Công an Phường Yên Dũng, Thành phố Bắc Ninh

  • Home
  • Công an Phường Yên Dũng, Thành phố Bắc Ninh
Call Website

Công an Phường Yên Dũng, Thành phố Bắc Ninh Công an nhân dân - "Bản lĩnh - Nhân văn - Vì nhân dân phục vụ".

Số điện thoại trực ban: 0204 3768668
Số điện thoại đ/c Trưởng CAP: 098 2145584
Số điện thoại đ/c PTCAP: 098 2198045

25/09/2026

🆘🆘🆘 Yên Dũng: ĐỪNG ĐỂ ĐƯỜNG ĐẾN TRƯỜNG THÀNH NỖI ĐAU

Dân chủ gắn với pháp quyền, kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệmTiếp tục Phiên họp thứ 6, ngày 24/9, dưới sự chủ trì của Chủ t...
25/09/2026

Dân chủ gắn với pháp quyền, kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệm

Tiếp tục Phiên họp thứ 6, ngày 24/9, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến vào một số dự án Luật và thông qua về nguyên tắc dự thảo Nghị quyết quy định về chế độ bảo vệ thẩm phán.

Cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ vào sáng qua, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo lưu ý, việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư, kinh doanh phải bảo đảm thực chất, gắn với đơn giản hóa trình tự, thủ tục, tránh việc chỉ bỏ quy định trong luật nhưng vẫn quy định tại các văn bản dưới luật. Cắt giảm thời gian và chi phí tuân thủ nhưng cần có cơ chế hậu kiểm phù hợp để bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước.

Góp ý vào dự luật, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng, lần sửa đổi tập trung chuyển trọng tâm từ bảo hộ quyền sang tài sản hóa, thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời thích ứng với công nghệ số và AI. Chủ tịch Quốc hội đề nghị: để cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện, thực chất, phải bảo đảm nguồn lực con người và hạ tầng số mạnh mẽ, quy định rõ chế tài khi cơ quan nhà nước chậm hạn, tăng hiệu quả hậu kiểm. Cần cơ chế thẩm định nhanh, ưu tiên lĩnh vực chiến lược công nghệ: xanh, bán dẫn, AI, dược phẩm thay vì áp dụng tràn lan.

Để thúc đẩy khai thác thương mại, tài sản hóa quyền sở hữu trí tuệ cần sớm ban hành hướng dẫn về sở hữu trí tuệ thống nhất, minh bạch, nhất là đối với tài sản vô hình như phần mềm, dữ liệu, thương hiệu số… Thời gian tới, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ cần đặc biệt quan tâm ban hành nhanh nghị định về AI, xây dựng hệ thống định giá sở hữu trí tuệ chuẩn mực và cơ sở dữ liệu giao dịch công khai; đầu tư mạnh vào nhân sự, công nghệ thẩm định để đáp ứng thời hạn mới.
Chuyển đổi số phải mở rộng dân chủ

Nhất trí với sự cần thiết sửa đổi Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong phiên làm việc sáng qua, các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhấn mạnh, yêu cầu sửa đổi không phải chỉ tinh gọn số điều mà quan trọng là dân chủ ở cơ sở phải thực chất, trách nhiệm và phù hợp với phương thức quản trị mới.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị, việc sửa đổi luật phải xác định đúng tinh thần, dân chủ đi cùng pháp quyền, kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệm, nghiêm minh ở cơ sở. Dân chủ ở cơ sở không chỉ là người dân được biết, được bàn, được tham gia ý kiến mà quan trọng hơn là ý kiến đó được tiếp nhận, trả lời thế nào và kết quả xử lý ra sao. Đối với những cơ chế trực tiếp tác động đến quyền của người dân phải được quy định rõ, dễ thực hiện.

Nhấn mạnh chuyển đổi số phải mở rộng dân chủ, không tạo ra khoảng cách dân chủ số, Chủ tịch Quốc hội đồng tình với việc họp trực tuyến, bỏ phiếu điện tử, lấy ý kiến trên nền tảng số nhưng phải bảo đảm mọi người dân có cơ hội tham gia. Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ cần tiếp tục làm rõ và tăng cường cơ chế trách nhiệm giải trình và chế tài, phải lấy người dân làm trọng tâm trong sửa đổi luật để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Cũng trong sáng qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã biểu quyết thông qua về nguyên tắc dự thảo Nghị quyết quy định về chế độ bảo vệ thẩm phán.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định lưu ý, đây là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu để thể chế hóa Quy định số 183-QĐ/TW của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị.

Thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa

Trình bày Tờ trình tóm tắt dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa chiều qua, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, dự án Luật tập trung giải quyết các vấn đề mang tính then chốt để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa thông qua 6 nhóm nội dung: Phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; Nhân lực công nghiệp văn hóa; Hạ tầng công nghiệp văn hóa; Thị trường công nghiệp văn hóa; Tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư. Việc ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là cần thiết nhằm hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo, phát triển thị trường và đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng của đất nước.

Trình bày Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết: Thường trực Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Luật cũng như phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, tuy nhiên, cần tiếp tục rà soát, xác định đối tượng áp dụng trong nước và ngoài nước, nhất là các chủ thể nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa vào thị trường Việt Nam, hoạt động qua nền tảng số xuyên biên giới hoặc khai thác “tài sản trí tuệ” thuộc phạm vi bảo hộ tại Việt Nam…

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát dự thảo Luật với các luật chuyên ngành có liên quan như: Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Công nghiệp công nghệ số… và các điều ước quốc tế có liên quan; rà soát, đánh giá cụ thể hơn tác động của các chính sách mới trong dự thảo Luật.

Tiếp đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Dự thảo luật bổ sung nhiều quy định mới nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng hiệu quả quản lý và nâng cao trách nhiệm trong bảo đảm an toàn thực phẩm. Thẩm tra sơ bộ, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết: Thường trực Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi).

Sau hơn 15 năm thực hiện, Luật An toàn thực phẩm đã bộc lộ một số hạn chế như mô hình quản lý còn phân tán, chồng chéo; khoảng trống pháp lý trong quản lý các hình thức kinh doanh mới trên môi trường số, thương mại điện tử và giao đồ ăn trực tuyến. Thường trực Ủy ban đề nghị bổ sung quyền của người tiêu dùng được tiếp cận thông tin minh bạch, truy xuất nguồn gốc thực phẩm; đồng thời quy định trách nhiệm của chủ nền tảng số, sàn thương mại điện tử trong bảo đảm an toàn thực phẩm. Về hậu kiểm, cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát để tránh biến hậu kiểm thành một hình thức tiền kiểm mới. Thường trực Ủy ban đề nghị cần quy định rõ trách nhiệm bồi thường, chế tài xử phạt trong lĩnh vực này...

Báo Nhân dân


Không để tâm lý sợ sai trở thành lực cản của đổi mớiMột đất nước muốn phát triển không thể chỉ cần những người làm đúng ...
25/09/2026

Không để tâm lý sợ sai trở thành lực cản của đổi mới

Một đất nước muốn phát triển không thể chỉ cần những người làm đúng quy trình, quy định mà còn cần những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám đột phá vào những việc khó, những việc chưa có tiền lệ.

Nhưng muốn có những con người như vậy, bên cạnh cơ chế khuyến khích đổi mới, còn phải có cơ chế đủ sức bảo vệ họ trước những rủi ro có thể phát sinh. Quy định số 212-QĐ/TW ngày 17/8/2026 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm đã mở thêm một cánh cửa quan trọng cho yêu cầu đó.

Có một thực tế đang đặt ra là trong quá trình thúc đẩy đổi mới: Càng yêu cầu cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm thì càng phải chấp nhận rằng không phải mọi quyết định, hành động đều có thể ngay lập tức cho một kết quả hoàn hảo. Nếu mọi rủi ro của đổi mới đều được nhìn nhận đơn thuần bằng kết quả cuối cùng, cứ có thiệt hại hay khi chưa có kết quả cụ thể là quy kết trách nhiệm mà không xem xét đầy đủ động cơ, hoàn cảnh, cách thức ra quyết định và quá trình thực hiện, rất dễ hình thành tâm lý không làm còn hơn làm vì có thể sai. Điều đáng lo không chỉ là cán bộ sai khi làm, mà còn là cán bộ không dám làm vì sợ sai.

Trong thực tế quản lý, những sáng kiến mới thường xuất hiện ở nơi các quy định hiện hành chưa bao quát hết. Người đứng đầu hoặc cán bộ trực tiếp thực hiện phải vận dụng chủ trương, tìm cách tháo gỡ nút thắt, điểm nghẽn, lựa chọn phương án chưa từng được thử nghiệm. Người năng động, sáng tạo thường không bằng lòng với cách làm cũ khi cách làm ấy không còn phù hợp. Họ có thể có tư duy mới lạ, khác số đông, đặt ra những câu hỏi mới và tìm một con đường khác để giải quyết vấn đề.

Sự khác biệt đương nhiên không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với đúng đắn, nhưng nếu từ đó hình thành định kiến, dẫn tới xem nhẹ, hạn chế, thậm chí vô hiệu hóa một con người có năng lực, có những suy nghĩ độc đáo thì tổn thất không chỉ thuộc về cá nhân. Tổ chức mất đi một người có khả năng giải quyết việc khó, bộ máy mất đi một động lực đổi mới và rộng hơn xã hội có thể mất đi một cơ hội phát triển.

Vì vậy, điều quan trọng là phân biệt khuyết điểm cần sửa chữa với năng lực cần phát huy; sai sót cần xử lý với rủi ro của đổi mới; vi phạm vì động cơ cá nhân với hành động xuất phát từ lợi ích chung. Đó là thước đo công bằng đối với người dám nghĩ, dám làm.

Trong quá khứ, đã có những cán bộ, lãnh đạo đơn vị, địa phương khi đứng trước những khó khăn mà cơ chế, chính sách chưa giải quyết được, họ tìm cách vận dụng linh hoạt, thậm chí “xé rào”, làm những việc chưa có tiền lệ để tháo gỡ vướng mắc, tạo ra những kết quả tích cực cho đời sống kinh tế-xã hội.

Nhưng cũng có thể xảy ra nghịch lý: Với một quyết định được đưa ra trong hoàn cảnh cấp bách, nhằm tháo gỡ một điểm nghẽn, tạo ra hiệu quả có thể được nhìn nhận như một sáng kiến, nếu sau đó phát sinh hệ quả ngoài dự kiến, đôi khi có thể được nhìn nhận rất khác khi đặt dưới lăng kính của thanh tra, kiểm tra: những gì “chưa có tiền lệ” nguy cơ có thể bị nhìn thành “không đúng quy định”; sự linh hoạt để giải quyết tình huống rất dễ có thể bị nhìn thành “không tuân thủ quy trình, thủ tục”. Đương nhiên, đặt ra tình huống đó không có nghĩa là hạ thấp vai trò của thanh tra, kiểm tra.

Ngược lại, càng khuyến khích đổi mới, sáng tạo càng phải tăng cường kiểm tra, giám sát. Nhưng cũng không nên chỉ dừng ở việc đối chiếu quy trình, thủ tục mà cùng với đó cũng cần có sự thấu hiểu đối với những khó khăn khách quan mà cán bộ, công chức đang phải đối mặt trong quá trình thực thi công vụ, phải làm rõ hoàn cảnh, mục tiêu, động cơ, thẩm quyền, cách thức kiểm soát rủi ro và việc khắc phục hậu quả; quan trọng nhất là phân định cố ý làm trái để trục lợi với rủi ro phát sinh trong đổi mới vì lợi ích chung.

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ để phát hiện sai phạm mà còn phải phát hiện cái đúng để bảo vệ, cái mới để nhân rộng, những bất cập của cơ chế để kiến nghị sửa đổi. Khi đó, thanh tra, kiểm tra, giám sát mới thật sự trở thành công cụ bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và đồng thời tạo không gian cho đổi mới, góp phần tạo niềm tin cho những người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Quy định số 212-QĐ/TW nhấn mạnh khi xem xét kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, ý thức tự phê bình, tiếp thu phê bình và kết quả sửa chữa, khắc phục. Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa đối với những trường hợp có yếu tố đổi mới, sáng tạo. Bởi giữa một người cố tình làm sai để vụ lợi và một người dám làm một việc mới vì lợi ích chung nhưng trong quá trình thực hiện có thiếu sót, không thể chỉ căn cứ vào một kết quả giống nhau để đánh giá giống nhau.

Đổi mới, sáng tạo không phải là “tấm giấy miễn trừ” trách nhiệm. Người dám nghĩ, dám làm vẫn phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Sáng tạo không đồng nghĩa với tùy tiện; dám đột phá không đồng nghĩa với đứng ngoài kỷ luật; vì lợi ích chung không thể trở thành cái cớ để bỏ qua nguyên tắc. Nhưng ngược lại, kỷ luật khi nhìn nhận vấn đề bằng thái độ khách quan, đa chiều và khoa học cũng không thể trở thành nguy cơ để triệt tiêu sáng tạo.

Một trong những điểm quan trọng của Quy định số 212-QĐ/TW là quy định cụ thể đối với trường hợp tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan, sai. Theo đó, tổ chức đảng đã ra quyết định kỷ luật phải hủy bỏ hoặc thay đổi quyết định cho phù hợp; tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Nếu tổ chức đảng không thực hiện thì tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đã ra quyết định kỷ luật oan, sai; nếu có vi phạm đến mức phải kỷ luật thì xử lý theo quy định.

Đây không chỉ là một quy định về kỹ thuật xử lý kỷ luật mà còn là yêu cầu đối với trách nhiệm của chính cơ quan thực thi quyền lực trong việc bảo đảm công bằng. Một quyết định kỷ luật oan, sai không thể chỉ kết thúc bằng một cuộc họp, một dòng “rút kinh nghiệm” hay sự im lặng. Người bị kỷ luật oan có thể mất cơ hội công tác, mất uy tín, mất niềm tin của đồng nghiệp.

Vì vậy, việc hủy bỏ hoặc thay đổi quyết định kỷ luật, xin lỗi và phục hồi quyền lợi có ý nghĩa rất lớn. Nó khẳng định rằng: Đảng nghiêm minh với vi phạm nhưng cũng nghiêm túc bảo vệ sự thật và công bằng. Một cán bộ thật sự dám nghĩ, dám làm phải chấp nhận rằng mình có thể gặp rủi ro. Nhưng họ cũng cần biết rằng nếu bị kết luận oan, sai, họ có cơ chế để được minh oan, xin lỗi và phục hồi quyền lợi. Bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm không phải là bảo vệ cán bộ khỏi mọi sai sót. Điều cần bảo vệ là động lực đổi mới và tinh thần chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đất nước đang cần những người dám bước ra khỏi lối mòn để tìm kiếm những cách làm mới. Điều họ cần không phải là một “tấm giấy miễn trừ”, mà là một thể chế công bằng. Bởi chỉ khi cán bộ tin rằng làm đúng vì lợi ích chung sẽ được bảo vệ, làm sai vì vụ lợi sẽ bị xử lý và nếu bị oan, sai sẽ được trả lại công bằng, thì tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám đột phá mới thật sự có thể trở thành động lực cho phát triển.

CÙ TẤT DŨNG

Báo Nhân dân

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)



Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Thủ tướng Canada Mark CarneyTrong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới C...
25/09/2026

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Thủ tướng Canada Mark Carney

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada, ngày 24/9 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội đàm với Thủ tướng Canada Mark Carney.

Thủ tướng Mark Carney nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước Canada; nhấn mạnh đây là chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử, tạo xung lực mới đưa quan hệ song phương bước vào giai đoạn phát triển sâu rộng và thực chất hơn. Thủ tướng đánh giá cao những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, vị thế ngày càng cao và những đóng góp tích cực của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế; khẳng định Việt Nam là đối tác quan trọng của Canada trong thúc đẩy quan hệ với ASEAN và khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, nồng hậu của Chính phủ và nhân dân Canada; chuyển lời thăm hỏi, lời chúc tốt đẹp của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tới Thủ tướng Mark Carney và mong sớm đón Thủ tướng thăm Việt Nam. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chúc mừng những thành tựu quan trọng của Canada trong phát triển kinh tế, đa dạng hóa thị trường và đối tác, góp phần nâng cao vị thế của Canada trên trường quốc tế. Chia sẻ những mục tiêu chiến lược Việt Nam đặt ra trong kỷ nguyên phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh Việt Nam coi Canada là người bạn, đối tác tin cậy, cùng chia sẻ nhiều lợi ích và tầm nhìn chiến lược.

Hai nhà Lãnh đạo nhất trí đánh giá những thành tựu quan trọng của quan hệ Việt Nam-Canada trong hơn 50 năm xây dựng và củng cố quan hệ hữu nghị và gần 10 năm triển khai khuôn khổ Đối tác toàn diện. Tin cậy chính trị và hiểu biết lẫn nhau không ngừng được củng cố; kinh tế, thương mại và đầu tư trở thành nền tảng quan trọng của quan hệ song phương; hợp tác quốc phòng-an ninh, giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, văn hóa và giao lưu nhân dân tiếp tục được mở rộng.

Trên nền tảng đó, hai Nhà lãnh đạo nhất trí cho rằng quan hệ Việt Nam-Canada đã hội tụ đầy đủ điều kiện để bước sang một giai đoạn phát triển mới, với mức độ tin cậy chính trị cao hơn, hợp tác sâu rộng, thực chất hơn và đan xen lợi ích chặt chẽ hơn; thống nhất nâng quan hệ lên Đối tác chiến lược và sớm xây dựng chương trình nghị sự, kế hoạch hành động cụ thể để triển khai hiệu quả khuôn khổ quan hệ mới.

Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao, đẩy mạnh hợp tác kênh nghị viện, phát huy hiệu quả các cơ chế song phương, trong đó có tham vấn, đối thoại thường xuyên giữa hai Bộ Ngoại giao; phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và đa phương.

Thủ tướng Carney mong muốn đưa hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, tài chính và hội nhập kinh tế trở thành xung lực quan trọng của quan hệ Đối tác chiến lược; tạo thuận lợi mở cửa thị trường hàng hóa, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đầu tư và liên kết chuỗi cung ứng; khuyến khích các doanh nghiệp, quỹ đầu tư Canada tăng cường đầu tư tại Việt Nam; hoan nghênh các lĩnh vực hợp tác mới như hạ tầng, giao thông và ủng hộ nghiên cứu mở đường bay thẳng giữa hai nước.

Thủ tướng Canada đề nghị hai bên phát huy hơn nữa vai trò của CPTPP trong thúc đẩy thương mại tự do, sớm kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do ASEAN-Canada, góp phần mở rộng không gian hợp tác, đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định hai nước cần tập trung vào các ưu tiên mới trong quan hệ hai nước, trong đó, đưa khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ tiên tiến trở thành những động lực mới; đề nghị tăng cường hợp tác nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ mới, chia sẻ kinh nghiệm về chuyển đổi số, xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, đồng thời chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Hai bên nhất trí thúc đẩy liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; tăng cường nghiên cứu chung, chuyển giao tri thức, công nghệ và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Hai bên nhất trí mở rộng hợp tác năng lượng, gồm năng lượng sạch, LNG, năng lượng tái tạo, tiềm năng hợp tác năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. Hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực y tế, môi trường, nông nghiệp, an ninh lương thực, giáo dục-đào tạo, văn hóa và giao lưu nhân dân; phát huy thế mạnh bổ trợ trong nông nghiệp, sản xuất và thương mại thực phẩm, góp phần xây dựng chuỗi cung ứng bền vững.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Canada tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện để cộng đồng người Việt Nam tại Canada ổn định cuộc sống, hội nhập và phát triển, đóng góp tích cực cho xã hội sở tại và làm cầu nối hữu nghị giữa hai nước.

Về hợp tác quốc phòng-an ninh, hai bên nhất trí thúc đẩy tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh và thực thi pháp luật trên cơ sở phù hợp với nhu cầu và mong muốn của mỗi bên; mở rộng hợp tác về an ninh phi truyền thống, an ninh biển, an ninh mạng, hỗ trợ nhân đạo, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, và phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; nhất trí ủng hộ việc hai bên hướng tới thiết lập Đối thoại song phương về An ninh và Thực thi pháp luật. Thủ tướng Carney khẳng định ủng hộ Việt Nam tổ chức Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam lần thứ ba và sẽ cử đại diện tham dự; hoan nghênh Việt Nam sớm mở Văn phòng Tùy viên Quốc phòng tại Canada.

Về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên chia sẻ tầm nhìn chung về tăng cường đối thoại, hợp tác, đề cao chủ nghĩa đa phương, Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không tại Biển Đông; nhất trí giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Thủ tướng Carney khẳng định Canada ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và tăng cường hợp tác ASEAN-Canada. Hai Nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường phối hợp tại Liên hợp quốc, Cộng đồng Pháp ngữ, APEC, CPTPP và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao Canada ủng hộ Việt Nam đảm nhận các trọng trách quốc tế. Thủ tướng Mark Carney cảm ơn Việt Nam ủng hộ tăng cường quan hệ ASEAN-Canada, đàm phán Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Canada.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mời Thủ tướng Mark Carney thăm chính thức Việt Nam trong năm 2026 và dự Tuần lễ Cấp cao APEC 2027. Thủ tướng Mark Carney vui vẻ nhận lời; khẳng định Canada ủng hộ và sẵn sàng phối hợp với Việt Nam đóng góp vào thành công của Năm APEC 2027.

Nhân dịp này, hai Nhà lãnh đạo đã chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác giữa các cơ quan hai nước và công bố Tuyên bố chung về việc chính thức nâng cấp quan hệ Việt Nam-Canada lên Đối tác chiến lược. Hai Nhà lãnh đạo bày tỏ tin tưởng khuôn khổ quan hệ mới sẽ mở ra chương mới trong quan hệ hai nước, đưa hợp tác Việt Nam-Canada phát triển sâu rộng, thực chất và hiệu quả hơn, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững ở khu vực và trên thế giới.

HẠNH NGUYÊN

Báo Nhân dân










Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến với Toàn quyền CanadaTheo Đặc phái viên TTXVN, sáng 24/9 (theo giờ địa phương...
25/09/2026

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến với Toàn quyền Canada

Theo Đặc phái viên TTXVN, sáng 24/9 (theo giờ địa phương), tại Phủ Toàn quyền Canada, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến với Toàn quyền Canada Louise Arbour sau Lễ đón cấp Nhà nước trọng thể.

Nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, Toàn quyền Louise Arbour bày tỏ vui mừng được đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trên cương vị là Quốc khách đầu tiên kể từ khi nhậm chức; khẳng định chuyến thăm là dấu mốc có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ hai nước.

Toàn quyền Louise Arbour chúc mừng những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội ấn tượng của Việt Nam; đánh giá cao vị thế, vai trò quốc tế ngày càng tăng cũng như những định hướng, mục tiêu phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Vui mừng trước những bước tiến tích cực trong quan hệ Việt Nam - Canada, Toàn quyền Louise Arbour khẳng định Canada và Việt Nam đều là những quốc gia Thái Bình Dương, có nhiều lợi ích chung trong duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực; Canada coi Việt Nam là đối tác quan trọng tại khu vực.

Toàn quyền Canada nhấn mạnh, với nền tảng quan hệ được xây dựng và củng cố qua nhiều thế hệ, đây là thời điểm hai bên cần cùng nhau nỗ lực đưa quan hệ Việt Nam - Canada lên tầm cao mới. Toàn quyền Canada bày tỏ ấn tượng về một Việt Nam năng động, phát triển nhanh, hội nhập sâu rộng; đánh giá hai nước có nhiều thế mạnh bổ trợ và tiềm năng hợp tác rộng mở, tạo nền tảng thuận lợi để tiếp tục mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Canada sẵn sàng phát huy thế mạnh về nguồn lực, công nghệ, giáo dục, năng lượng, nông nghiệp và tài chính để tăng cường hợp tác với Việt Nam, qua đó tăng cường đan xen lợi ích và đưa quan hệ song phương phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và lợi ích của mỗi nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trân trọng cảm ơn Toàn quyền Louise Arbour đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sự đón tiếp trọng thị, nồng hậu; bày tỏ vui mừng thực hiện chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên của người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam tới Canada kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh chuyến thăm diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa quan trọng, khi quan hệ hai nước đã trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, đồng thời, Việt Nam và Canada đều đang đứng trước những mục tiêu phát triển mới và mong muốn mở rộng quan hệ với các đối tác tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam nhất quán coi trọng quan hệ với Canada; đánh giá cao những bước phát triển quan trọng của quan hệ hai nước sau gần một thập kỷ triển khai khuôn khổ Đối tác toàn diện. Tin cậy chính trị không ngừng được củng cố; hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư ngày càng mở rộng; hợp tác quốc phòng - an ninh, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, giao lưu nhân dân và nhiều lĩnh vực khác đạt được những kết quả tích cực, ngày càng đi vào chiều sâu.

Trên tinh thần đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên tiếp tục tăng cường tiếp xúc, trao đổi đoàn các cấp, nhất là cấp cao; củng cố tin cậy chính trị; phát huy hơn nữa vai trò của các cơ chế hợp tác hiện có, đồng thời tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và đa phương.

Về kinh tế, thương mại và đầu tư, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên khai thác hiệu quả các khuôn khổ hợp tác và liên kết kinh tế hiện có, mở rộng thị trường, kết nối chuỗi cung ứng, khuyến khích các doanh nghiệp, quỹ đầu tư Canada đầu tư lâu dài tại Việt Nam; mở rộng hợp tác về giao thông, hạ tầng, logistics và kết nối. Hai nước cần tạo thêm những động lực tăng trưởng mới thông qua tăng cường hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ tiên tiến; đồng thời mở rộng hợp tác về năng lượng, phát triển xanh, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, y tế, nông nghiệp công nghệ cao, an ninh lương thực và phát triển bền vững.

Về quốc phòng - an ninh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên tiếp tục phát huy kết quả hợp tác thời gian qua, tăng cường hợp tác phù hợp với lợi ích và nhu cầu của mỗi bên, tập trung vào đào tạo, nâng cao năng lực, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, an ninh hàng hải, khắc phục hậu quả chiến tranh, cứu hộ - cứu nạn, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và các thách thức an ninh phi truyền thống. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh hợp tác giáo dục - đào tạo, văn hóa và giao lưu nhân dân tiếp tục là nền tảng quan trọng cho sự phát triển lâu dài của quan hệ song phương.

Toàn quyền Louise Arbour nhất trí với các định hướng lớn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đối với quan hệ hai nước; khẳng định Canada sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm, phát huy thế mạnh và tiềm năng của mỗi nước, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước. Ghi nhận tích cực đề nghị của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc Canada tiếp tục quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam tại Canada ổn định cuộc sống, hội nhập sâu rộng, phát huy thế mạnh và đóng góp tích cực cho sự phát triển của Canada; đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa, tiếng Việt, tăng cường gắn kết với quê hương, đất nước và tiếp tục phát huy vai trò cầu nối hữu nghị, hợp tác giữa hai nước.

Trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên nhất trí cho rằng trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và thách thức đan xen, các quốc gia cần tăng cường đối thoại, hợp tác, đề cao chủ nghĩa đa phương, tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Hai bên nhất trí tiếp tục phối hợp tại Liên hợp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Cộng đồng Pháp ngữ, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và các cơ chế đa phương phù hợp; ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN, ủng hộ Canada tăng cường gắn kết, hợp tác với ASEAN và khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cùng đóng góp vào việc xử lý các thách thức chung, thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trân trọng mời Toàn quyền Louise Arbour thăm Việt Nam vào thời gian phù hợp. Toàn quyền Canada cảm ơn và vui vẻ nhận lời.

Nguyễn Hồng Điệp/TTXVN










Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và CanadaThông tấn xã Việt Nam (TTXVN) trân trọng giới thiệu ...
25/09/2026

Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada

Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:

Nhận lời mời của Toàn quyền Canada, Bà Louise Arbour, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Canada từ ngày 24 đến ngày 25 tháng 9 năm 2026. Đây là lần đầu tiên một Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thăm chính thức Canada kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973, đánh dấu cột mốc lịch sử trong quan hệ hai nước.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội đàm với Thủ tướng Canada Mark Carney tại Ottawa. Chuyến thăm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn, dựa trên nền tảng hợp tác kinh tế mạnh mẽ hơn, tăng trưởng cùng có lợi và phát triển bền vững.

Việt Nam và Canada là các đối tác tin cậy của nhau, cùng cam kết xây dựng mối quan hệ dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau đối với thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; đối thoại cởi mở và chân thành; lợi ích cân bằng và đan xen, tuân thủ luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, vì mục tiêu hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Là những quốc gia hội nhập sâu rộng vào hệ thống thương mại toàn cầu, Việt Nam và Canada nhận thức được rằng để phát triển phồn vinh, các quan hệ kinh tế quốc tế cần dựa trên luật lệ.

Lãnh đạo hai nước đã nâng cấp quan hệ Việt Nam - Canada lên Đối tác Chiến lược dựa trên 8 trụ cột: (1) Hợp tác song phương, khu vực và đa phương; (2) Hợp tác thương mại, đầu tư, tài chính và kinh tế; (3) Hợp tác về giao thông vận tải, quản lý chuỗi cung ứng và hạ tầng; (4) Hợp tác về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ tiên tiến và đổi mới sáng tạo; (5) Hợp tác về an ninh năng lượng, môi trường và tăng trưởng bền vững; (6) Hợp tác về an ninh lương thực và nông nghiệp - thực phẩm; (7) Hợp tác về quốc phòng, an ninh, hàng hải, thực thi pháp luật và tư pháp; (8) Hợp tác về giáo dục, văn hóa và giao lưu nhân dân. Tổng thể các trụ cột này tạo nền tảng giúp Việt Nam và Canada cùng giải quyết các thách thức chung, nắm bắt các cơ hội mới nổi và đóng góp vào một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương an ninh, phồn vinh và năng động hơn.

Hợp tác Song phương, Khu vực và Đa phương

1. Lãnh đạo hai nước ghi nhận tầm quan trọng của việc duy trì tiếp xúc nhằm củng cố nền tảng thể chế của quan hệ song phương, tạo thuận lợi cho hợp tác trong các ưu tiên chung và hỗ trợ quản lý hiệu quả các thách thức, cơ hội mới nổi. Lãnh đạo hai nước tái khẳng định cam kết tăng cường tin cậy chính trị và hiểu biết lẫn nhau thông qua duy trì trao đổi đoàn cấp cao thường xuyên, phát huy các cơ chế song phương hiện có như các cơ chế Tham vấn Song phương Việt Nam - Canada, Ủy ban Hỗn hợp về Kinh tế, Đối thoại Chính sách Quốc phòng, Đối thoại Biển, cũng như tăng cường sự gắn kết giữa các tổ chức hữu quan, phù hợp với luật pháp và quy định của cả hai nước.

Lãnh đạo hai nước hoan nghênh cơ hội đối thoại thường xuyên giữa Bộ trưởng Ngoại giao hai nước cũng như việc thiết lập Đối thoại Nông nghiệp Việt Nam - Canada và thảo luận hướng tới thiết lập Đối thoại An ninh và Thực thi Pháp luật song phương. Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã trân trọng mời Thủ tướng Mark Carney thăm Việt Nam.

2. Hai bên hoan nghênh các cam kết tăng cường hợp tác nghị viện thông qua trao đổi giữa các ủy ban, nhóm nghị sĩ hữu nghị, nữ nghị sĩ và nghị sĩ trẻ của hai nước, góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau và gắn kết nhân dân.

3. Lãnh đạo hai nước chia sẻ cam kết đề cao luật pháp quốc tế và tăng cường hợp tác khu vực và đa phương tại các diễn đàn như Liên hợp quốc, APEC, các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie), cũng như trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Tiến bộ và Toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Hai bên tái khẳng định ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN, trao đổi về việc phối hợp giữa Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Canada với Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và cam kết làm sâu sắc hơn hợp tác trong khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược ASEAN - Canada, bao gồm hợp tác trong các lĩnh vực cùng quan tâm như năng lượng, an ninh lương thực, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số.

Canada hoan nghênh vai trò dẫn dắt của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch Hội đồng CPTPP năm 2026, cũng như việc Việt Nam tiếp tục hợp tác trong khuôn khổ Đối thoại Thương mại và Đầu tư CPTPP - EU và chuẩn bị đăng cai APEC 2027, đồng thời sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam đảm nhiệm tốt các vai trò này cũng như vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2030. Việt Nam hoan nghênh việc Canada đề xuất đăng cai Hội nghị Cấp cao Cộng đồng Pháp ngữ năm 2028 và APEC năm 2029. Hai bên cam kết tiếp tục phối hợp ứng phó với các thách thức khu vực và toàn cầu, thúc đẩy các lợi ích chung nhằm tăng cường hòa bình, ổn định và tuân thủ luật pháp quốc tế, bao Công ước Vienna về Quan hệ Lãnh sự và Hiến chương Liên hợp quốc.

Hợp tác Thương mại, Đầu tư, Tài chính và Kinh tế

1. Thương mại là một trụ cột trong quan hệ Việt Nam - Canada, được thúc đẩy mạnh mẽ nhờ Hiệp định CPTPP. Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Canada trong ASEAN. Thương mại hai bên tăng trưởng nhanh chóng, thể hiện sức mạnh của quan hệ đối tác kinh tế giữa hai nước và dư địa to lớn để tiếp tục mở rộng thương mại, đầu tư, quan hệ đối tác chiến lược giữa các doanh nghiệp và hợp tác phát triển, qua đó góp phần thúc đẩy các ưu tiên chung của hai nước.

2. Các nhà lãnh đạo tái khẳng định ủng hộ hoàn tất đàm phán và thực thi Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Canada sớm nhất có thể, làm cơ sở quan trọng thúc đẩy hợp tác kinh tế sâu rộng hơn giữa ASEAN và Canada. Hai bên cũng nhất trí phát huy tối đa hiệu quả của Ủy ban Hỗn hợp về Kinh tế Việt Nam - Canada và tái khẳng định ủng hộ việc triển khai, hiện đại hóa và mở rộng CPTPP. Ngoài ra, Việt Nam và Canada đang hỗ trợ kết nối khu vực và thương mại dựa trên luật lệ thông qua các đối tác có chung lợi ích và Đối thoại Thương mại và Đầu tư CPTPP với Liên minh Châu Âu (EU) và ASEAN.

3. Hai bên tái khẳng định ủng hộ hệ thống thương mại đa phương không phân biệt đối xử, mở, công bằng, bao trùm, bình đẳng, minh bạch và dựa trên luật lệ. Lãnh đạo hai nước tái khẳng định cam kết thúc đẩy các quyền và nguyên tắc lao động được quốc tế công nhận, việc làm thoả đáng và tăng trưởng kinh tế bao trùm phù hợp với các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc tiếp tục phối hợp tại ILO, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Nhóm Ngân hàng Thế giới (WBG), APEC và CPTPP.

Các cam kết này nhằm dỡ bỏ các rào cản tiếp cận thị trường, thúc đẩy mở cửa thị trường cho hàng hoá của nhau, tạo thuận lợi cho lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ giữa hai nước, hỗ trợ doanh nghiệp hai nước tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng liên quan. Hai bên hoan nghênh các nỗ lực nhằm tăng cường đầu tư trực tiếp hai chiều ở Việt Nam và Canada. Việt Nam khẳng định sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Canada đầu tư và kinh doanh ổn định, lâu dài tại Việt Nam.

4. Các nhà lãnh đạo cũng hoan nghênh nỗ lực tăng cường hợp tác giữa Việt Nam với các tỉnh, vùng lãnh thổ và chính quyền đô thị của Canada, cũng như giữa các cơ quan xúc tiến thương mại - đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp hai nước.

Hợp tác về Giao thông vận tải, Quản lý chuỗi cung ứng và Hạ tầng

1. Các nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của các chuỗi cung ứng và vận tải hàng hải, hàng không tự cường, đa dạng và đáng tin cậy; nhất trí phối hợp tháo gỡ các rào cản tiếp cận thị trường, tạo thuận lợi cho gia tăng thương mại, tăng cường khả năng tự cường của lĩnh vực hàng hải và duy trì tính liên tục của chuỗi cung ứng.

2. Hai bên cũng hoan nghênh tiến triển về hợp tác vận tải song phương, bao gồm việc ký Bản ghi nhớ về Hợp tác vận tải biển và các tham vấn về vận tải hàng không trong tháng 9/2026, theo đó mở rộng năng lực dịch vụ hàng không và tự do hoá hơn nữa phụ lục đường bay của Hiệp định Vận tải Hàng không Việt Nam - Canada để tạo điều kiện cho các dịch vụ bay thẳng.

3. Các nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của hợp tác giảm phát thải từ hoạt động vận tải biển. Theo đó, hai bên thúc đẩy các sáng kiến vận tải biển xanh như Bản ghi nhớ về Hành lang Hàng hải Xanh giữa nhiều cảng và nhiều khu vực tài phán tại Thái Bình Dương, đồng thời nghiên cứu cơ hội hỗ trợ phát triển và triển khai nhiên liệu phát thải các-bon thấp và các công nghệ không phát thải.

4. Các nhà Lãnh đạo cũng hoan nghênh việc tiếp tục hợp tác giữa các quan chức hàng không dân dụng và các đối tác khu vực chủ chốt trong khu vực nhằm mở rộng hỗ trợ có trọng tâm về an ninh hàng không tại các sân bay trọng điểm ở Việt Nam, qua đó nâng cao công tác giám sát chung và kiểm soát chất lượng.

Hợp tác về Chuyển đổi số, Trí tuệ nhân tạo, Công nghệ tiên tiến và Đổi mới sáng tạo

1. Nhận thức được cơ hội to lớn mà chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ tiên tiến mang lại trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, tạo việc làm chất lượng cao và mở ra các dư địa tăng trưởng kinh tế mới, các nhà Lãnh đạo cam kết nghiên cứu thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt thông qua hợp tác tại các diễn đàn đa phương bao gồm APEC và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, cũng như trong ứng dụng các công nghệ tiên tiến. Lãnh đạo hai nước nhất trí nghiên cứu các cơ hội thúc đẩy chuyển đổi số bền vững, xây dựng các hệ sinh thái số an toàn, cải thiện hạ tầng, an ninh mạng và quản trị dữ liệu, phù hợp với quy định trong nước và luật pháp quốc tế.

2. Các nhà lãnh đạo hoan nghênh các cơ hội hợp tác thông qua các cơ chế của ASEAN, bao gồm Chương trình ASEAN - Canada AI Connect nhằm nâng cao năng lực, thúc đẩy quản trị AI có trách nhiệm và phát triển số bao trùm.

3. Lãnh đạo hai nước cũng hoan nghênh quan hệ đối tác ngày càng phát triển giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, đồng thời nhất trí hỗ trợ hợp tác nghiên cứu, lưu chuyển nhân tài và đối tác đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực chiến lược như STEM, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử và bán dẫn. Lãnh đạo hai nước cũng nhất trí hợp tác hỗ trợ phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo, ghi nhận sự hỗ trợ của Canada dành cho các hội thảo sắp tới về đổi mới sáng tạo xanh và khởi nghiệp bền vững.

Hợp tác về An ninh năng lượng, Môi trường và Tăng trưởng bền vững

1. Lãnh đạo hai nước khẳng định an ninh năng lượng là nền tảng quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp và thịnh vượng lâu dài. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo nguồn cung năng lượng ổn định, với chi phí hợp lý và bền vững, qua đó hỗ trợ khả năng chống chịu của nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy các nỗ lực chuyển dịch năng lượng. Lãnh đạo hai nước nhấn mạnh vai trò của Canada là đối tác năng lượng tin cậy có thế mạnh về các công nghệ năng lượng truyền thống, công nghệ năng lượng tái tạo và công nghệ năng lượng mới nổi; hoan nghênh cơ hội làm sâu sắc hợp tác song phương nhằm hỗ trợ mục tiêu an ninh năng lượng và phát triển bền vững của Việt Nam, đồng thời tạo thuận lợi cho các cơ hội tăng trưởng, đầu tư và xuất khẩu cho ngành năng lượng Canada.

2. Lãnh đạo hai nước hoan nghênh việc ký kết Bản Ghi nhớ về Hợp tác Năng lượng và Chuyển đổi Năng lượng Sạch giữa Việt Nam và Canada, nhất trí mở rộng hợp tác về năng lượng truyền thống và năng lượng sạch, bao gồm khí tự nhiên hoá lỏng (LNG), hydrogen, năng lượng tái tạo và các công nghệ hỗ trợ chuyển dịch năng lượng, quản lý carbon và tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế thông qua chia sẻ kinh nghiệm. Hai bên hoan nghênh đối thoại về tiềm năng hợp tác hạt nhân dân sự giữa các bên liên quan của Việt Nam và Canada. Hai bên cam kết nghiên cứu cơ hội hợp tác phát triển điện mặt trời và điện gió bao gồm chia sẻ chuyên môn về điện gió trên bờ và ngoài khơi.

3. Các nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết ứng phó với biến đổi khí hậu và nhất trí thúc đẩy hợp tác về bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Hai bên cũng hoan nghênh việc ký kết Bản Ghi nhớ về Tăng cường Hợp tác Môi trường giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam với Bộ Môi trường và Biến đổi Khí hậu Canada, trong đó tập trung vào các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm như thích ứng biến đổi khí hậu, phát thải khí methane, chống ô nhiễm bao gồm ô nhiễm nhựa, thiên nhiên và các vấn đề khác.

4. Lãnh đạo hai nước khẳng định cơ sở hạ tầng bền vững và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu có ý nghĩa then chốt đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thịnh vượng và năng lực cạnh tranh về dài hạn của mỗi nước. Theo đó, các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh dự án “Đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu tại Việt Nam” do Canada tài trợ, theo đó, các đô thị của Canada và các đối tác tại một số khu vực đô thị được lựa chọn của Việt Nam sẽ cùng trao đổi chuyên môn về cơ sở hạ tầng có khả năng chống biến đổi khí hậu và quản lý chất thải, đồng thời giới thiệu các công nghệ và giải pháp của Canada nhằm ứng phó với những thách thức chung liên quan đến khí hậu.

5. Các nhà lãnh đạo tiếp tục hoan nghênh Canada tiếp tục hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam trong khuôn khổ Quan hệ Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP), bao gồm thông qua các khoản tài chính ưu đãi do Ngân hàng Thế giới quản lý. Các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy triển khai Dự án Thúc đẩy Chuyển đổi nhanh Năng lượng Tái tạo tại Việt Nam (REACH), nhằm hỗ trợ lưới điện của Việt Nam tích hợp thêm nguồn điện gió và điện mặt trời. Ngoài ra, các khoản hỗ trợ phát triển và nguồn tài chính của FinDev Canada dành cho các sáng kiến phát thải carbon thấp được ghi nhận là những đóng góp có giá trị đối với các mục tiêu phát thải ròng bằng “0” và tăng trưởng bền vững.

Hợp tác về An ninh lương thực và Nông nghiệp - Thực phẩm

1. Các nhà lãnh đạo nhấn mạnh vai trò then chốt của hợp tác nông nghiệp và nông nghiệp - thực phẩm trong việc bảo đảm nguồn cung lương thực ổn định, thúc đẩy phát triển bền vững và khuyến khích đổi mới sáng tạo trong toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm. Các nhà Lãnh đạo ghi nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của quan hệ hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp - thực phẩm và thủy sản, với tổng kim ngạch thương mại các sản phẩm nông nghiệp - thực phẩm và thủy sản đạt gần 1,7 tỷ CAD trong năm 2025, qua đó cho thấy tính bổ trợ mạnh mẽ giữa các ngành nông nghiệp của hai nước. Các nhà Lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác về an ninh lương thực, nông nghiệp bền vững và đổi mới sáng tạo trong công nghệ nông nghiệp. Hai bên hoan nghênh việc thiết lập Đối thoại Nông nghiệp Việt Nam - Canada nhằm tăng cường hợp tác nông nghiệp.

2. Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc gia hạn Bản ghi nhớ về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS) giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam và Cơ quan Kiểm tra Thực phẩm Canada (CFIA) nhằm tăng cường hợp tác quản lý, an toàn thực phẩm, sức khỏe động thực vật, thương mại nông nghiệp và bền vững môi trường, tạo thuận lợi cho thương mại nông - lâm - thủy sản an toàn, dự báo được và hiệu quả.

3. Hai bên hoan nghênh các sáng kiến hợp tác kỹ thuật như Mạng lưới ASEAN - Canada về Tiêu chuẩn Nông nghiệp và An toàn Thực phẩm (CANSAFE) và các sáng kiến hợp tác khác về pháp quy.

Hợp tác về Quốc phòng, An ninh, Hàng hải, Thực thi pháp luật và Tư pháp

1. Nhận thức rằng môi trường an ninh ngày càng phức tạp và có tính kết nối cao đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các đối tác tin cậy, các nhà Lãnh đạo tái khẳng định cam kết tăng cường đối thoại quốc phòng, tiếp tục hợp tác thông qua Đối thoại Chính sách Quốc phòng thường niên và Kế hoạch ba năm về Hợp tác Quốc phòng, đồng thời nhất trí nghiên cứu các cơ hội hợp tác an ninh, bao gồm hợp tác trong các lĩnh vực hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa; nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển; và ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Các nhà lãnh đạo hoan nghênh Canada tham dự Triển lãm Quốc phòng Việt Nam; cũng như việc Canada tiếp tục cung cấp cơ hội đào tạo cho cán bộ quân đội Việt Nam thông qua Chương trình Hợp tác và Đào tạo Quân sự; đồng thời hoan nghênh việc Việt Nam thông báo sẽ thành lập Văn phòng Tùy viên Quốc phòng thường trú tại Canada.

2. Các nhà lãnh đạo cũng nhất trí nghiên cứu tiềm năng hợp tác trong các lĩnh vực như an ninh mạng, nâng cao nhận thức hàng hải, hợp tác giữa các quân chủng, tình báo, công nghiệp quốc phòng, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phù hợp với khả năng của mỗi nước; đồng thời duy trì tham vấn và hỗ trợ lẫn nhau trong hợp tác quốc phòng khu vực và đa phương nhằm thúc đẩy đối thoại, ngăn ngừa xung đột, tăng cường khả năng chống chịu có phối hợp và duy trì một môi trường an ninh quốc tế ổn định. Các nhà lãnh đạo ghi nhận mong muốn của Canada tham gia các cơ chế ADMM+ phù hợp trên cơ sở đồng thuận của ASEAN, bao gồm việc Canada có quy chế Quan sát viên tại các Nhóm Công tác Chuyên gia ADMM+ trong giai đoạn 2027–2029. Hai bên cũng tái khẳng định hợp tác nhằm tăng cường năng lực của Việt Nam trong việc đóng góp cho các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đồng thời nhất trí nghiên cứu khả năng tiếp tục hợp tác hỗ trợ Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam trở thành một trung tâm xuất sắc về huấn luyện gìn giữ hòa bình tại khu vực Đông Nam Á.

3. Các nhà lãnh đạo hoan nghênh những trao đổi ban đầu về hợp tác hải quan. Hai nước sẽ nghiên cứu các phương án nhằm tăng cường năng lực của các cơ quan hải quan trong ứng phó với những rủi ro chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp và mang tính xuyên quốc gia; phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý các vi phạm hải quan; đồng thời tạo thuận lợi cho thương mại hợp pháp. Những trao đổi này sẽ đặt nền tảng cho việc đàm phán một Hiệp định Tương trợ Hải quan trong thời gian tới, qua đó thiết lập khuôn khổ pháp lý và hoạt động cho sự hợp tác tin cậy giữa các cơ quan hải quan. Hiệp định sẽ là một công cụ quan trọng giúp các cơ quan hải quan ứng phó hiệu quả hơn với những rủi ro chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp và mang tính xuyên quốc gia, đồng thời tạo thuận lợi một cách hiệu quả cho thương mại hợp pháp.

4. Các nhà lãnh đạo nhấn mạnh rằng những thách thức an ninh do tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia gây ra, bao gồm gian lận quy mô lớn và các khu phức hợp lừa đảo, tội phạm mạng, các dòng tài chính bất hợp pháp và buôn bán ma túy, đặt ra những rủi ro đáng kể đối với an ninh kinh tế, an toàn công cộng và ổn định khu vực. Các nhà lãnh đạo hoan nghênh việc trao đổi hướng tới thiết lập cơ chế Đối thoại song phương về An ninh và Thực thi Pháp luật, qua đó hỗ trợ hợp tác trong đấu tranh chống các mối đe dọa này. Liên quan tới hợp tác trong lĩnh vực này, Canada đề nghị nghiên cứu khả năng hợp tác với Việt Nam trong xử lý các mối đe dọa mà hai bên cùng quan tâm, bao gồm đấu tranh chống bóc lột tình dục trẻ em trực tuyến, tội phạm mạng và gian lận được thực hiện với sự hỗ trợ của công nghệ mạng, rửa tiền và tài trợ khủng bố, cũng như buôn bán trái phép ma túy và tiền chất.

5. Các nhà lãnh đạo cũng tái khẳng định sự ủng hộ kiên định đối với việc giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực; đối với tự do hàng hải và hàng không, thương mại hợp pháp không bị cản trở ở Biển Đông; và đối với việc tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của mình, như được xác lập theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc ký Bản ghi nhớ về Hợp tác vận tải biển giữa Bộ Xây dựng Việt Nam và Bộ Giao thông Canada trong đó bao gồm các cam kết hợp tác và trao đổi thực tiễn tốt nhất liên quan đến việc duy trì và nâng cao an ninh vật lý và an ninh mạng trong toàn bộ lĩnh vực hàng hải.

6. Việt Nam và Canada ghi nhận tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác pháp lý song phương nhằm hỗ trợ quản trị hiệu quả, tăng cường hiểu biết lẫn nhau về các khuôn khổ pháp luật và quy định của nhau, đồng thời thúc đẩy các lợi ích chung. Các nhà lãnh đạo nhất trí làm sâu sắc hơn hợp tác trong các lĩnh vực pháp luật và tư pháp, đồng thời hoan nghênh việc tăng cường trao đổi giữa các quan chức Việt Nam và Canada, cũng như việc tiếp tục hợp tác trong khuôn khổ Dự án Phát triển Năng lực Tư pháp Việt Nam - Canada và những đóng góp của dự án này đối với việc nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động tư pháp. Các dự án này sẽ góp phần cải thiện môi trường thuận lợi cho thương mại, đầu tư và giải quyết tranh chấp thương mại; hỗ trợ việc điều chỉnh các cải cách pháp luật và quy định trong nước phù hợp với CPTPP và các cam kết quốc tế khác; đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận công lý.

Hợp tác về Giáo dục, Văn hóa và Giao lưu nhân dân

1. Các nhà lãnh đạo nhấn mạnh rằng tình hữu nghị bền chặt giữa Việt Nam và Canada bắt nguồn từ các mối liên kết nhân dân mạnh mẽ, với sự đóng góp của cộng đồng người Canada gốc Việt năng động, các hoạt động trao đổi học thuật ngày càng gia tăng, cùng các mối quan hệ thương mại, văn hóa và cộng đồng ngày càng phát triển. Hai bên nhất trí làm sâu sắc hơn hợp tác trong giáo dục đại học, phát triển kỹ năng, nghiên cứu và trao đổi học thuật, đặc biệt trong các lĩnh vực ưu tiên, bao gồm trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, khoa học đời sống và chế tạo tiên tiến.

2. Hai bên nhấn mạnh việc mở rộng hỗ trợ dành cho sinh viên, nhà giáo, học giả và nhà nghiên cứu của hai nước tham gia các chương trình giáo dục và đào tạo tại cả hai nước. Việt Nam cũng hoan nghênh việc ngày càng có đông sinh viên, học giả và giáo sư Canada sang học tập, nghiên cứu và giảng dạy tại các trường đại học Việt Nam; đồng thời hai nước khuyến khích các trường đại học thiết lập quan hệ đối tác với các cơ sở tương ứng của nhau.

3. Các nhà lãnh đạo hoan nghênh số lượng các hoạt động trao đổi ngày một tăng giữa sinh viên, nhà nghiên cứu, chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam và Canada. Các nhà lãnh đạo ghi nhận đóng góp của Chương trình Học bổng và Học bổng Nghiên cứu Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương dành cho người Canada (IPSFC) trong việc tăng cường hợp tác nghiên cứu giữa hai nước, đồng thời hoan nghênh việc Canada tiếp tục cung cấp các cơ hội học bổng và trao đổi giáo dục dành cho sinh viên và nhà nghiên cứu Việt Nam, bao gồm thông qua Chương trình Học bổng và Trao đổi Giáo dục vì Phát triển (SEED Giai đoạn II). Trong Giai đoạn I, Chương trình SEED đã trao hơn 200 suất học bổng cho sinh viên Việt Nam sang học tập và nghiên cứu tại Canada, trong khi hơn 40 học giả, nhà nghiên cứu và giảng viên Canada sẽ sang Việt Nam thông qua Chương trình IPSFC.

4. Các nhà Lãnh đạo cũng nhất trí tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp và cộng đồng hai nước trên cơ sở phát huy những đóng góp tích cực của các cộng đồng kiều dân, đồng thời hoan nghênh và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, du lịch và trao đổi kinh doanh giữa hai nước. Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc hoàn tất thành công đàm phán mở rộng Hiệp định Vận tải Hàng không Việt Nam - Canada, một bước tiến mang tính chuyển đổi, qua đó cho phép khai thác các chuyến bay chở khách trực tiếp và các chuyến bay chuyên chở thuần hàng hóa giữa hai nước, góp phần tăng cường giao lưu nhân dân và tạo ra những cơ hội mới cho thương mại và đầu tư. Các nhà Lãnh đạo cũng nhất trí khởi động trao đổi bước đầu về Hiệp định Bảo hiểm Xã hội Việt Nam - Canada; thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan Việt Nam và chính quyền địa phương Canada trong các lĩnh vực việc làm và phát triển nguồn nhân lực và hoan nghênh cơ hội đối thoại và trao đổi kinh nghiệm giữa Việt Nam và Canada về các vấn đề liên quan đến việc làm và phát triển nguồn nhân lực.

5. Các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh rằng đầu tư vào nguồn nhân lực có ý nghĩa then chốt đối với thịnh vượng, an ninh và phát triển, đồng thời hoan nghênh việc tiếp tục hợp tác phát triển. Cụ thể, các nhà Lãnh đạo nhất trí thúc đẩy triển khai Dự án Quản trị Địa phương Bao trùm (ILG) giúp kết nối các cơ sở giáo dục sau trung học của Canada với Học viện Hành chính và Quản trị công Việt Nam (APAG) nhằm hiện đại hóa chương trình đào tạo công chức của Việt Nam và tăng cường quản trị bao trùm. Các nhà lãnh đạo cũng hoan nghênh Dự án Tăng cường Sự tham gia Chính trị cho Phụ nữ, thông qua các quan hệ đối tác nhằm trang bị cho phụ nữ Việt Nam những kỹ năng và kiến thức cần thiết để tham gia hiệu quả vào các quá trình lập pháp và hoạch định chính sách trong các lĩnh vực ưu tiên. Việt Nam hoan nghênh đề nghị của Canada tiếp tục cung cấp chuyên môn kỹ thuật trong các lĩnh vực ưu tiên chung, như năng lượng và an toàn thực phẩm, trong đó chú trọng tăng cường giao lưu nhân dân, xây dựng và hoàn thiện các quy định, cũng như chuyển giao các thực tiễn tốt nhất.

6. Các nhà Lãnh đạo nhất trí nghiên cứu các cơ hội tăng cường hợp tác giữa các cơ quan quản lý du lịch và các bên liên quan trong ngành nhằm quảng bá Việt Nam và Canada như những điểm đến du lịch hấp dẫn. Các nhà Lãnh đạo cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy giao lưu văn hóa, du lịch và các hoạt động góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam và Canada, đồng thời mong muốn sớm ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực văn hoá.

Triển khai và Các bước tiếp theo

Bộ trưởng Ngoại giao hai nước phối hợp với các cơ quan liên quan để xây dựng Kế hoạch hành động triển khai các mục tiêu của quan hệ Đối tác chiến lược./.

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc










Address

Tổ Dân Phố Neo, Phường Yên Dũng, Thành Phố Bắc Ninh

Opening Hours

Monday 07:30 - 17:00
Tuesday 07:30 - 17:00
Wednesday 07:30 - 17:00
Thursday 07:30 - 17:00
Friday 07:30 - 17:00

Telephone

+84969721411

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công an Phường Yên Dũng, Thành phố Bắc Ninh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

  • Want your organization to be the top-listed government service?

Share