15/09/2026
EU TIẾN THÊM MỘT BƯỚC TỚI VIỆC KÝ FTA VỚI ẤN ĐỘ: LỢI THẾ “ĐI TRƯỚC” CỦA VIỆT NAM ĐANG DẦN THU HẸP
Ngày 11/9/2026, Ủy ban châu Âu trình lên Hội đồng EU hai đề xuất về việc ký và kết luận Hiệp định thương mại tự do EU – Ấn Độ, qua đó đề nghị Hội đồng cho phép tiến hành ký kết hiệp định. Đây là bước thủ tục quan trọng sau khi hai bên chính thức kết thúc đàm phán FTA ngày 27/1/2026. Sau khi Hội đồng cho phép ký, hiệp định còn phải trải qua bước ký chính thức, sự đồng ý của Nghị viện châu Âu và quyết định kết luận của Hội đồng trước khi có thể có hiệu lực.
Đây là một FTA có quy mô rất lớn, bao phủ thị trường khoảng 2 tỷ dân, chiếm gần 1/4 GDP toàn cầu, trong đó Ấn Độ hiện là nền kinh tế lớn thứ tư thế giới và là đối tác thương mại lớn thứ chín của EU. Về thương mại hàng hóa, kim ngạch hai chiều EU – Ấn Độ đạt khoảng 120 tỷ euro trong năm 2024; EU nhập khẩu từ Ấn Độ khoảng 71 tỷ euro và xuất khẩu sang Ấn Độ gần 49 tỷ euro. Theo nội dung được công bố, EU sẽ xóa bỏ thuế đối với hơn 90% dòng thuế, Ấn Độ xóa bỏ 86%; tính cả tự do hóa một phần, tỷ lệ bao phủ đạt 99,3% phía EU và 96,6% phía Ấn Độ. Những ngành Ấn Độ được đánh giá hưởng lợi đáng kể gồm thủy sản, dệt may, giày dép, hóa chất và dược phẩm – trong đó có nhiều nhóm hàng cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam tại thị trường EU.
Đáng chú ý, kể từ khi EVFTA được ký năm 2019, EU chưa ký thêm một FTA toàn diện mới với một nền kinh tế châu Á. EU–Indonesia đã hoàn tất đàm phán CEPA từ tháng 9/2025 nhưng chưa ký; các cuộc đàm phán với Philippines và Thái Lan vẫn đang tiếp tục. Vì vậy, tiến trình EU–Ấn Độ là một dấu hiệu cho thấy EU đang bước vào một giai đoạn mới trong việc mở rộng mạng lưới FTA tại châu Á.
Điều này cũng có nghĩa lợi thế “người đi trước” mà Việt Nam có được từ EVFTA đang dần thu hẹp. Tuy nhiên, điều này càng tạo thêm động lực để doanh nghiệp Việt Nam đẩy nhanh quá trình hội nhập sâu vào thị trường EU. Hơn sáu năm EVFTA có hiệu lực đã giúp doanh nghiệp Việt Nam có thời gian tích lũy quan hệ với nhà nhập khẩu, kinh nghiệm về quy tắc xuất xứ, hồ sơ tuân thủ và hiểu biết thị trường – những lợi thế mà các đối thủ mới bước vào FTA chưa thể có ngay. Khoảng thời gian dẫn trước này cần được tận dụng để củng cố thị phần, đi sâu hơn vào hệ thống phân phối, nâng cấp sản phẩm và chuyển nhanh từ cạnh tranh chủ yếu bằng ưu đãi thuế sang cạnh tranh bằng chất lượng, độ tin cậy, truy xuất nguồn gốc và năng lực tuân thủ, nhất là khi EU ngày càng bổ sung nhiều yêu cầu phi thuế quan mới về môi trường, an toàn thực phẩm, chuỗi cung ứng, phát thải carbon và trách nhiệm doanh nghiệp.
Vì vậy, FTA EU–Ấn Độ và các tiến trình với Indonesia, Philippines, Thái Lan hay Malaysia có thể xem là một mốc nhắc nhở quan trọng: lợi thế EVFTA vẫn còn, nhưng không còn là lợi thế có thể dựa vào lâu dài. Doanh nghiệp Việt Nam cần tranh thủ “quãng đường dẫn trước” hiện tại để biến lợi thế về thời gian thành lợi thế bền vững về thị trường, thương hiệu và năng lực đáp ứng tiêu chuẩn EU.