Kho sách hiếm

Kho sách hiếm Hãy đọc sách để tăng thêm kiến thức cho bạn

 Cuốn sách có tựa đề Đèn Cù của tác giả Trần Đĩnh thật sự là quả bom nổ đối với chế độ CSVN, vì tư liệu của cuốn sách, l...
09/28/2025



Cuốn sách có tựa đề Đèn Cù của tác giả Trần Đĩnh thật sự là quả bom nổ đối với chế độ CSVN, vì tư liệu của cuốn sách, là sự thật tiết lộ của một người bước ra từ Đảng Cộng Sản VN. Đặc biệt sách cũng cho thấy Đảng CSVN hoàn toàn lệ thuộc Trung Quốc từ rất lâu.

Theo giới thiệu, tác giả Đèn Cù là nhà báo kỳ cựu của tờ Sự Thật từ những ngày đầu tiên khi báo này thành lập do Trường Chinh làm Tổng biên tập. Ông sinh năm 1930 và tham gia Việt Minh vào năm 1946 tức lúc mới 16 tuổi, Trần Đĩnh thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Ông cũng chính là người chấp bút tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chấp bút những tự truyện của nhiều nhân vật như Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm, Nguyễn Đức Thuận.
Sách Đèn Cù được in và phát hành rộng rãi trên toàn thế giới từ cộng đồng người Việt hải ngoại tại Mỹ và tràn về Việt Nam .
Những sự kiện lịch sử dù bị che dấu, cũng sẽ dần dần lộ ra trong thời đại thông tin toàn cầu này, “điều mà Trần Đĩnh đem đến nhiều nhất cho người đọc chính là sự mô tả thân phận con người trong và dưới chế độ cộng sản.”
Những nhân vật trong guồng máy như các ông Lê Liêm, Bùi Công Trừng, Đặng Kim Giang, Ung Văn Khiêm,… những người có công gầy dựng nên đảng cộng sản bị đối xử một cách tàn khốc khi sa cơ thất thế, bị chính các đồng chí ngày hôm qua của họ giáng xuống những bản án nặng nề. Trần Đĩnh viết:
“Đất nước bị mắc phải một giống vi trùng có tên là tính đảng. Nó kháng lại mọi yêu cầu tử tế của con người.”
Ông viết thêm là ở nước Việt nam, nhờ có đảng mà cái gì cũng là hai mặt, hai mang. Và những tư tưởng giai cấp mà đảng cộng sản đem vào Việt nam đã để lại những sự đảo điên vô cùng nghiêm trọng cho xã hội Việt nam:
“Nó gây sốc đảo điên dân tộc, nó đem vào lập trường đấu tranh giai cấp, đi vào trong mọi quan hệ xã hội, họ hàng gia đình, bạn bè để đấu tố nhau, xin mạng nhau.”
Tuy nhiên cuộc đấu đá quyền lực của những người lãnh đạo cộng sản không làm họ xao nhãng việc cai trị. Trần Đĩnh viết tiếp:
“Tôi lạ là các bộ óc đầy hằn học, nghi ngờ nhau như vậy vẫn nhất trí được với nhau trong việc trị dân.”
Sự phản kháng của dân chúng trước sự toàn trị ngặt nghèo của đảng được Trần Đĩnh mô tả lại qua những buổi trò chuyện dài giữa ông và anh thanh niên vá xe đạp. Qua đó người đọc thấy sự phản ứng rất đặc biệt của người dân dưới chế độ cộng sản: Không có những cuộc biểu tình, những cuộc nổi dậy mà có sự châm biếm các giới lãnh đạo, sự biến thái của ngôn ngữ để chuyển tải những câu chuyện khôi hài đen.
Đọc Đèn cù người ta cũng thấy một mối quan hệ đặc biệt giữa những người bất đồng chính kiến, những người bị chế độ lên án với những nhân viên an ninh theo dõi họ. Họ tồn tại song song nhau, khai thác nhau. Bộ máy an ninh dày đặt đã gieo rắc sự sợ hãi vào trong lòng dân chúng, và cả những người có cương vị trong xã hội. Trong xã hội ấy một khi người ta ngại tiếp xúc với các cơ cấu của bộ máy quyền lực chính là lúc người ta bắt đầu có biểu hiện của sự khủng hoảng tâm thần do bị đàn áp về tinh thần. Đó là nhận xét của Trần Đĩnh về những thân phận con người xung quanh mình và ông thường xuyên tự nhắc mình rằng trong cái sợ đó “phải ứng phó làm sao cho đúng cốt cách một con Người”.
Dù biết rằng bất cứ sự so sánh nào cũng khập khiễng, nhưng câu chuyện về những nhân vật cộng sản Việt nam mà Trần Đĩnh ghi lại, không khỏi gợi cho độc giả nhớ đến cuốn tiểu thuyết chính trị của nhà văn Pháp Andre Malraux mang tựa đề “Thân phận con người”, mô tả cuộc nổi dậy của lực lượng cộng sản tại Thượng hải, Trung quốc vào những năm 1930. Người ta thấy nhiều âm mưu, nhiều sự bội phản, nhiều sự cơ hội, và trên hết là sự ảo tưởng mà Trần Đĩnh gọi là sự Mộng tưởng. Sự mộng tưởng vào chủ nghĩa cộng sản ám ảnh tác giả lớn đến mức mà ông lập lại đến hai lần trong phần hai của tác phẩm Đèn cù:
“Mộng tưởng không trọng lượng nhưng đè sập biết bao đời người.”

ĐÈN CÙ Quyển một & Quyển hai – Tác giả TRẦN ĐĨNH
Do NGƯỜI VIỆT BOOK xuất bản tại HOA KỲ 2014


 Một quyển sách xuất sắc về khoảng thời gian nghiệt ngã 30/4/1975Như tựa đề đã cho biết, quyển sách viết về thời gian củ...
11/12/2024



Một quyển sách xuất sắc về khoảng thời gian nghiệt ngã 30/4/1975

Như tựa đề đã cho biết, quyển sách viết về thời gian của cái tháng Tư cay nghiệt mà sau đó có hàng triệu người buồn. Thời gian được tường thuật trong tác phẩm bắt đầu là từ lúc Phước Long thất thủ hồi đầu năm 1975, cho đến khi quân đội miền Bắc tiến vào Sài Gòn, bao gồm cả những vận động ngoại giao và chính trị của nhiều bên ở Mỹ và Pháp. Đây là một quyển sách xuất sắc về khoảng thời gian nghiệt ngã đó, tác giả là nhà báo, cộng tác với nhiều tờ báo ở Mỹ và Pháp, quen biết nhiều, theo dõi gần hết các biến cố chính trị, quân sự cũng như xã hội trong hai miền Nam Bắc nên biết được nhiều chuyện hậu trường, có cái nhìn bao quát về cuộc chiến ở Việt Nam.

Tác giả đã đưa bạn đọc đi đến gần các nhân vật quan trọng đang hoạt động lúc bấy giờ, cũng như đã tường thuật lại số phận của nhiều người bình thường hay không phải là nhân vật nổi tiếng trong thời gian hỗn loạn đó: số phận của nhà văn Duyên Anh, số phận của một đại úy cảnh sát…Câu chuyện của Đại tá Hòa (Lê Minh Hòa), giám đốc đài truyền thanh và truyền hình Sài Gòn, cũng được kể lại. Quyển sách là một cái nhìn chung về quang cảnh lúc đó, với trọng tâm là những diễn biến về chính trị và ngoại giao ở Sài Gòn, Hà Nội, ở Mỹ và ở Pháp hơn là những diễn tiến về quân sự.

Về ông Thiệu, Olivier Todd viết: " Khác hơn nhiều chánh trị gia ở Sài Gòn, Tổng Thống Thiệu không bao giờ đi gặp một người Mỹ nào … Ông Thiệu thường tiếp Đại sứ Mỹ, hay vị cố vấn ngoại giao ông Lehmann, và một vài phái đoàn. Ông cương quyết không có thái độ quy lụy của một người nô lệ.” Thậm chí ông còn chửi Kissinger trong một cuộc gặp mặt hồi tháng Mười 1972: “Ông [Kissinger] chưa hề đặt chân đến Việt Nam từ sau tháng 10 năm 1972, nơi đó ông có một kỷ niệm không tốt gì lắm: ông Kissinger muốn cho ông Thiệu chấp thuận bản dự thảo Hiệp Định của ông ta.

Kissinger nói trước khi rời Saigon : – ‘người ta đã chửi tôi thậm tệ nên chắc tôi không bao giờ trở lại Sài gòn nữa.'”

Tất nhiên, không có sự ủng hộ của Mỹ thì ông Thiệu không thể đứng vững được. Đó là chuyện không bàn cãi. Nhưng ông Thiệu và ông Diệm vẫn giữ được một sự độc lập nhất định và giữ được những quy tắc ngoại giao tối thiểu của một quốc gia. Bất cứ ông đại sứ Mỹ nào muốn gặp nói chuyện thì đều phải đích thân vào dinh Độc Lập. Nó khác với thời nay, khi người ta rụt rè rón rén đến trước cổng đại sứ quán của thiên triều giống như một thằng bần cố nông sợ sệt đứng trước cổng tri phủ để rồi lén ném vào trong đó một cái kháng thư. Nhưng sau đó, khi về đến nhà thì lại hùng hùng hổ hổ “chúng tôi cực lực phản đối”.

Sách giành cho những bạn nào … chịu khó đọc, muốn tham khảo tìm hiểu thêm về khoảng thời gian đó, không phải là một quyển sách dễ đọc. Nhưng công khó nhọc sẽ được đền bù bằng một lượng lớn thông tin đa dạng, hiểu biết thêm nhiều điều về khoảng thời gian định mệnh đó.

THÁNG TƯ NGHIỆT NGÃ - Olivier Todd
Dịch giả Dương Hiếu Nghĩa - Éditions Robert Laffont, S.A., Paris,1987, in tái bản 2017.
Bản in Việt Ngữ khổ to bìa mềm và bìa cứng.




Anh/ Chị mua sách giấy vui lòng inbox

Năm 1972 là năm bầu cử của nước Mỹ xảy ra vào tháng 11, CSBV hy vọng một biến cố quân sự lớn như Tết Mậu Thân sẽ tạo đượ...
09/20/2024

Năm 1972 là năm bầu cử của nước Mỹ xảy ra vào tháng 11, CSBV hy vọng một biến cố quân sự lớn như Tết Mậu Thân sẽ tạo được thuận lợi mới cho họ. Nên CSBV đã phát động chiến dịch tổng công kích vào giữa năm 1972 là thời điểm vận động tranh cử của các ứng cử viên Tổng Thống và Quốc Hội Mỹ nhằm vào những thành phần phản chiến và người dân chán ghét chiến tranh. Chiến dịch này được định thời gian cho trùng với giai đoạn đầu của chiến dịch bầu cử Tổng thống và Quốc hội Mỹ , với hy vọng rằng chiến sự leo thang sẽ gây ra áp lực mạnh mẽ tại Mỹ để thành phần phản chiến sẽ vận động đòi hỏi hòa bình và chấm dứt chiến tranh

Thực hiện kế hoạch nầy, cũng như Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân năm 1968, Tướng Giáp đã lại “thí quân” và lần này quyết định tấn công với ba mặt trận lớn được bùng nổ vào mùa Hè 1972.

1- Mặt Trận Quân Khu 2 VNCH: hay còn gọi là mặt trận Tây Nguyên, khởi đầu ngày 3/4/1972, CS tung 3 Sư Đoàn chính quy SĐ2, SĐF10 và SĐ320 và một Trung Đoàn chiến xa vượt biên giới Lào Việt tấn chiếm Kontum và Pleiku với sự yểm trợ của các đơn vị địa phương như SĐ3 Sao Vàng hoạt động trong vùng Bình Định cùng Sư Đoàn 968 từ Hạ Lào vừa kéo sang làm thành phần trừ bị.

2- Mặt Trận Quân Khu 1 VNCH : ngày 4/4/1972, CS tung ba Sư Đoàn chính quy 304, 308, 325, cùng với 4 Trung Đoàn biệt lập 31, 246, 270 và 126 đặc công, hai Trung Đoàn xe tăng 202 & 203 và 3 Trung Đoàn Pháo 36,38 & 84 do Mặt Trận B5 chỉ huy vượt khu Phi Quân Sự tấn công trực diện vào tỉnh Quảng Trị và các Tỉnh thuộc Quân Khu 1 của VNCH với sự phối hợp của các đơn vị địa phương như SĐ324B các Trung Đoàn 5 và 6 tại vùng Thừa Thiên và Đà Nẳng để cầm chân QLVNCH.
3- Mặt Trận Quân Khu 3 VNCH: ngày 5/4/1972, Cộng Sản tung 4 Sư Đoàn 5, 7, 9 và Bình Long với sự yểm trợ của 200 chiến xa và một Sư Đoàn pháo vượt biên giới tấn chiếm Lộc Ninh và An Lộc nhằm ra mắt cái gọi là Chính phủ bù nhìn Giải Phóng Miền Nam.

Chiến dịch nầy được nhà văn Phan Nhật Nam đặt tên trong bút ký chiến trường của ông và được mọi người đồng ý là : Mùa Hè Đỏ Lửa

MÙA HÈ ĐỎ LỬA 1972
Tác giả PHAN NHẬT NAM
Nxb Sống tái bản U.S.A 2015




Anh/ Chị mua giấy vui lòng inbox

SỰ KIỆN CÁCH MẠNG T8 VÀ CƯỚP CHÍNH QUYỀN VN NGÀY 2/9 ♠️Trước kia trong sách lịch sử, kể cả sách giáo khoa, ngày 19/8...
09/16/2024

SỰ KIỆN CÁCH MẠNG T8 VÀ CƯỚP CHÍNH QUYỀN VN NGÀY 2/9

♠️Trước kia trong sách lịch sử, kể cả sách giáo khoa, ngày 19/8 được gọi là ngày "cướp chính quyền", sau này sửa lại thành ngày "giành chính quyền", về sau nữa thì sửa lại thành "giành chính quyền về tay nhân dân", và trong sách giáo khoa lịch sử, ý nghĩa cơ bản cuộc cách mạng T8 được ghi nhận:
▪︎Lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm.
▪︎Xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm.
▪︎Đập tan ách phát-xít Nhật
▪︎Giành chính quyền về tay nhân dân, nhân dân trở thành chủ nhân đất nước.
■ Để hiểu rõ cái sự giành này, hãy thử nhìn lại lịch sử trước và trong những ngày T8

🍁Ngày 9/3 Sau khi quân Nhật triệt hạ quân Pháp tại VN, Nhật đã tuyên bố trả độc lập cho VN.
🍁Ngày 11-3, vua Bảo Đại ra Tuyên ngôn Việt Nam độc lập.
🍁Bắc kỳ và Trung kỳ do Vua Bảo Đại quản trị. Còn Nam kỳ thì Nhật tạm quản trị. Vì là đất nhượng địa cho Pháp.
🍁Tháng sau, nội các Trần Trọng Kim trình diện thành phần Chánh Phủ. Sau đó Vua Bảo Đại, Lãnh Tụ tối cao ban hành sắc lệnh để đưa lá cờ quẻ Ly làm Quốc Kỳ Việt Nam và bài Quốc ca là: "Tiếng gọi Thanh Niên".
🍁Lúc đó nước ta theo chế độ Quân chủ Chuyên chế nhưng vua Bảo Đại lại thích áp dụng thể chế Dân Chủ Phân Quyền như vua Lê Thánh Tôn hay hội nghị Diên Hồng dưới thời nhà Trần. Lúc đó chào cờ Quẻ LY là niềm vinh dự cho dân Việt, vì trước đó phải chào cờ Tây (mẫu quốc Phú-Lang-Sa.
👉Còn cờ Long Tinh (1 sọc đỏ nằm ngang trên nền vàng, 3 phần đều nhau) là Đế Kỳ của triều đình nhà Nguyễn, nó sinh và chết đi cùng lúc với triều đình này.

🍁16/8/45: Nhật ký văn kiện đầu hàng Mỹ, Nhật trao trả nốt cho ta Nam kỳ. Lúc này nước ta hoàn toàn độc lập. Chỉ còn việc đoàn kết dân tộc để bảo vệ sự độc lập này bằng chánh trị mà thôi.
Quân trang, quân cụ, súng đạn và nhu yếu phẩm còn nhiều, nhưng quân Nhật giao chuyển cho nhóm Thanh Niên Tiền Phong, thay vì phải nộp tất cả cho kẻ thù là Mỹ đến tước khí giới.
👉Dịp may hiếm có, khi đó csvn làm việc dưới sự chỉ đạo của cs quốc tế LIÊN SÔ, Việt+ đã lợi dụng tình hình rối ren này quậy phá đưa dân ta đến thảm trạng như ngày nay.
🍁Anh em Việt Quốc và dân ta thua Nga về Chính trị là lẽ đương nhiên. Mới từ ách nô lệ đi ra, làm sao địch nổi siêu cường Sô-Viết?

🍁Ngày 17-8, chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh chào mừng độc lập.
🍁Đây là ngày thứ Sáu, công chức đi làm và thời đó chưa có tổ chức công đoàn.
🍁Khâm Sai Đại Thần là ông Phan Kế Toại cho công chức ở Hà Nội nghỉ việc và ra lệnh tập họp Công Chức và toàn dân trước nhà Hát Lớn (Ba Đình ngày nay) để nghe thông điệp nhà Vua (qua làn sóng Radio) nói về tình hình thế giới và đất nước cùng đường hướng chánh trị của Triều Đình.

🍁Nên nhớ là: Lúc đó quân Nhật bảo vệ an ninh nên cấm tụ họp và bắt các đảng phái nhốt tù nên ko thể có Công Đoàn. Mà người dân chưa quen tổ chức Công Đoàn để đối kháng với chánh quyền trong ôn hòa , lúc đó chỉ có hoạt động ngầm của các hội kín mà thôi.
🍁Quan Khâm Sai Phan Kế Toại và cận thần chưa kịp ra thì Phạm Duy đã lên cướp Micro hát bài Tiến Quân Ca của Việt Minh, phá hoại cuộc tập họp này, và hẹn nhau ngày 19 tụ tập tại địa điểm này tổ chức cướp chánh quyền.

🍁Vì độc quyền thông tin nên Việt Minh tuyên truyền gọi cuộc tụ tập này là: Biểu Tình do Công Đoàn Công Chức tổ chức để đòi Độc Lập...
( Độc lập cái gì...khi toàn vẹn lãnh thổ VN Nhật đã trao trả vào ngày 16-8 vừa qua thì đòi cái gì ?)

♠️Ngày 19/8, hưởng ứng lời kêu gọi mừng độc lập, nhân dân hàng chục vạn người nô nức kéo về Hà Nội đứng đầy quảng trường.
■👉Lực lượng Việt Minh đã cho người trà trộn, phát cờ đỏ sao vàng cho người dân, đồng thời dùng vũ lực cướp diễn đàn, hạ hoàng kỳ và treo cờ đỏ sao vàng lên, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh. Trong sách giáo khoa lịch sử còn ghi: "cuộc mít tinh nhanh chóng biến thành cuộc biểu tình cướp chính quyền".
Cho dù cướp hay giành, thì đó cũng là hành động bạo lực để cướp chính quyền Việt Nam...

♠️Vậy sau khi CƯỚP được chính quyền, rồi chính quyền đó có về tay nhân dân ko ?
Có lẽ câu trả lời đã rõ sau hơn 70 năm. Đến ngày hôm nay, nhân dân VN ko có một chút quyền gì, nhân dân VN ko được bầu cử một cách thực sự, ko được sở hữu đất đai, ko được có quyền phúc quyết hiến pháp và những vấn đề hệ trọng của đất nước. Tất cả những thứ quyền căn bản đó hoàn toàn ko có....vì vậy bạn đọc cần tham khảo thêm sách “Trước Khi Bảo Lục Tràn Tới: BẢO ĐẠI-TRẦN TRỌNG KIM và Đế Quốc Việt Nam, ngày 9/3/1945-30/8/1945” của tác giả GS Phạm Cao Dương để hiểu rõ thêm về giai đoạn lịch sử đó.

Trước Khi Bảo Lụt Tràn Tới: BẢO ĐẠI-TRẦN TRỌNG KIM và Đế Quốc Việt Nam, ngày 9/3/1945-30/8/1945
Tác giả GS Phạm Cao Dương
Nhà xuất bản Truyền Thống Việt USA 2018





Anh/ Chị mua sách giấy inbox

Đây chỉ là câu chuyện xưa cũ, xẩy ra trong một đoạn thời gian ngắn ngủi. Chuyện của bốn mươi năm trước, bắt đầu từ những...
08/27/2024

Đây chỉ là câu chuyện xưa cũ, xẩy ra trong một đoạn thời gian ngắn ngủi. Chuyện của bốn mươi năm trước, bắt đầu từ những ngày giáp Tết Mậu Thân tại Miền Trung với thành phố Huế, kéo dài đến cuối mùa Xuân 1968 nơi Sài Gòn miền Nam nước Việt. Hôm nay những người kể ra trong chuyện đã trở thành những lão nhân tóc bạc, hoặc trung niên nhọc nhằn, tơi tả sống lây lất lần hồi khắp cùng trên thế giới, hoặc đã chết một nơi nào đó ở Việt Nam, hay trên đường ra khỏi nước sau 30 tháng Tư 1975. Thế nên, nếu so sánh với thực tế khốc liệt của bốn mươi năm vừa qua thì những ý, tình tưởng chừng như quá độ lòng người của tháng năm xưa cũ ấy những cảnh huống mà thời bấy giờ nghĩ rằng không thể gánh chịu thật ra chẳng đáng kể vào đâu. Thật ra cũng không ai có thể bảo rằng khổ đau nầy lớn hơn khổ đau kia. Có chăng rồi tất cả cũng qua đi. Dấu vết còn lại nơi đây… Bốn mươi năm sau chỉ là những dòng chữ im lặng. Trong ý hướng tổng kết một quãng đời, không phải với vài cá nhân riêng rẽ, nhưng của một tập thể cùng mặc một loại quân phục, chịu chung một hoàn cảnh, tình thế khó khăn. Cuốn sách này được viết lại. Trầm tỉnh hơn, chân chất giản dị hơn. Viết lại để kể về những người lính hiện diện cùng lần với miền Nam, chống giữ, bảo vệ một xã hội, chế độ đã bị tiêu vong hơn bốn mươi năm trước. Cũng như Nỗi đau không hề cũ với phận người, những Người Lính ấy luôn Hiện Sống với vô vàn Cảnh Chết họ hằng canh cánh cưu mang.
Chỉ là câu chuyện giản dị của những người lính trong một thời gian dồn dập… Chuyện bình thường, phẳng phiu, không là bản anh hùng ca rực rỡ uy dũng, cũng không đậm nét bi thương làm đọng cứng linh hồn – Chỉ là phản ứng cấp thời của người lính cố tìm lối sống trong cái chết trùng điệp… Phản ứng cấp thời nên ngắn hạn và chóng vánh nhưng mang nỗi thụ động tội nghiệp, đến đỗi ngậm ngùi…Là một người lính nên có được hoàn cảnh qua chặng đường độc địa ghê gớm trên, cầm bút cố gắng biểu hiện qua dòng chữ nguồn gốc lối sống gây quá nhiều ngộ nhận. Và cũng là để biện hộ giải thích cho chính bản thân. Nơi địa chấn từ lâu đang âm ỉ…
Viết về cuộc chiến, ắt phải đề cập đến nhân vật chính – Người lính. Nói rõ thêm tính chất của nhân vật chính đó. Thời đại chinh chiến này chỉ có người lính, kẻ mang nghiệp nhà binh, vắng bóng toàn thể anh hùng, vắng và mất hẳn. Anh hùng chỉ là một phản ứng cấp thời – Phút giây ngắn mà kẻ "hào kiệt" bộc phát đó không bao giờ nghĩ đến và suy diễn thành hệ thống luận lý. Chiến tranh này là chiến tranh khoảng cách, khoảng cách từ hai khinh binh mỗi bên, khoảng cách từ nòng đại bác đến mục tiêu, khoảng cách từ phi cơ xuống đất… Khoảng cách đó co giãn tuỳ theo khả năng viễn xạ của vũ khí người lính sử dụng. Anh hùng không còn giữa khoảng trống thật rỗng này. Người lính sống, chết và làm anh hùng do một tình cờ không kiểm soát.
Và cũng như Mậu Thân, dựa lưng vào nỗi chết, người lính Việt Nam đã chiến đấu trong một trạng huống không ngờ – Chiến đấu đồng nghĩa như đang sống. Thiếu hẳn ưu thế kỹ thuật chiến trường, lòng trống vắng tinh thần của hệ thống chủ nghĩa, chỉ với quả tim người và lòng ham sống, tình cảm không được suy nghiệm, luận lý, giải thích một lần trong đời, người lính Việt Nam đã chiến đấu để bảo vệ con người và đời sống – Hành vi cao cả bình thường chưa bao giờ được ý niệm như là bổn phận!!
Tập thể xao xác của mấy chục năm trước nay như viên ngọc trong suốt đã chứng nghiệm giá trị qua trùng điệp bão lửa, chặng đường dài cơ cực ngút ngàn, núi cao khổ đau chất ngất, thế nhưng sinh vật lính lặng lẽ đó dù chưa ý thức được phẩm chất cao quý của mình, dù bị bủa vây bởi muôn ngàn miệt thị và ngộ nhận – Không phải vì bát cơm, cũng không phải vì lá cờ – Đã chiến đấu và tồn tại như một thực thể tràn đầy bi tráng. Tĩnh từ này vẫn chưa đủ, phải gợi đến hình ảnh một thứ Thánh chịu nạn, gánh cơn đau yếu Tổ quốc để bước lên con đường g*i lửa – Hình ảnh "thánh nhân" bình lặng này quá gần gũi với phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng – Hiệp sĩ mới của thời đại tan vỡ đang trên đường xây dựng lại con người…

DỰA LƯNG NỖI CHẾT - Tác giả Phan Nhật Nam - NXB SỐNG tái bản tại U.S.A 2015




Anh/ Chị mua sách giấy vui lòng inbox

Suốt chiều dài cuộc chiến Quốc – Cộng của Việt Nam (1954-1975), đã diễn ra không biết bao nhiêu t...
08/27/2024

Suốt chiều dài cuộc chiến Quốc – Cộng của Việt Nam (1954-1975), đã diễn ra không biết bao nhiêu trận đánh lớn nhỏ. Nhưng những trận đánh vào mùa HÈ năm 1972, được báo chí đặt cho cái tên MÙA HÈ ĐỎ LỬA, mới thực là những trận đánh rung chuyển đất nước.

Trong những trận vào thời gian Mùa Hè năm 1972, trận An Lộc nổi tiếng nhất. Trận An Lộc được nhiều văn gia, ký giả tường thuật dưới nhiều hình thức, nhiều khía cạnh khác nhau. Tiếc rằng những bài ký sự, tường thuật, biên khảo đó, dù rất có giá trị, vẫn còn chưa thể được gọi là một bộ Sử đầy đủ, trung thực. Cho đến nay, trận An Lộc đã theo thời gian của 48 năm đi vào quá khứ. Những người chứng kiến, tham dự, lãnh đạo, chỉ huy, đã lần lượt ra đi như những vì sao ban mai biến mất. Trận chiến diễn ra như thế nào? Các vị Anh Hùng tại chiến trường An Lộc là ai? Những Chiến Sĩ can cường là ai? Hầu như giới trẻ Việt Nam, các nhà nghiên cứu ngoại quốc khó khăn hình dung ra cuộc chiến, khó khăn tìm ra một Sử Liệu chính xác và đầy đủ.

Tập Sử Liệu Chiến Thắng An Lộc 1972 được tác giả Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh cùng nhóm quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại tiểu bang texas hoa kỳ thực hiện. Đây là một bộ Sử được soạn thảo bởi chính những vị Tư Lệnh chiến trường, những vị thiết kế trận đánh, những vị chỉ huy các cánh quân, dưới nhiều không gian và thời gian khác nhau như: Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, Đại Tá Phan Văn Huấn, Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh, Thiếu Tá Ngô Xuân Vinh, Thiếu Tá Phạm Châu Tài, Thiếu Tá Nguyễn Sơn v..v… Trong quá trình lịch sử Anh Hùng của Việt Nam từng có những Bộ Chiến Sử được viết sau trận đánh của chính người tham dự, nay vẫn còn lưu truyền.

Chúng ta vinh danh những Chiến Sĩ các cấp thuộc các Quân Binh Chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cùng những Dân Cán Chính Tỉnh Bình Long đã sát cánh bên nhau chiến đấu trong trận chiến thắng vĩ đại này, để cho những người còn đang sống được ngẩng mặt nhìn lên và hãnh diện mang tên người Lính và người Công Dân Việt Nam Cộng Hòa, cũng như những vong linh của những Vị Anh Hùng tử sĩ đã hy sinh vì đại nghĩa Quốc Gia Dân Tộc sớm được siêu thoát về cõi vĩnh hằng.

Trận Chiến Thắng An Lộc là trận chiến thắng để đời, không những cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mà còn làm rạng danh cho Quân Lực các nước đồng minh có tham chiến tại chiến trường Miền Nam được hãnh diện chung.

Cộng Sản Bắc Việt hãnh diện bao nhiêu về trận Điện Biên Phủ khi chiến thắng Quân Đội Viễn Chinh Pháp, thì bị nhục nhã gấp nhiều lần hơn khi đại bại trước ý chí đề kháng của Quân Dân Cán Chính Tỉnh Bình Long trong trận An Lộc bấy nhiêu.

Đây là một trận đánh lẫy lừng, vang danh Thế Giới, mà hiện nay tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp của Quân Đội Hoa Kỳ (Fort Leavenworth) và một số Trường Đại Học Quân Sự của các nước Tự Do trên Thế Giới ghi chép vào chương trình giảng huấn, để cho các học viên nghiên cứu học hỏi.

Vào thời Đông A (Trần), ba cuộc bình Mông, các Anh Hùng đã họp nhau soạn bộ “Trùng Hưng Thực Lục”, sách còn vẽ hình các Anh Hùng để tuyên dương Huân Công (1257-1285).

Sau khi Vua Lê Thái Tổ quét sạch giặc Minh khỏi đất nước, Ngài đã ban chiếu chỉ thị soạn Bộ “Lam Sơn Thực Lục”, tường thuật cuộc Cách Mạng Áo Vải giành lại Độc Lập, nhất là thuật lại các trận đánh giữa Quân Dân Việt Nam và Quân Minh (1418-1428).

Bây giờ, sau 48 năm, Trận An Lộc được chép thành Sử, đầy đủ, trung thực, như một Bản Tuyên Dương các Chiến Sĩ đã nằm xuống trong trận đánh, đã ra đi sau trận đánh, và hiện vẫn còn tại thế. CHIẾN THẮNG AN LỘC 1972 xứng đáng là một tập Sử nối theo “Trùng Hưng Thực Lục“ cho chúng ta đọc, cho hậu thế đọc.

CHIẾN THẮNG AN LỘC 1972 – Tác giả Cựu Trung tá Nguyễn Ngọc Ánh cùng nhóm quân nhân QLVNCH tại tiểu bang texas hoa kỳ thực hiện
Do Tạp Chí SỐNG in tái bản lần đầu tại Hoa Kỳ 2020
Sách dầy 574 trang, khổ 16x24
Gồm bản in bìa cứng và bìa mềm


̂́nthắnganlộc1972 ̣̂c1972
̣̆ttrậnanlộc1972 ̣̆ttrậnbìnhlong1972
̀ahèđỏlửa1972 ̂̃nngọcánh

Anh/ Chị mua sách giấy vui lòng inbox

Mặc dù không thiếu những cuốn sách phân tích chiến tranh Việt Nam - phần lớn từ quan điểm của ngươì Mỹ, ít có quyển nào ...
08/05/2024

Mặc dù không thiếu những cuốn sách phân tích chiến tranh Việt Nam - phần lớn từ quan điểm của ngươì Mỹ, ít có quyển nào đặt cuộc chiến trong bối cảnh quốc tế của nó và trình bày quan điểm của tất cả các bên can dự, không những của Hà Nội và Việt Nam Cộng hòa, mà còn của Nga, Trung Quốc, và dĩ nhiên, của người Mỹ. Tác giả quyển “Hanoi's War- Cuộc Chiến của Hà nội” ấn bản Anh ngữ lần đầu vào tháng Bảy năm 2012 và được dịch lại 2014, là một giáo sư môn Sử của Trường Đại học Kentucky, xuất thân từ một gia đình người Việt tỵ nạn đã di tản vào giờ thứ 25 của cuộc chiến, một ngày trước khi Sài Gòn thất thủ.

Ngoài các tài liệu thu thập từ các văn khố quốc gia của nhiều nước, cuốn “Hanoi's War” của Giáo sư Nguyễn thị Liên Hằng độc đáo ở chỗ nó dựa trên một số tài liệu chưa từng được khai thác từ văn khố của Bộ Ngoại giao Việt Nam ở Hà Nội.

Quyển “Hanoi's War- An International History of the War for Peace in Vietnam,” xin tạm dịch là “Cuộc Chiến của Hà nội – Lịch sử Quốc tế của cuộc chiến cho Hòa Bình ở Việt Nam” đã được trao Giải Edward M. Coffman 2012, một giải thưởng có uy tín được đặt tên theo một nhà sử học quân đội nổi tiếng người Mỹ. Trong khi đa số các sử gia tập trung nghiên cứu các lý do nguyên thủy dẫn tới sự can thiệp của Hoa Kỳ và tiến trình Mỹ hóa chiến tranh Việt Nam, sử gia Liên Hằng xem xét bối cảnh quốc tế của cuộc chiến, cách giới lãnh đạo miền Bắc theo đuổi chiến tranh, và thời điểm kết thúc sự can thiệp của người Mỹ. Tác giả đưa người đọc từ Lưu vực Sông Mekong tới Lưu vực Sông Hồng, đề cập tới mục tiêu của chiến dịch rải bom của người Mỹ vào cao điểm của cuộc tranh chấp, đi ngang qua các hành lang quyền lực tại Hà Nội và Sài Gòn cũng như tại Tòa Bạch Ốc thời đó nằm dưới quyền Tổng Thống Richard Nixon.

Giáo sư Liên Hằng nói: “Khi bắt đầu cuộc nghiên cứu, tôi lấy làm sửng sốt về những gì mà tôi khám phá được, những điều chúng ta vẫn chấp nhận là sự thực khi được học về chiến tranh Việt Nam trên đất Mỹ…Tôi phát hiện ra rằng có nhiều điều hoàn toàn sai sự thực. Chẳng hạn, một điều đơn giản là từ hồi nào tới giờ, tôi được học rằng ông Hồ Chí Minh là người lãnh đạo Bắc Việt Nam, rằng ông là vị lãnh tụ hướng dẫn cuộc cách mạng và là người làm quyết định… nhưng trong quá trình nghiên cứu, tôi nhận ra rằng trên thực tế, người làm các quyết định quan trọng, lãnh đạo miền Bắc là một nhân vật khác ít tiếng tăm hơn trên trường quốc tế, đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Lê Duẩn. Tôi có thể lập luận rằng chính ông Lê Duẩn mới là người lãnh đạo miền Bắc.”

Vẫn theo Giáo sư Liên Hằng thì cùng với cánh tay mặt của ông, là ông Lê Đức Thọ, ông Lê Duẩn cai trị chế độ miền Bắc với một bàn tay sắt, và coi ông HCM và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một người hùng cách mạng khác, là những đối thủ, là mối đe dọa lớn nhất đối với quyền hạn của ông ở Hà Nội.

Giáo sư Liên Hằng nói sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Liên Xô cũng đóng một vai trò quan trọng và ảnh hưởng tới cục diện của chiến tranh Việt Nam. Theo bà, chủ nghĩa cực đoan mới xuất hiện tại Trung Quốc thời đó, và sự thiếu cam kết của Liên Xô đối với các cuộc cách mạng trong thế giới thứ Ba đã cho phép ông Lê Duẩn ngả xa hơn về phía Trung Quốc, để xúc tiến chiến tranh toàn diện ở miền Nam vào những năm đầu 1960. Và giữa lúc Hoa Kỳ tăng sự hiện diện ở miền Nam hồi năm 1965 như một phản ứng trước chiến lược của Lê Duẩn, viện trợ từ Nga đã đổ vào miền Bắc Việt Nam. Giáo sư Liên Hằng nói sự cạnh tranh giữa hai nước đàn anh cộng sản để tăng ảnh hưởng tại Hà nội lên tới cao điểm vào năm 1968.

Vừa rồi là một số chi tiết về Quyển “Hanoi's War- An International History of the War for Peace in Vietnam”- “Cuộc chiến của Hà nội – Lịch sử Quốc tế của cuộc chiến cho Hòa Bình ở Việt Nam”. Tác giả là một sử gia trẻ tuổi đang dạy môn Sử tại Trường Đại Học Kentucky của Hoa Kỳ.

CUỘC CHIẾN CỦA HÀ NỘI – Lịch sử Quốc tế của cuộc chiến cho Hòa Bình ở Việt Nam
Nguyên tác Hanoi's War- An International History of the War for Peace in Vietnam
Tác giả Giáo sư Nguyễn Thị Liên Hằng
Dịch giả Nguyễn Quốc Vĩ
Nhà xuất bản SAIGON PRESS in lần đầu, Cali, U.S.A 2020




Anh/ Chị mua sách giấy vui lòng inbox

Thế hệ chúng ta đã học nhiều bài học quí báu từ trong lịch sử, và vận dụng vào bổn phận công dân trong trách nhiệm bảo v...
07/15/2024

Thế hệ chúng ta đã học nhiều bài học quí báu từ trong lịch sử, và vận dụng vào bổn phận công dân trong trách nhiệm bảo vệ quốc gia. Rồi đây, những thế hệ sau chúng ta, cũng cần đến lịch sử mà thế hệ chúng ta sẽ là một phần quan trọng trong đó, và quí vị là thành phần quan trọng hơn hết trong giai đoạn lịch sử 1954 - 1975.

Lịch sử một dân tộc không thể tự nhiên mà có. Muốn có được lịch sử, tôi nghĩ, sau chặng đường phục vụ quốc gia dân tộc, mỗi người trong bất cứ lãnh vực nào của xã hội, cần viết lại trên giấy trắng mực đen về những hiểu biết xác thực của mình trong từng phạm vi trách nhiệm lúc đương thời, và viết với một trạng thái tâm hồn thật bình thản. Từ đó, những nhà viết sử gom góp lại, chọn lọc, phân tách, đánh giá, và tạo nên những dòng sử qua từng giai đoạn thăng trầm của đất nước. "Tiếng thơm muôn đời hay lời sỉ nhục lưu mãi trong sử sách, truyền mãi trong dân gian", không phải người này tạo cho người kia, hay ngược lại, mà mỗi người trong xã hội -nhất là những vị giữ chức vụ lãnh đạo- tự tạo cho chính mình qua những nghĩ suy, những phương tiện diễn đạt, và trong những môi trường hành động.

Trong bối cảnh quốc tế sau thế chiến thứ hai 1939-1945, do ảnh hưởng lớn lao của hai siêu cường Hoa Kỳ với Liên Xô, đã tạo thành khối các quốc gia Tự Do và khối các quốc gia Cộng Sản. Bên cạnh đó là những quốc gia nhỏ về thế lẫn lực, cố ngồi lại với nhau và hình thành khối thứ ba thường gọi là khối Trung Lập.
Trong khung cảnh gia đình, mức thu nhập hằng tháng hằng năm không đủ chi tiêu dù là tối thiểu, phải nhờ đến sự giúp đỡ của thân nhân thân quyến hay bạn bè bằng hữu. Mà khi nhờ vả thì ít hay nhiều cũng phải chịu ảnh hưởng của người ấy về mặt này mặt khác. Với hình ảnh đó ở cấp bậc quốc gia cũng vậy, còn cộng thêm những phức tạp về chính trị quốc gia quốc tế nữa. Xin nhớ rằng, trong bang giao quốc tế không có vấn đề tình cảm mà chỉ có vấn đề quyền lợi quốc gia là trên hết. Vì vậy, khi đã vay mượn hay xin xỏ của nước nào, phải chịu ảnh hưởng về những sinh hoạt của nước đó đối với quốc gia mình, thậm chí có những chính sách của họ không liên hệ đến mình mà mình vẫn phải ủng hộ, và khi đã chịu ảnh hưởng thì ý nghĩa của Trung Lập không còn nữa.

Khi nhìn nhận như vậy, rõ ràng là các quốc gia trong khối thứ ba nói trên không có khả năng Trung Lập. Do đó mà sự hình thành của khối thứ ba này chẳng qua là gượng ép, nếu không nói là do sức ép từ thế lực bên ngoài để tăng thêm thế chính trị cho họ. Tôi muốn nói đến một thế đứng chính trị: “hoặc khối Tự Do hoặc khối Cộng Sản”. Còn tuyên bố Trung Lập mà quốc gia chỉ trông vào viện trợ hay trợ giúp nhân đạo để tồn tại, đó là tính chất dối trá trong lãnh đạo đối với đồng bào, và khi lãnh đạo dối trá thì không xứng đáng lãnh đạo đồng bào của họ nữa. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam là một trong những nhóm lãnh đạo đó.
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta đứng hẳn vào khối Tự Do do Hoa Kỳ lãnh đạo. Đó không phải là cách chọn lựa lý tưởng, nhưng khi phải chọn lựa giữa hai điều xấu, ta phải chọn điều xấu ít. Nhưng chịu ảnh hưởng những chính sách của Hoa Kỳ là một việc, mà bản lãnh chính trị của những vị lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa trong việc tận dụng tối đa những chính sách đó vào mục đích tăng thêm hay ít ra cũng phải bảo vệ quyền lực và lợi ích quốc gia, lại là việc khác. Đó là cốt lõi của lãnh đạo.
Lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa chúng ta kể từ giữa năm 1954, đã lần lượt trong tay các vị: Ông Ngô Đình Diệm, Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Nguyễn Khánh, Kỹ sư Phan Khắc Sửu, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Giáo sư Trần Văn Hương, và Đại Tướng Dương Văn Minh (lần hai). Nhiệt tình của những vị lãnh đạo trên đây đối với quốc gia dân tộc dù nhiệm kỳ của hai vị sau cùng cộng lại chỉ hơn một tuần lễ, đều đáng được ca ngợi, nhưng vị nào đã để lại tiếng thơm muôn đời hay lời sỉ nhục lưu mãi trong sử sách, truyền mãi trong dân gian, xin tùy quí vị quí bạn. Xa hơn nữa là phán xét của lịch sử.

Với quyển sách này, tôi xin ghi lại những lệnh mà tôi nhận, những việc mà tôi làm, và những gì mà tôi nghĩ, qua những lệnh và những việc làm đó trong các biến cố chính trị từ năm 1963 về bí mật cái chết của tổng thống Ngô Đình Diệm đến cuối năm 1966. Rồi năm cuối cùng của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà lãnh đạo nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chiếm trọn Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, ký ức và tài liệu mà tôi ghi chép lúc đương nhiệm, còn lưu giữ được đôi điều. Vì giới hạn trong phạm vi trách nhiệm nên không có được tính cách trọn vẹn của mỗi biến cố, nhưng hy vọng là nội dung này có khả năng giúp quí vị quí bạn nhận ra những nét trung thực khi lần theo mỗi sự kiện trong từng biến cố.
Cũng xin nói thêm rằng, tôi chưa từng viết văn, cũng không biết viết văn, nên văn chương ở đây rất luộm thuộm. Kính mong quí vị quí bạn vui lòng xem nội dung quyển sách này như là một chuyện kể, nhớ đâu kể đó.
Cựu Đại Tá Phạm Bá Hoa

ĐÔI DÒNG GHI NHỚ - Hồi ký chính trị 1965-1975 – Tác giả Cựu Đại Tá Phạm Bá Hoa
Nhà Xuất Bản SAIGON PRESS tái bản lần đầu tại california 2012

KÝ SỰ TRONG TÙ – Tác giả Cựu Đại Tá Phạm Bá Hoa
Nhà Xuất Bản SAIGON PRESS tái bản lần đầu tại california 2012





Anh/ chị mua sách giấy vui lòng inbox

Address

Westminster, CA
92683

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Kho sách hiếm posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category