẳng định tính chính nghĩa, quyền chủ quyền của chúng ta được Hiến chương của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, các luật pháp quốc tế, các điều ước khác mà Việt Nam đã cam kết. Chúng ta phải thông qua công tác tuyên truyền, phải kết hợp với đấu tranh thực địa, đồng thời phải hết sức quan tâm đến giữ vững ổn định chính trị trong nước và các giải pháp kinh tế càng phải đa dạng hóa hơn để xử lý chủ động được các tình huống khi bảo vệ chủ quyền của chúng ta.

Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa cũng đề nghị tiếp tục chủ động trong công tác thông tin truyền thông, bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng. “Thời gian tới, trên lĩnh vực này phải tập trung làm rõ hoàn thiện hệ thống văn bản về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền trong hệ thống chính trị và nhân dân để nhân dân hiểu vai trò tích cực, mặt tiến bộ xu hướng thời đại của internet và mạng xã hội; đồng thời phải nhận diện rõ mặt trái, mặt tiêu cực để đấu tranh. Chủ động rà soát lại các giải pháp để chủ động ngăn ngừa, đấu tranh kịp thời. Các lực lượng thực thi bảo vệ Tổ quốc và an ninh trên không gian mạng kịp thời chia sẻ các thông tin để chủ động xử lý và bảo vệ trật tự an ninh, an toàn xã hội. Phải tăng cường hơn nữa việc hợp tác quốc tế trên lĩnh vực bảo vệ Tổ quốc, lĩnh vực phát triển kinh tế-xã hội, khi mà không gian mạng ngày càng phát triển và Việt Nam là một trong những nước hưởng ứng, tham gia mạng xã hội và internet nhiều nhất thế giới”, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa kiến nghị.

PHƯƠNG HẰNG

“CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI VĨ ĐẠI MỞ RA CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG CHO CÁC DÂN TỘC” “…Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng...
02/11/2019

“CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI VĨ ĐẠI MỞ RA CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG CHO CÁC DÂN TỘC”

“…Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công”[1].

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, gửi cho báo Pravđa (Liên Xô); Báo Nhân dân, đăng số 4952, ngày 01 tháng 11 năm 1967.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh xem chủ nghĩa Mác - Lênin như kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và Người luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” đó vào thực tiễn cách mạng. Sự khẳng định trên của Bác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định và đánh giá cao bài học kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng, đó là một trong những bài học có tính nguyên tắc và phổ biến, đảm bảo cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức. Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục giành những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị, nhất là trong công tác xây dựng Đảng. Theo đó, Đảng ta phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; Đảng phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Đối với Quân đội ta, đó cũng là nguyên tắc, nền tảng tư tưởng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu cao; xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn cao tinh thần tự giác, tích cực nghiên cứu, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy đảng; đồng thời biết vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn của đơn vị nhằm thực hiện có hiệu quả chức trách, nhiệm vụ được giao.

QĐND

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tập 15, tr.391.

SỨC SỐNG CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA QUA HƠN MỘT THẾ KỶ Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày nổ ra cuộc Cách mạng Thán...
02/11/2019

SỨC SỐNG CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA QUA HƠN MỘT THẾ KỶ

Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày nổ ra cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại do V.I. Lê-nin lãnh đạo, biết bao sự kiện sôi động, hào hùng, khốc liệt, bi tráng trên mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội của thế giới đã diễn ra.
Cách mạng Tháng Mười Nga là một sự kiện có ý nghĩa, tầm vóc lịch sử vĩ đại, có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử toàn thế giới, đối với sự phát triển của xã hội loài người, đem lại nhiều bài học kinh nghiệm cho phong trào công nhân và có ảnh hưởng to lớn đối với phong trào giải phóng dân tộc(1). Nó chỉ ra con đường đúng đắn đi tới thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong đó có thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Cách mạng Tháng Mười Nga - Cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử xã hội loài người

Cách đây hơn một thế kỷ, ngày 7-11-1917 (tức ngày 25-10 theo lịch Nga), dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích, đứng đầu là V.I. Lê-nin vĩ đại, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã nổi dậy lật đổ chính quyền tư sản và bọn phản cách mạng, thành lập chính quyền Xô-viết. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Cách mạng Tháng Mười mở ra đã làm thay đổi cục diện thế giới. Đó là sự thể nghiệm thắng lợi chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thực tiễn, để lại những bài học kinh nghiệm vô giá cho các quốc gia, dân tộc trong cuộc đấu tranh cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Có thể nói, cuộc Cách mạng Tháng Mười khác với cuộc cách mạng tư sản. Nếu như cuộc cách mạng tư sản thay thế ách thống trị phong kiến bằng ách thống trị của giai cấp tư sản thì Cách mạng Tháng Mười thực hiện sứ mệnh giải phóng quần chúng lao động khỏi mọi áp bức bóc lột, đưa họ từ thân phận người nô lệ làm thuê lên địa vị người chủ chân chính của xã hội. Với cuộc cách mạng này, lần đầu tiên trong lịch sử, quyền tự quyết của các dân tộc được thực hiện. Bởi vì, Cách mạng Tháng Mười đem lại nhà máy cho công nhân, ruộng đất cho nông dân, hòa bình và hữu nghị cho các dân tộc, tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cách mạng Tháng Mười không chỉ tuyên bố những lý tưởng cao cả mà còn thực sự hành động vì những lợi ích thiết thân nhất, bức xúc nhất của nhân dân. Dưới ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống trên thế giới. Phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh cho tiến bộ, hòa bình được thức tỉnh, cổ vũ và trở thành những làn sóng to lớn trong thế kỷ XX. Vì vậy, một thế kỷ qua có lẽ cũng đủ để suy ngẫm và đánh giá một cách khách quan hơn, đúng đắn hơn một sự biến lớn như Cách mạng Tháng Mười Nga, sự biến mà dù muốn dù không cũng đã vượt quá phạm vi một quốc gia, đã, đang và sẽ còn tác động đến sự phát triển của xã hội loài người(2).

Thành công của Cách mạng Tháng Mười tác động to lớn đối với sự phát triển của cách mạng thế giới, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử loài người, thực hiện sự nhảy vọt của chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến hiện thực. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã nêu một tấm gương cho cách mạng thế giới. Nó thúc đẩy cách mạng Đức năm 1918 và cách mạng Hunggari năm 1919. Đặc biệt, nó đã thức tỉnh nhân dân châu Á, dấy lên làn sóng cách mạng dân tộc, dân chủ chống đế quốc, phong kiến(3). Chính lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười đã cổ vũ sự hy sinh vô bờ bến của nhân dân Xô-viết trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941-1945). Nhờ sức mạnh công nghiệp hùng hậu, nhờ sức động viên của chế độ xã hội mới, nhờ sự quên mình của nhân dân, tài tổ chức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, một đảng được tôi luyện trong ngọn lửa Tháng Mười, Liên Xô đã trở thành lực lượng quyết định nhất tiêu diệt chủ nghĩa phát-xít, cứu loài người khỏi thảm họa hủy diệt. Chỉ trong vòng 20 năm sau chiến tranh, Liên Xô đã đạt những thành tựu vĩ đại làm cả thế giới khâm phục: nước đầu tiên khai phá con đường chinh phục vũ trụ, cũng là nước đầu tiên đưa năng lượng hạt nhân vào phục vụ đời sống hòa bình của con người.

Thực tiễn của Cách mạng Tháng Mười không những đã thức tỉnh và cổ vũ mạnh mẽ ý chí đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, mà còn chỉ ra con đường đúng đắn đi tới thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một xu hướng mới đã xuất hiện trong phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước - xu hướng đi theo ngọn cờ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin với nhận thức mới: phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, tính tất yếu của sự kết hợp chặt chẽ giữa phong trào cách mạng của giai cấp vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa tư bản đế quốc. Nhờ đó, phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước đã phát triển mạnh mẽ và giành được những thắng lợi quan trọng. Cách mạng Tháng Mười đã đáp ứng những đòi hỏi cấp bách trong cuộc đấu tranh giải phóng của các giai cấp bị bóc lột và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười đã có tác động to lớn, sâu sắc và trực tiếp đối với cách mạng Việt Nam và nhận thức chính trị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước và dẫn dắt cách mạng Việt Nam. Chính Người đã khẳng định, con đường cứu nước và giải phóng dân tộc của Việt Nam là con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Từ Cách mạng Tháng Mười đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Nhìn lại bối cảnh lịch sử vào những năm 20 của thế kỷ XX, trong lúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam đang gặp phải khó khăn về tổ chức lãnh đạo và đường lối, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy ở chủ nghĩa Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười như là một kim chỉ nam của con đường giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc Việt Nam. Đánh giá sự kiện lịch sử trọng đại này, Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(4). Bởi vì, khi nhân dân Liên Xô tiến hành cách mạng vô sản thành công, nhân dân Việt Nam vẫn đang chìm đắm trong đêm dài nô lệ. Mặc dù không ngừng vươn lên đấu tranh chống đế quốc và tay sai, song các phong trào yêu nước theo đường lối phong kiến hoặc theo khuynh hướng tư sản ở Việt Nam lúc này đều thất bại vì không đáp ứng được nguyện vọng của đa số quần chúng nhân dân lao động.

Giữa lúc đó, Nguyễn Ái Quốc, sau hơn 10 năm bôn ba tìm con đường cứu nước đã đến với ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười. Người đã có những nhận xét rất sâu sắc, toàn diện về Cách mạng Tháng Mười: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”(5). Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đi đến chân lý về con đường giải phóng của Việt Nam, Người khẳng định rằng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường gắn mục tiêu độc lập dân tộc với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng Việt Nam với xu thế thời đại.
Hơn 89 năm qua, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trung thành với lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên định con đường Cách mạng Tháng Mười, đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên Cách mạng Tháng Tám (năm 1945), chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954) và giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (năm 1975). Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm từ sự thoái trào của mô hình xã hội chủ nghĩa hiện thực ở Liên Xô cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, kịp thời đề ra những quyết sách đúng, khắc phục triệt để những sai lầm, khuyết điểm và khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đất nước, điều này được thể hiện qua Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986). Theo đó, đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho các mục tiêu đó được thực hiện tốt hơn bằng những quan niệm đúng, hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp.
Hơn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, những lý tưởng nhân văn, nhân đạo cao cả của Cách mạng Tháng Mười đã được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện thực hóa với nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao”. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước chứng tỏ đường lối lãnh đạo của Đảng ta là hoàn toàn đúng, phù hợp với xu thế thời đại. Đánh giá thành tựu 30 năm đổi mới, Đại hội XII của Đảng (năm 2016) khẳng định: “Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”(6).

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn, những thuận lợi cơ bản có ý nghĩa nền tảng, bảo đảm cho sự phát triển đi lên, chúng ta còn phải khắc phục nhiều nguy cơ, khó khăn, trở ngại, như tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí; tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp; tăng trưởng kinh tế đạt ở mức khá, nhưng nguy cơ tụt hậu so với trình độ chung của thế giới và khu vực ngày càng lớn. Nhiều vấn đề bức xúc của đời sống xã hội tuy được giải quyết một bước rất quan trọng, song những khó khăn và mâu thuẫn tiềm ẩn vẫn có nguy cơ bùng phát.
Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới vừa qua, trong bối cảnh khu vực, thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, tình hình trong nước có nhiều thuận lợi đan xen với những khó khăn, thách thức, thì những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Đảng và nhân dân ta đạt được đã góp phần khẳng định thêm sức sống của Cách mạng Tháng Mười. Các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục sử dụng nhiều âm mưu, thủ đoạn mới, chống phá quyết liệt chủ nghĩa Mác - Lê-nin, xuyên tạc, phủ nhận giá trị và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười. Bởi thế, sự nghiệp đấu tranh của nhân dân các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga sẽ còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội. Và, dấu ấn lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn luôn tỏa sáng.

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta thấy rằng, Cách mạng Tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng sâu rộng đối với toàn bộ tiến trình lịch sử thế giới trong suốt một thế kỷ qua và đến tận ngày nay. Cuộc Cách mạng này đã cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức, đập tan hệ thống gông xiềng của chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Với sự giúp đỡ trực tiếp và gián tiếp của Liên Xô, cách mạng nhiều nước đã thành công, trong đó có cách mạng Việt Nam. Một thế kỷ đã đi qua, Cách mạng Tháng Mười với những giá trị xuyên thời đại vẫn tiếp tục tỏa sáng, soi đường cho giai cấp cần lao đấu tranh hướng tới những giá trị đích thực mà người lao động chân chính phải được thụ hưởng. Xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh mà Việt Nam đang xây dựng cũng kế thừa và phát triển thành quả và bài học từ chính những giá trị mà Cách mạng Tháng Mười đem lại./.

TRUNG PHU
Học viện Chính trị khu vực IV

-------------------------------------
(1) Phan Ngọc Liên (Chủ biên): Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 64 - 65
(2) Hà Mỹ Hương: Nước Nga hậu Xô viết, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 44
(3) Lịch sử chủ nghĩa Mác: Sự phát triển của chủ nghĩa Mác trong thời kỳ thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, t. 3, tr. 27
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 387
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 2, tr. 304
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 65 - 66

Address

Lữ Gia
Đà Lạt

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when The Army posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share