Xã Trường Thọ, huyện An Lão

Xã Trường Thọ, huyện An Lão Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Xã Trường Thọ, huyện An Lão, Political organisation, Thôn Ngọc Chử 2, xã Trường Thọ, huyện An Lão, Tp. Hải Phòng.

28/11/2024

Thưa toàn thể nhân dân
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, của cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp và nhân dân về ý nghĩa, mục tiêu, tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, văn hóa công vụ, quy tắc ứng xử của công chức; thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo hướng văn minh, hiện đại. Tăng cường sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và tổ chức xã hội trong việc thực hiện cải cách hành chính; khuyến khích người dân, tổ chức và doanh nghiệp tích cực sử dụng các dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ bưu chính công ích và giám sát các hoạt động thực thi công vụ, kết quả thực hiện của địa phương. UBND Trường Thọ triển khai các nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2024 gồm:
1. Cải cách thể chế
a. Nâng cao chất lượng kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL, đặc biệt tập trung vào việc rà soát các văn bản do HĐND, UBND huyện, của Trung ương.
b. Xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2024.
c. Thực hiện đồng bộ các hoạt động theo dõi thi hành pháp luật; tăng cường theo dõi, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước trong công tác tổ chức và thi hành pháp luật.
2. Cải cách thủ tục hành chính
a. Tập trung đẩy mạnh rà soát, đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ TTHC, quy định không cần thiết làm phát sinh chi phí, nhất là của người dân, doanh nghiệp tại các văn bản QPPL, đặc biệt là pháp luật chuyên ngành.
b. Tập trung giải quyết các TTHC, bảo đảm duy trì tỷ lệ giải quyết đúng hạn; thực hiện rà soát, đưa 100% hồ sơ TTHC đủ điều kiện được giải quyết trực tuyến toàn trình, trực tuyến một phần.
c. Triển khai số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC phát sinh mới có hiệu quả, bảo đảm 100% kết quả giải quyết TTHC được cung cấp đồng thời cả bản điện tử.
d. 100% hồ sơ TTHC được tiếp nhận, giải quyết, theo dõi trạng thái xử lý trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC thành phố Hải Phòng và được đồng bộ với Cổng Dịch vụ công quốc gia để người dân, doanh nghiệp có thể giám sát, đánh giá quá trình thực hiện.
đ. Tiếp tục triển khai Hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC của Văn phòng Chính phủ.
e. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong giải quyết TTHC bảo đảm chặt chẽ, kịp thời, hiệu quả, nhất là các nhóm TTHC, dịch vụ công liên thông. Thực hiện hiệu quả công tác tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị; tổ chức đối thoại với người dân, cộng đồng doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khó khăn theo thẩm quyền.
g. Tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính năm 2024.
3. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
a. Hoàn thành việc xây dựng và phê duyệt Đề án vị trí việc làm cán bộ, công chức cấp xã.
b. Khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, người dân đối với việc giải quyết TTHC của cơ quan nhà nước; khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của người dân về cung cấp dịch vụ công.
4. Cải cách chế độ công vụ
a. Xây dựng và tổ chức thực hiện Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức năm 2024.
b. Tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức do tỉnh, huyện tổ chức.
c. Thực hiện nghiêm túc việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức theo các quy định của pháp luật; chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
5. Cải cách tài chính công
a. Thực hiện các quy định về đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách gắn với nhiệm vụ được giao
b. Xây dựng định mức chi thường xuyên phù hợp với điều kiện, tình hình của địa phương; lập dự toán kinh phí, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước, các văn bản hướng dẫn thi hành và quy chế chi tiêu nội bộ.
6. Xây dựng và phát triển Chính quyền điện tử, chính quyền số
a. Tiếp tục thực hiện kế hoạch phát triển chính quyền điện tử, Chính quyền số.
b. Chuẩn hóa, điện tử hóa quy trình nghiệp vụ xử lý hồ sơ trên môi trường mạng; số hóa hồ sơ, lưu trữ hồ sơ công việc điện tử (thực hiện trên cơ sở dữ liệu quốc gia về giải quyết TTHC).
c. Tiếp tục thực hiện số hóa và tạo lập cơ sở dữ liệu điện tử hộ tịch trên địa bàn.
d. Duy trì và thực hiện tốt chế độ báo cáo trên Hệ thống thông tin báo cáo của tỉnh.
đ. Tiếp tục triển khai áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015.
7. Công tác chỉ đạo, điều hành, tuyên truyền về cải cách hành chính
a. Triển khai đầy đủ, kịp thời chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ và UBND tỉnh về công tác cải cách hành chính tại các thông báo, kết luận, công điện, chỉ thị…
b. Xây dựng Kế hoạch cải cách hành chính; phân công, giao trách nhiệm cụ thể cho từng tập thể, cá nhân. Xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu trong chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính.
c. Tổ chức đánh giá, chấm điểm xác định Chỉ số cải cách hành chính đảm bảo thực chất, khách quan, đánh giá đúng kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
d. Đổi mới, đa dạng hóa nội dung, hình thức tuyên truyền về cải cách hành chính, trong đó tập trung đến công khai, minh bạch, giảm thời gian trong giải quyết TTHC, dịch vụ công trực tuyến, tiếp nhận và trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích; hướng dẫn, khuyến khích người dân, doanh nghiệp chủ động tham gia thực hiện và sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
đ. Ban hành Kế hoạch kiểm tra cải cách hành chính, kiểm tra kỷ luật, kỷ cương hành chính năm 2024.

28/11/2024

BÀI TUYÊN TRUYỀN
MỘT SỐ NHIỆM VỤ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NĂM 2024
XÃ BÁT TRANG
Với mục tiêu cải thiện chỉ số cải cách hành chính của xã, trong năm 2024, UBND xã Bát Trang đã ban hành các giải pháp thực hiện công tác cải cách hành chính trên 7 nội dung cải cách hành chính, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính.
Đề cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu của cơ quan và các ban ngành chuyên môn trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao tại kế hoạch cải cách hành chính năm 2024 và gắn với thực hiện kế hoạch của địa phương. Tăng cường, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh thực hiện công tác cải cách hành chính tại UBND xã. Đồng thời thực hiện các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng cải cách hành chính của xã. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về công tác cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính trên đài truyền thanh xã, lồng ghép tuyên truyền cải cách hành chính với phổ biến, tuyên truyền, giáo dục các chủ trưởng của Đảng, pháp luật của nhà nước trên địa bàn xã.
Tăng cường theo dõi, đánh giá, lấy ý kiến của công dân, tổ chức khi đến giao dịch giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của xã; Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị định 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018, Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06/12/2021 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 61/2018/NĐ-CP �Về thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Thực hiện đồng bộ và có hiệu quả phần mềm một cửa điện tử tại bộ phận tiếp nhận trả kết quả xã. Thực hiện cung cấp thông tin về tiếp nhận phản ánh, kiến nghị trong giải quyết thủ tục hành chính theo quy định như: Công khai địa chỉ, hộp thư, số điện thoại, mail cơ quan, đơn vị tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của công dân, tổ chức, doanh nghiệp liên quan đến thủ tục hành chính.
Thứ hai, về cải cách thể chế, UBND xã đề ra giải pháp: Nâng cao chất lượng công tác tham mưu xây dựng quy trình ban hành văn bản QPPL thuộc thẩm quyền của huyện trên tất cả các lĩnh vực; khắc phục tính thụ động trong việc chuẩn bị, soạn thảo, thẩm định văn bản; đề cao trách nhiệm của từng cán bộ, công chức trong quá trình xây dựng và phát hành văn bản, phát huy tính dân chủ, nâng cao chất lượng văn bản. Tăng cường công tác tự kiểm tra, rà soát việc ban hành văn bản QPPL tại đơn vị UBND xã, để đảm bảo về nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục và tiến độ thực hiện.
Thứ ba, về cải cách thủ tục hành chính, UBND xã xác định các nhiệm vụ cụ thể, đó là: Tiếp tục triển khai thực hiện mô hình bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại cấp xã. Kiện toàn nhận sự làm việc tại bộ phận một cửa đúng theo quy định tại Nghị định 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ. Tiếp tục thực hiện kiểm soát TTHC theo quy định tại Nghị định 92/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến Kiểm soát TTHC; Thông tư số 02/2017/TT-VPCP ngày 31/10/2017 của Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hướng dẫn nghiệp vụ kiểm soát TTHC; Triển khai thực hiện các TTHC đã được UBND tỉnh công bố, hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc công khai thủ tục hành chính và bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, đảm bảo 100% TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND xã được cập nhật, niêm yết công khai kịp thời, đầy đủ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND xã. Đồng thời tổ chức tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về thủ tục hành chính theo quy định tại Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/02/2008 của Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính. Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Quyết định số 31/2021/QĐ-TTg ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng Dịch vụ công quốc gia; Tiếp tục thực hiện rà soát, đánh giá thủ tục hành chính, kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền các giải pháp, sáng kiến, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đẩy mạnh thực hiện công tác tuyên truyền về hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính, ứng dụng CNTT trong giải quyết thủ tục hành chính. Tăng cường các giải pháp khuyến khích người dân, doanh nghiệp nộp hồ sơ qua dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3, mức độ 4 đối với một số thủ tục hành chính thuộc phạm vi giải quyết.
Thứ tư, về cải cách tổ chức bộ máy. Tiếp tục rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 03/02/2018 của Chính phủ và Kế hoạch số 26-KH/TU ngày 25/10/2018 của Ban chấp hành TW đảng Khóa XII �Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức của Thủ tướng Chính phủ; Tiếp tục thực hiện Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế và Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP. Đổi mới phương thức làm việc của cán bộ, công chức cấp xã; đồng thời tổ chức thực hiện thống nhất và nâng cao chất lượng cơ chế �một cửa� cấp xã đi vào hoạt động nề nếp để tổ chức và công dân khi đến giao dịch tại cơ quan hành chính nhà nước được dễ dàng hơn.
Thứ năm, về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, hợp đồng cấp xã, nhất là sau đại học; tập trung bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức cấp xã để từng bước nâng cao trình độ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương. Tăng cường công tác tự kiểm tra định kỳ và đột xuất nhằm chấn chỉnh một cách mạnh mẽ về kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính nhà nước và chấn chỉnh việc thực hiện chức trách nhiệm vụ, đạo đức công vụ, tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức.
Thứ sáu, về cải cách tài chính công. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của luật quản lý, sử dụng tài sản công; Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg ngày 31/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ, quy định tiêu chuẩn, định mức sư dụng máy móc, thiết bị;
Thông tư số 45/2018/TT-BTC ngày 07/05/2018 của Bộ Tài chính, về hướng dẫn chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và tài sản cố định do nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Nghị định số 63/2019/NĐ-CP ngày 11/07/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước; Nâng cao hiệu quả, chống lãng phí trong sử dụng ngân sách, nhất là lĩnh vực đầu tư công, quản lý tài sản công. Tăng cường chỉ đạo triển khai đầy đủ các quy định về công khai tài sản, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong công tác thu, chi ngân sách hàng năm.
Thứ bảy, về hiện đại hóa hành chính. Triển khai thực hiện Chương trình hành động của UBND thành phố tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trọng tâm là sử dụng hiệu quả các phần mềm: Quản lý văn bản và điều hành, thư điện tử công vụ, phần mềm một cửa điện tử, chữ ký số, phần mềm quản lý ý kiến chỉ đạo của UBND huyện, xã và trong giải quyết thủ tục hành chính. Duy trì 100% văn bản đi/đến được xử lý trên phần mềm quản lý văn bản điều hành; sử dụng trao đổi văn bản trên môi trường mạng bằng văn bản điện tử có sử dụng chữ ký số. Triển khai thực hiện dịch vụ hành chính công mức độ 3, mức độ 4 đối với một số thủ tục phù hợp với điều kiện dân trí ở địa phương. Tuyên truyền, hướng dẫn và có biện pháp khuyến khích người dân, doanh nghiệp thực hiện. Phấn đấu 100% cán bộ, công chức UBND xã được trang bị máy tính để phục vụ công việc; 100% cán bộ, công chức sử dụng hộp thư điện tử công vụ để trao đổi thông tin. Xây dựng, cải tạo, nâng cấp về cơ sở vật chất, trang bị các phương tiện làm việc cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND xã.
Tiếp tục áp dụng, duy trì, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO TCVN 9001-2015.
Để triển khai thực hiện tốt các giải pháp trên, UBND xã gắn công tác cải cách hành chính với triển khai các nhiệm vụ trong kế hoạch, có sự chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp giữa các ban, ngành chuyên môn để thực hiện toàn diện, có chất lượng, hiệu quả và đồng bộ các nhiệm vụ trong kế hoạch cải cách hành chính năm 2024.
Yêu cầu các ban ngành chuyên môn của UBND xã chủ động, nghiên cứu, sáng tạo quyết liệt áp dụng những giải pháp đổi mới để cải cách hành chính là khâu đột phá trong công tác quản lý, điều hành. Đồng thời, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, theo dõi việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm trong cải cách hành chính đảm bảo đạt kết quả tốt; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính. Lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính là cơ sở để đánh giá, xếp loại cán bộ công chức và mức độ hoàn thành nhiệm vụ.

28/11/2024

XÃ TRƯỜNG THỌ VỚI QUYẾT TÂM ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN THANH TOÁN TRỰC TUYẾN KHI GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Dịch vụ công trực tuyến toàn trình: là dịch vụ bảo đảm cung cấp toàn bộ thông tin về thủ tục hành chính, việc thực hiện và giải quyết thủ tục hành chính đều được thực hiện trên môi trường mạng. Việc trả kết quả được thực hiện trực tuyến hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích.
Theo khoản 1 Điều 11 Nghị định 42/2022/NĐ-CP, từ ngày 15/8/2022, cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công trực tuyến theo 02 mức độ như sau:
- Dịch vụ công trực tuyến toàn trình: là dịch vụ bảo đảm cung cấp toàn bộ thông tin về thủ tục hành chính, việc thực hiện và giải quyết thủ tục hành chính đều được thực hiện trên môi trường mạng. Việc trả kết quả được thực hiện trực tuyến hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích.
- Dịch vụ công trực tuyến một phần: là dịch vụ công trực tuyến không bảo đảm các điều kiện của dịch vụ công trực tuyến toàn trình.
Cơ quan nhà nước ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số tối đa trong quá trình cung cấp và xử lý dịch vụ công trực tuyến trên môi trường mạng trừ trường hợp tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ phải hiện diện tại cơ quan nhà nước hoặc cơ quan nhà nước phải đi thẩm tra, xác minh tại hiện trường theo quy định của pháp luật.
Trước đây, dịch vụ công trực tuyến bao gồm 04 mức độ:
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ bảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin về thủ tục hành chính và các văn bản có liên quan quy định về thủ tục hành chính đó.
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu. Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng.(Khoản 4 Điều 3 Nghị định 43/2011/NĐ-CP).
Hiện nay trên địa bàn xã Trường Thọ đã và đang thực hiện dịch vụ công trực tuyến một phần và dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Để thực hiện đẩy mạnh thanh toán trực tuyến khi giải quyết thủ tục hành chính theo các chỉ tiêu tại Quyết định số 776/QĐ-TTg ngày 23/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ
Để nâng cao tỷ lệ thủ tục hành chính có giao dịch thanh toán trực tuyến UBND xã Trường Thọ đã trang bị máy tính làm việc có kết nối Internet, máy scan, hệ thống camera giám sát, quét mã vạch, tài khoản thanh toán….. . Đến nay tổng số thủ tục hành chính cấp xã có 144 quy trình, trong đó có 02 quy trình liên thông được niêm yết công khai tại bộ phận một cửa, cổng thông tin điện tử xã. Tính đến ngày 15/11/2024,tổng số hồ sơ tiếp nhận trong kỳ là: 1697(Trực tuyến là: 1094/1697 đạt 64%, số hóa hồ sơ 1687/1875 đạt tỷ lệ: 89,9%. 95 % các hồ sơ giải quyết và trả trước hạn, đúng hạn, không gây phiên hà cho cá nhân tổ chức đến giao dịch). 100% hồ sơ khai sinh và hồ sơ khai tử làm trên cổng dịch vụ công quốc gia. Năm 2024, 100% các hồ sơ TTHC gửi đến UBND xã được tiếp nhận và giải quyết đúng hạn, không có hồ sơ tồn đọng, hồ sơ TTHC giải quyết bị quá hạn phải xin lỗi người dân, tổ chức. 110% TTHC thanh toán phí, lệ phí trực tuyến được hồ sơ đạt tỷ lệ. Để nâng cao tỷ lệ thủ tục hành chính có yêu cầu nghĩa vụ tài chính được tích hợp để người dân có thể thanh toán trực tuyến. UBND xã Trường Thọ đề nghị nhân dân trên địa bàn tăng cường hơn nữa việc đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến.

DI TÍCH TỪ ĐƯỜNG HỌ PHẠM - THÔN XUÂN ĐÀI XÃ TRƯỜNG THỌ, HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 15 01 2024Từ Đường Tổ họ Phạm ...
22/08/2024

DI TÍCH TỪ ĐƯỜNG HỌ PHẠM - THÔN XUÂN ĐÀI XÃ TRƯỜNG THỌ, HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

15 01 2024
Từ Đường Tổ họ Phạm thôn Xuân Đài thuộc xã Trường Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, là di tích lịch sử kháng chiến, được xây dựng từ thời Nguyễn – thế kỷ 19, đời vua Tự Đức năm thứ 33 (1880). Từ đường có bố cục mặt bằng kiểu chữ nhị. Mặt chính của Từ Đường quay hướng Tây Nam (cùng hướng với ngôi đình làng). Toàn bộ khuôn viên của Từ Đường đều nằm gọn trong diện tích 4 sào vườn ao của họ tộc để lại, cụ thể bằng 1440m2. Khu vực kiến trúc được chia làm 2 phần chính, đồng thời có 2 niên đại khác nhau.

Nơi thờ chính có diện tích 35m2 gồm vì cột bằng gỗ lim, 2 hồi tường xây nền nhà được lát bởi các viên gạch cổ bản rộng. Các bộ phận tạo thành bộ khung gỗ được gia công cẩn thận theo lối “bào trơn, đóng bén”. Hai vì bên kết cấu vì nóc theo lối “chồng giường - đốc thước” có lẽ đã được tu sửa lại nên không đồng nhất với 2 vì giữa. Từ Đường 3 gian nơi thờ chính được xây dựng năm Canh Thìn 1880 (Tự Đức thứ 33).

Bài trí thờ phụng tại toà hậu đường: Chính giữa, ở vị trí cao nhất là ban thờ thuỷ tổ Phạm Phúc Đa; Giữa thờ tổ Phạm Phúc Bình (trưởng ngành); Bên trái thờ Phạm Phúc Lộc (ngành thứ); Bên phải thờ Phạm Phúc Nghiêm (ngành 3).

Nhà bái đường (Tiến tế) có kết cấu theo lối “chéo đao - tầu góc” như hình ảnh toà đại đình thu nhỏ. Kết cấu vì nó mái 3 gian giữa kiểu “giá chiêng”. Hai vì bên kết cấu cột trốn - kẻ góc tạo thành chái bờ cấu mái đao cong, lượn bay bổng ở các góc mái lợp ngói ta 2 lớp, bờ nóc trang trí lưỡng long chầu nguyệt - nghê chầu.

Nhà bái đường có niên đại khởi dựng năm Canh Thìn 1880, đời Tự Đức thứ 33.

Năm Bảo Đại 18, tôn tạo Từ Đường, mở rộng khuôn viên nhà tiền tế. Phần kiến trúv nhà tiền tế được đứng vững trên 4 hàng cột lim, lắp 5 bộ cửa bức bàn.

Hiện nay, Từ đường lưu trữ nhiều hiện vật lịch sử quý giá.

Bia Tiên tổ bi ký: Kích thước 0,95m x 0,45m nội dung ghi lại ngày kỵ nhật, nơi yên nghỉ của các bậc tiền nhân, niên hiệu Kiến Phúc 1883.
Phạm tộc bia ký: Kích thước 0,66m x 0,32m, khắc năm Tự Đức thứ 23 (tức 1870).
Bia: Hậu phối bia ký (mặt chính), mặt sau từ đứng bia ký.
Các di vật khác: 1 câu đối phẳng niên đại Nguyễn - Bảo Đại năm thứ 10 (1936); 1 án đọc chúc văn đặt trên lưng đôi nghê chầu, sơn thếp bạc; 1 án đai quả, kiểu tam sơn, trang trí hoa chuyện, chạm lộng và thuỷ phần thân niên đại nghệ thuật Nguyễn cuối thế kỷ 19.
Từ Đường họ Phạm thôn Xuân Đài là một công trình kiến trúc truyền thống do chính con cháu lập nên để bày tỏ lòng biết ơn tổ tiên của lớp hậu duệ. Ngày Chạp tổ 12 tháng Giêng hàng năm, họ tộc tập trung về dâng hương tế lễ tiên tổ, khuyên bảo nhau tô đẹp thêm truyền thống dòng họ, đoàn kết thân ái trong cả nội tộc và cả cộng đồng làng xóm.

Đầu những năm Hải Phòng cùng cả nước kháng chiến, Từ Đường Tổ họ Phạm thôn Xuân Đàilà địa điểm an toàn cho cán bộ ẩn nấp, hội họp qua hầm bí mật giấu cán bộ tại vườn Tổ phía sau toà hậu đường, hầm bí mật tại hậu cung của Từ Đường. Nhiều thành viên trong dòng họ Phạm được giác ngộ cách mạng, đảm đương nhiều trọng trách quan trọng trong chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương.Trong gia đoạn kháng chiến chống Pháp, Từ Đường Tổ họ Phạm thôn Xuân Đài là nơi sinh hoạt, học tập của các đoàn thể địa phương, nơi tổ chức các lớp bình dân học vụ …

Với những giá trị lịch sử văn hoá lâu đời, Từ Đường Tổ họ Phạm thôn Xuân Đài, xã Trường Thọ được UBND thành phố Hải Phòng công nhận Di tích lịch sử kháng chiến năm 2003.

DI TÍCH ĐÌNH LÀNG NGỌC CHỬ XÃ TRƯỜNG THỌ, HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 02 02 2024Đình Ngọc Chử thuộc xã Trường Thọ,...
22/08/2024

DI TÍCH ĐÌNH LÀNG NGỌC CHỬ XÃ TRƯỜNG THỌ, HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

02 02 2024
Đình Ngọc Chử thuộc xã Trường Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng Đình được UBND thành phố công nhận Di tích lịch sử cấp thành phố từ năm 2019.

Căn cứ niên đại ghi trên 2 tấm bia đá được bảo tồn trong khuôn viên khu di tích, đình Ngọc Chử được khởi dựng từ đầu thế kỷ 19. Đình xưa quay hướng Nam, theo bố cục chữ “Đinh” truyền thống, gồm 5 gian tiền tế và 3 gian hậu cung. Đình dựng hoàn toàn bằng gỗ lim. Năm 1948, đình bị Pháp đốt cháy chỉ còn trơ bộ khung và một phần mái. Sau đó, đình tiếp tục bị tiêu thổ kháng chiến. Đồ thờ tế khí cổ phần lớn bị thất lạc, chỉ còn 2 tấm bia đá niên đại thế kỷ 19 và một số sắc phong triều Nguyễn. Năm 2018, đình Ngọc Chử được chính quyền và nhân dân địa phương phục dựng lại khang trang trên nền cũ. Khuôn viên đình mở rộng lên 3000 m2, trồng nhiều cây lâu năm như đa, gạo… tạo cảnh quan xanh mát. Đình chính có bố cục hình chữ “Công” gồm: 5 gian đại đình, 3 gian ống muống và 3 gian hậu cung. Kiến trúc mái đình lợp ngói mũi, chính giữa bờ nóc đắp cuốn thư, trên cuốn thư đắp nổi 3 chữ Hán tên di tích; hai đầu bờ nóc đắp đôi kìm ngậm bờ nóc. Chính giữa tòa ống muống và tòa hậu cung đặt khám thờ 3 vị Thành hoàng: Bùi Tướng Công Thần Tiên Bùi Mộng Hoa, Phù Sơn Đô Thiên Thượng tướng và Nội Phủ Giám Đô Thái kiêm Thượng tân Viện sự. Ngoài ra có khám thờ Phụ, thờ Mẫu.

Trải qua thời gian, thiên tai, chiến tranh, ngôi đình cổ xưa chỉ còn trong ký ức của dân làng. Ngày nay, nhiều đồ thờ tự tế khí đã bị thất lạc, huỷ hoại, chỉ còn lại 2 tấm bia đá niên đại đầu thế kỷ 19, một số sắc phong và 1 bức ảnh chụp ngôi đình đã bị Pháp đốt năm 1948 được bảo tồn khá nguyên vẹn đến ngày nay.

Hiện còn một số sắc phong sao lại từ Viện thông tin khoa học xã hội Hà Nội.

- Sắc Thành Thái 13 (1901)

- Sắc Duy Tâm 3 (1909)

- Dây Tân 8 (1915)

- Sắc Khải Định 9 (1924) (3 bản)

- Sắc Khải Định 2 (1917)

- Sắc Tự Đức 6 (1853)

- Tự Đức 33 (1880)

- Đồng Khánh 2 (1887)

- Bia Gia Long 6 (1807); Tiêu đề ghi “Hậu thần bi ký”; Bia có kích thước: cao 0,87m, rộng 1,5m, dầy 0,18

Bia dẹt, một mặt chữ, trán bia hình bán nguyệt; trên trán bia chạm khắc hoa văn lưỡng long chầu nguyệt; mặt bia chạm giật 2 cấp;

Nội dung ghi danh những người có công với làng xã được bầu hậu và thờ phối hưởng tại đình làng.

- Bia Minh Mệnh 8 (1827); Tiêu đề ghi “Hậu thần bi ký”; Nội dung bia, hình thức hoa văn trang trí tương tự bia thứ nhất.

- Ngoài ra còn một số hiện vật khác như: tượng thờ, long ngai, bài vị, hoành phi, đại tự, câu dối, cửa võng, nhang án, bát biểu, chấp kích … do nhân dân mới cung tiến.

Tại di tích đình Ngọc Chử, hằng năm, Ban quản lý di tích và nhân dân địa phương tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc. Trong đó, lễ hội chính được tổ chức vào ngày 11 và 12 tháng Giêng, là dịp để nhân dân trong làng tưởng nhớ công ơn của các vị Thành hoàng, các anh hùng liệt sĩ và cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Ngoài phần lễ, phần hội được tổ chức với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: hát chèo, tổ tôm điếm, đấu vật, cờ người, cờ tướng, hát đúm… thu hút đông đảo du khách thập phương tham gia.

DI TÍCH LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN ĐÌNH XUÂN ĐÀI - XÃ TRƯỜNG THỌ - HUYỆN AN LÃO 18 01 2023Đình làng Xuân Đài, xã Trường Thọ, hu...
22/08/2024

DI TÍCH LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN ĐÌNH XUÂN ĐÀI - XÃ TRƯỜNG THỌ - HUYỆN AN LÃO

18 01 2023
Đình làng Xuân Đài, xã Trường Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng là một công trình kiến trúc cổ, có quy mô bề thế, mặt bằng sử dụng rộng rãi, bao gồm nhiều tòa ngang, dãy học khác nhau: Như đình trong nơi thờ các vị thành hoàng và 4 vị á thần đứng đầu 4 dòng họ có công đầu khai lập mảnh đất Xuân Đài.

Đình làng Xuân Đài thuộc địa bàn xã Trường Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Theo quy luật phổ biến về cách gọi tên công trình công cộng của người Việt, công trình di tích được gọi theo chính nơi làng xã địa phương có ngôi đình tọa lạc.

Làng Xuân Đài có thể hình thành vào khoảng thời gian vào giai đoạn lịch sử nửa đầu thể kỷ XIV sang giữa thế kỷ XVII, tức là lúc Vương triều nhà Lê có sự rối ren nhà Mạc lên nắm giữ binh quyền lúc đầu, làng chỉ có 4 dòng họ chính là họ Phạ, họ Trần, họ Bùi, họ Phạm Trung, dân số ban đầu chỉ vẻn von từ 40 – 60 người. vào năm Tân Dậu 1681 tổ Phạm Phúc Đa xuống đất Xuân Đài lập nghiệp cùng với các cụ: Trần Phúc Long - thủy tổ họ Tần, Bùi Đức Lương – thủy tổ họ Bùi và Phạm Đức Trung – thủy tổ họ Phạm Đồng Xuân ngày nay. Cả 4 cụ đều hợp sức cùng nhau khai phá, mở mang đất đai hoang vu, trở thành làng Xuân Đài như hiện nay. .

I. Khảo tả di tích

Đình Xuân Đài tọa lạc trên một khu đất cao ráo, bằng phẳng nằm ở phái Tây Nam của làng, khuôn viên hiện nay có diện tích là 1.944m2. Mặt chính của đình quay hướng Tây Nam nơi có con sông Đa Độ cùng con đường nhà Mạc chạy ngang qua địa hình xã Trường Thọ.

Ngôi đình được xây dựng thành một khu vực riêng biệt, nhưng không hề cách xa làng xóm, cách đây hơn nửa thế kỷ đình bao gồm 4 hạng mục kiến trúc chính, chỉ khác nhau về tên gọi theo chức năng sử dụng, nhưng thống nhất tạo nên bề thế của đình Xuân Đài hiện nay.

Hậu cung (được dân làng vẫn gọi là Miếu thờ) có bố cục mặt bằng hình chữ nhật. Kết cấu vì nóc gồm 3 vì gỗ, kiểu giá chiêng và giẻ quạt, do đã được nhiều lần tu sửa lại, lần gần nhất là vào năm 1992.

Chính diện kiến trúc là ban thờ, ở vị trí cao nhất, đặt bài vị, ngai án của các vị thành hoàng. Phía dưới là khám chứa bài vị, bằng gỗ sơn son thếp bạc, trông giống một khám nhỏ có cánh cửa chạm lèo trang trí nơi diềm nóc và cửa khám. 4 vị á thần nguyên là thủy tổ của 4 dòng họ đầu tiên có công khai lập mảnh đất Xuân Đài ngày nay.

Ngôi đình ngoài có diện tích 300m2 (địa phương vẫn gọi là đình chèo hát), có kết cấu vì nóc kiểu kẻ chồng đấu sen. Trên các bộ phận của kết cấu kiến trúc như: Kẻ nách, bảy hiên, đấu chồng … còn nhiều mảng chạm khắc gỗ giữ vai trò trang trí nghệ thuật phần bộ khung gỗ qua các mảng đề tài quen thuộc như: Tứ Linh, Tứ quý … các linh vật biểu trưng của lối tư duy của người nông dân nông nghiệp cầu mong một cuộc sống thanh bình, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu được thể hiện rõ qua các mảng chạm nổi, b**g kênh hình các nội dung: long cuốn thủy, rùa đội lá sen, mây cụm, mây bông, lá guột hóa long …



II. Các hiện vật trong di tích

Hiện tại trong khuon viên kiến trúc của ngôi đình Xuân Đài còn lưu giữ nguyên vẹn 2 cỗ long đình, sơn thếp, chạm khắc tỉ mỉ hình rồng, phượng, hoa lá, đặc trưng nghệ thuật Nguyễn, được dân làng dùng trong lễ rước tế thành hoàng.

Một bộ long đình bát biểu gồm 20 chiếc đặt trên giá gỗ.

Một số mâm bồng, ống hương 3 bát hương thờ chất liệu gốm thổ Hà, thế kỷ XIX.

Bia đá: Gồm 7 bia đá, niên hiệu Nguyễn, chủ yếu từ đời Nguyễn Tự Đức, là niên hiệu khởi dựng ngôi đình Xuân Đài đến thời Bảo Đại thứ 19 nội dung cụ thể như sau:

+ Tu tạo bia ký niên hiệu Tự Đức năm thứ 8 (1856) kích thước 1,6 x 0,65m

+ Tu tạo bia ký niên hiệu Tự Đức năm thứ 22 (1870)

+ Bia Hậu Thần: niên hiệu Tự Đức năm thứ 34 (1882) kích thước 1,2 x 1,64m

+ Hậu Thần bia ký: niên hiệu Thành Thái năm thứ 2 (1887) và Thành Thái năm thứ 5 (1890). Kích thước 1,3 x 0,65m

+ Bảo Đại năm thứ 19 (1945). Kích thước: 1,2 x 0,60m

Toàn bộ số văn bia này còn nguyên vẹn, chữ khắc, hoa văn trang trí rõ ràng đã được sao dập tại hồ sơ tư liệu Hán – Nôm kèm theo hồ sơ này.

III. Giá trị lịch sử - văn hóa của di tích

Đình làng Xuân Đài là thuộc loại hình di tích lịch sử kháng chiến.

Đình làng Xuân Đài, xã Trường Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng là một công trình kiến trúc cổ, có quy mô bề thế, mặt bằng sử dụng rộng rãi, bao gồm nhiều tòa ngang, dãy học khác nhau: Như đình trong nơi thờ các vị thành hoàng và 4 vị á thần đứng đầu 4 dòng họ có công đầu khai lập mảnh đất Xuân Đài.

Đình là nơi duy trì, bảo lưu những truyền thống ứng xử văn hóa tốt đẹp của làng địa phương trong việc tôn vinh các bậc tiên tổ có công xây dựng làng xã, nơi sinh hoạt văn hóa truyền thống của nhân dân. Với cách mạng và kháng chiến, đình là một địa chỉ đỏ, xuyên suốt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, trong tâm khảm nhiều cán bộ lão thành cách mạng, những cán bộ dân chính Đảng của thành phố Hải Phòng như: Bộ đội, công an, văn phòng Thành ủy, văn hóa, giáo dục được dân làng cưu mang, đùm bọc, đã từng lấy nơi đây là trận địa, góp phần làm nên thắng lợi của công cuộc kháng chiến, giải phóng quê hương.

Đình làng Xuân Đài hiện nay đã và đang được các cấp chính quyền cơ sở từ làng xã, huyện quan tâm, chỉ đạo để bảo vệ và phát huy tác dụng của di tích này.

Address

Thôn Ngọc Chử 2, Xã Trường Thọ, Huyện An Lão
Tp. Hải Phòng

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Xã Trường Thọ, huyện An Lão posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share