Phúc Yên Đổi Mới Phát Triển

Phúc Yên Đổi Mới Phát Triển Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Phúc Yên Đổi Mới Phát Triển, Political organisation, Số 145, Đường Trần Hưng Đạo, phường Phúc Yên, tỉnh phú thọ.

12/06/2026

📢 PHƯƠNG ÁN SẮP XẾP TỔ DÂN PHỐ VÀ BỐ TRÍ NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH CỦA PHƯỜNG PHÚC YÊN

Thực hiện chủ trương của Trung ương, tỉnh Phú Thọ và Đảng bộ phường, UBND phường Phúc Yên đã xây dựng phương án sắp xếp tổ dân phố nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả quản lý, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Theo phương án, từ 54 tổ dân phố hiện nay, sau sắp xếp phường Phúc Yên còn 25 tổ dân phố, giảm 29 tổ dân phố. Đồng thời, địa phương cũng xây dựng phương án bố trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách bảo đảm đúng quy định và thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với các trường hợp dôi dư.

Việc sắp xếp tổ dân phố là bước đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước trên địa bàn.

👉 Xem chi tiết tại đây: https://phucyen.phutho.gov.vn/index.php/tin-t-c-s-ki-n/chinh-tr/3811-phuong-an-sap-xep-to-dan-pho-va-bo-tri-nguoi-hoat-dong-khong-chuyen-trach-sau-sap-xep-cua-phuong-phuc-yen
=========================================

08/06/2026
08/06/2026
08/06/2026

Chính sách hỗ trợ phục vụ đối với các chức danh, chức vụ lãnh đạo

Chính phủ ban hành Nghị định số 199/2026/NĐ-CP ngày 5-6-2026 quy định chính sách hỗ trợ phục vụ đối với các chức danh, chức vụ lãnh đạo thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và các chức danh, chức vụ theo cấp bậc hàm trong Công an nhân dân; các chức danh, chức vụ theo cấp bậc quân hàm trong Quân đội nhân dân.

Cụ thể, Nghị định này quy định về chính sách hỗ trợ phục vụ đối với các chức danh, chức vụ lãnh đạo thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý theo Quy định số 368-QĐ/TW ngày 8-9-2025 của Bộ Chính trị về Danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị; các chức danh, chức vụ theo cấp bậc hàm trong Công an nhân dân; các chức danh, chức vụ theo cấp bậc quân hàm trong Quân đội nhân dân.

Các chức danh, chức vụ lãnh đạo được hưởng chính sách, chế độ quy định tại Quyết định số 36/2015/QĐ-TTg ngày 27-8-2015 của Thủ tướng Chính phủ thì không hưởng chính sách tại Nghị định này.

*Đối tượng áp dụng là các vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị, gồm:

Các chức danh, chức vụ lãnh đạo thuộc diện Bộ Chính trị quản lý theo Quy định số 368-QĐ/TW bao gồm:

Bậc 1: Ủy viên Trung ương Đảng chính thức (Ủy viên Trung ương dự khuyết đang đảm nhiệm vị trí công tác nào thì được xác định vị trí thứ bậc và hưởng các chế độ, chính sách theo chức vụ đang công tác); Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, phó trưởng ban đảng ở Trung ương, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng (là Ủy viên Trung ương Đảng); Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Tổng Thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội), Tổng Kiểm toán Nhà nước; Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là trưởng tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương; Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; Bí thư tỉnh ủy, thành ủy; Phó Bí thư Đảng ủy của 4 đảng bộ trực thuộc Trung ương (các cơ quan Đảng Trung ương; Chính phủ; Quốc hội; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương); Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (là Ủy viên Trung ương Đảng); Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bậc 2: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương (không là Ủy viên Trung ương Đảng); Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam.

Các chức danh, chức vụ lãnh đạo thuộc diện Ban Bí thư quản lý theo Quy định số 368-QĐ/TW gồm:

Bậc 1: Phó trưởng ban, cơ quan đảng ở Trung ương (không là Ủy viên Trung ương Đảng); Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước; Thứ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó trưởng các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam); Phó bí thư tỉnh ủy, thành ủy; chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố; Phó bí thư chuyên trách của 4 đảng bộ trực thuộc Trung ương (các cơ quan Đảng Trung ương; Chính phủ; Quốc hội; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương); Chủ tịch các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương, gồm: Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Hội Người cao tuổi Việt Nam; Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Trợ lý các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước; Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.

Bậc 2: Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, thành phố; Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Trợ lý các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Bậc 3: Trợ lý các đồng chí: Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; trưởng ban, cơ quan đảng Trung ương; Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Quốc hội; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (không là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư); Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Các chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy trong Công an nhân dân, gồm: Sĩ quan có cấp bậc hàm Thượng tướng và các chức danh, chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Thượng tướng; Sĩ quan có cấp bậc hàm Trung tướng và các chức danh, chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Trung tướng; Sĩ quan có cấp bậc hàm Thiếu tướng và các chức danh, chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng.

Các chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy trong Quân đội nhân dân, gồm: Thượng tướng, Đô đốc Hải quân và các chức danh, chức vụ có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thượng tướng; Trung tướng, Phó Đô đốc Hải quân và các chức danh, chức vụ có cấp bậc quân hàm cao nhất là Trung tướng; Thiếu tướng, Chuẩn Đô đốc Hải quân và các chức danh, chức vụ có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thiếu tướng.

*Mức hỗ trợ phục vụ

Mức 2.700.000 đồng/tháng áp dụng đối với nhóm chức danh, chức vụ: lãnh đạo thuộc diện Bộ Chính trị quản lý theo Quy định số 368-QĐ/TW; Sĩ quan có cấp bậc hàm Thượng tướng và các chức danh, chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Thượng tướng trong Công an nhân dân; Thượng tướng, Đô đốc Hải quân và các chức danh, chức vụ có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thượng tướng trong Quân đội nhân dân.

Mức 2.000.000 đồng/tháng áp dụng đối với nhóm chức danh, chức vụ: Sĩ quan có cấp bậc hàm Trung tướng và các chức danh, chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Trung tướng trong Công an nhân dân; Trung tướng, Phó Đô đốc Hải quân và các chức danh, chức vụ có cấp bậc quân hàm cao nhất là Trung tướng trong Quân đội nhân dân.

Mức 1.350.000 đồng/tháng áp dụng đối với nhóm chức danh, chức vụ: lãnh đạo thuộc diện Ban Bí thư quản lý theo Quy định số 368-QĐ/TW; Sĩ quan có cấp bậc hàm Thiếu tướng và các chức danh, chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là Thiếu tướng trong Công an nhân dân; Thiếu tướng, Chuẩn Đô đốc Hải quân và các chức danh, chức vụ có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thiếu tướng trong Quân đội nhân dân.

*Nguyên tắc áp dụng

Khi các đối tượng trên được điều động, luân chuyển, biệt phái thì thực hiện theo mức hỗ trợ tương ứng với vị trí công tác được điều động, luân chuyển, biệt phái.

Khi các đối tượng trên thôi giữ chức danh, chức vụ, nghỉ hưu hoặc từ trần thì thôi hưởng chính sách hỗ trợ phục vụ.

Khi các đối tượng trên giữ nhiều chức danh, chức vụ thì được hưởng một mức hỗ trợ phục vụ theo chức danh, chức vụ cao nhất.

Khoản hỗ trợ phục vụ được thanh toán định kỳ hằng tháng cùng với thanh toán tiền lương. Nguồn kinh phí chi trả chính sách hỗ trợ phục vụ được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm của cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trả lương cho các đối tượng trên.

Các chức danh, chức vụ Trưởng ban Đảng ở Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đang giữ chức vụ tại thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành thì được áp dụng mức chi hỗ trợ phục vụ cho đến khi có văn bản của cấp có thẩm quyền quy định chính sách cho đối tượng này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20-7-2026. Quyết định số 269/2005/QĐ-TTg ngày 31-10-2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp phục vụ hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

TTXVN

Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 14. Ảnh: vietnamnet.vn

08/06/2026
08/06/2026

Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì lễ đón chính thức Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Thủ tướng nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone đã đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ ba từ ngày 7-9/6/2026.

Chiều 7/6, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chủ trì Lễ đón Thủ tướng Sonexay Siphandone thăm chính thức Việt Nam.

Tham dự Lễ đón có các Ủy viên Bộ Chính trị: Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc; Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang; Bộ trưởng Công an Lương Tam Quang; Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung. Các Ủy viên Trung ương Đảng: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong; Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn; Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan; Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh; Bộ trưởng Công thương Lê Mạnh Hùng; Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn; Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn; Đại sứ Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Nguyễn Minh Tâm; Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đôn Tuấn Phong; Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn; Thứ trưởng Bộ Nội vụ Cao Huy và Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định.

Các cháu thanh thiếu niên, thiếu nhi Thủ đô vẫy cờ hai nước chào đón Thủ tướng Sonexay Siphandone và Đoàn cấp cao nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam-Lào tiếp tục được được củng cố và phát triển thực chất, hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực. Hai nước luôn dành sự coi trọng đặc biệt, ưu tiên cao nhất cho nhau trong chính sách đối ngoại của mình.

Trong không khí thân tình, hữu nghị, Thủ tướng Lê Minh Hưng có mặt tại thảm đỏ, nồng nhiệt chào đón Thủ tướng Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn cấp cao Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thăm chính thức Việt Nam. Đại diện thiếu nhi Thủ đô tiến tới trao tặng Thủ tướng Sonexay Siphandone bó hoa tươi thắm.

Trong tiếng nhạc chào mừng, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Sonexay Siphandone bước lên bục danh dự tại sảnh chính trụ sở Chính phủ. Sau khi nghe quân nhạc cử Quốc thiều hai nước, hai Thủ tướng bước tới cúi chào quân kỳ và duyệt Đội Danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam; giới thiệu thành phần Đoàn cấp cao hai nước tham dự lễ đón.

Kể từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 5/9/1962, quan hệ hai nước luôn gắn bó bền chặt, khẳng định tình đoàn kết đặc biệt trước sau như một, hợp tác, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước.

Việc hai nước nâng cấp quan hệ lên “hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện” vào tháng 2/2019 là dấu mốc có ý nghĩa lịch sử quan trọng, tạo bước đột phá mới trong quan hệ hợp tác giữa hai nước. Đến tháng 12/2025, trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt giữa hai nước, lãnh đạo cấp cao hai nước nhất trí làm sâu sắc nội hàm, nâng quan hệ Việt Nam-Lào lên tầm cao mới là "Hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện, gắn kết chiến lược", thể hiện tầm nhìn chung, lợi ích chiến lược đan xen và định hướng đồng hành lâu dài vì phát triển bền vững, tự cường, thịnh vượng chung của hai dân tộc.

Đây là sự khẳng định tầm nhìn chung, lợi ích chiến lược đan xen và định hướng đồng hành lâu dài, vì mục tiêu phát triển bền vững, tự cường, thịnh vượng chung của hai dân tộc. Hai bên duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương, nhất là Kỳ họp Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam-Lào, các cơ chế hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương và tiếp xúc cấp cao thường xuyên. Trên các diễn đàn hợp tác khu vực và quốc tế, hai nước Việt Nam-Lào luôn phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau, đặc biệt trong ASEAN và các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mê Công…

Bên cạnh hợp tác chính trị-ngoại giao, hợp tác kinh tế-thương mại-đầu tư giữa hai nước có nhiều bước phát triển. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt đạt 3 tỷ USD, tăng 32% so với cùng kỳ năm 2024. Nhiều dự án của doanh nghiệp Việt Nam đã trở thành những mô hình hợp tác thành công, góp phần tạo việc làm, tăng nguồn thu ngân sách và thúc đẩy chuyển giao công nghệ tại Lào.

Hợp tác quốc phòng-an ninh tiếp tục được mở rộng, là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ Việt Nam-Lào, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng-an ninh và trật tự an toàn xã hội ở mỗi nước. Hợp tác trên các lĩnh vực quan trọng khác như kết nối giao thông, giáo dục-đào tạo, văn hóa, giao lưu nhân dân, du lịch... đều ghi nhận những kết quả tích cực.

Trên nền tảng quan hệ Việt Nam-Lào phát triển tốt đẹp, chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ ba của Thủ tướng Sonexay Siphandone có ý nghĩa rất quan trọng, là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước rà soát toàn diện việc triển khai các thỏa thuận đạt được trong thời gian qua.

Điểm nổi bật của giai đoạn hiện nay là hai bên không chỉ thúc đẩy hợp tác theo chiều rộng mà đang tập trung nâng cao chất lượng hợp tác theo chiều sâu, gắn kết chặt chẽ hơn lợi ích chiến lược của hai nước. Nội hàm “gắn kết chiến lược” đang từng bước được cụ thể hóa trên các lĩnh vực then chốt như kết nối hạ tầng chiến lược, liên kết kinh tế, hợp tác năng lượng, chuyển đổi số, tài chính-tiền tệ, đào tạo nguồn nhân lực và phối hợp tại các cơ chế đa phương.

Việc Thủ tướng Sonexay Siphandone tham dự 2 trong 3 kỳ Diễn đàn Tương lai ASEAN tiếp tục thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của Lào đối với sáng kiến do Việt Nam khởi xướng nhằm thúc đẩy đối thoại chiến lược về tương lai ASEAN.

Sau Lễ đón, hai Thủ tướng đã dẫn đầu Đoàn cấp cao hai nước tiến hành hội đàm nhằm đánh giá kết quả hợp tác giữa hai nước thời gian qua và đề xuất các phương hướng hợp tác thời gian tới; chứng kiến Lễ ký kết, trao các văn kiện hợp tác Việt Nam-Lào. Hai Thủ tướng tham quan trưng bày ảnh về đất nước, con người, những dấu mốc trong lịch sử quan hệ đặc biệt, tình cảm anh em gắn bó thân thiết Việt Nam-Lào do Văn phòng Chính phủ phối hợp với Thông tấn xã Việt Nam thực hiện.

*Cũng trong chiều 7/6, Thủ tướng Sonexay Siphandone cùng Đoàn đại biểu cấp cao Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ.

TTXVN







25/05/2026

Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và 40 năm thực hiện Cương lĩnh

Văn phòng Trung ương Đảng vừa có thông báo kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Kỳ họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và định hướng phát triển đất nước 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Nội dung Thông báo số 62-TB/TW ngày 22/5/2026 nêu rõ:

Ngày 14/5/2026, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và định hướng phát triển đất nước 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sau đây gọi là Ban Chỉ đạo) tổ chức Kỳ họp thứ nhất dưới sự chủ trì của đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo. Cùng dự có các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, nguyên lãnh đạo chủ chốt, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, nguyên Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương.

Sau khi nghe báo cáo của cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo và ý kiến phát biểu của các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo kết luận:

1. Việc tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa rất lớn về lý luận, thực tiễn, chính trị, tư tưởng và tổ chức; là công việc có tầm vóc chiến lược của Đảng và dân tộc nhằm phục vụ việc hoạch định đường lối phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ban Chỉ đạo ghi nhận, đánh giá cao sự chuẩn bị nghiêm túc, trách nhiệm của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương, Tổ Biên tập và các cơ quan liên quan trong việc chuẩn bị tài liệu, dự thảo kế hoạch, quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ và bước đầu xác định những định hướng lớn cho công tác tổng kết.

2. Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam không chỉ là kể lại các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian, mà phải chú trọng đánh giá toàn bộ hành trình lịch sử vĩ đại, hết sức vẻ vang nhưng cũng đầy hy sinh, thử thách, gian lao của Đảng và dân tộc ta; phải trả lời được những câu hỏi lớn mang tầm chiến lược, có giá trị định hướng lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổng kết cần làm rõ những nhân tố then chốt giúp Đảng ta lãnh đạo dân tộc vượt qua những bước ngoặt lịch sử và giành được những thành tựu vĩ đại; đâu là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; những bài học mang tính quy luật cần được kế thừa, đúc rút và phát triển trong giai đoạn mới; những hạn chế, khuyết điểm cần được nhìn thẳng, đánh giá khách quan để sửa chữa, khắc phục; những trụ cột bảo đảm cho sự vững bền của Đảng, sự trường tồn của dân tộc và chế độ; tầm nhìn phát triển đất nước trong 100 năm tới.

Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh không chỉ tổng kết một văn kiện, mà còn tổng kết quá trình hiện thực hóa đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trọng tâm là 10 năm gần đây gắn với 40 năm đổi mới; tiếp tục làm rõ hơn mô hình phát triển của Việt Nam, mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận về những mối quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng hệ luận cứ phục vụ xây dựng Cương lĩnh phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

3. Ban Chỉ đạo cơ bản thống nhất với các định hướng lớn do Tổ Biên tập đề xuất, nhất là các nội dung về: Cương lĩnh đầu tiên của Đảng - tầm nhìn xuyên thế kỷ; giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng; phát huy sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; những mối quan hệ lớn và những bài học mang tính quy luật của cách mạng Việt Nam.

Các báo cáo tổng kết phải thể hiện được những thông điệp cốt lõi, xuyên suốt, mang tầm nhìn chiến lược vượt thời đại của Đảng; nâng tầm trở thành một bản tuyên ngôn phát triển của Đảng ta trong kỷ nguyên mới, bảo đảm nội dung có chiều sâu tư tưởng; kết luận có giá trị định hướng, khai mở và thúc đẩy hành động.

4. Về phương pháp tổng kết: (i) Cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn; không xa rời đời sống thực tiễn, không mô tả tản mạn, thiếu khái quát; các nhận định phải có căn cứ thực tiễn, các đề xuất phải dựa trên cơ sở khoa học, dự báo xu thế và yêu cầu phát triển đất nước. (ii) Quá trình tổng kết phải bảo đảm thống nhất giữa tính lịch sử và tính logic, vừa làm rõ quá trình vận động, những bước ngoặt, lựa chọn chiến lược, những hy sinh, nỗ lực, sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta; vừa khái quát được bản chất, các mối quan hệ nhân quả và những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam. Việc tổng kết phải có chiều sâu lịch sử, tầm cao lý luận và sức gợi mở kiến tạo cho tương lai. (iii) Phải gắn chặt với tổng kết ở địa phương, ngành, lĩnh vực; chú trọng tổng kết sâu đối với các địa phương có sự kiện lịch sử tiêu biểu, các phong trào lớn, mô hình đổi mới sáng tạo, các địa bàn chiến lược, lĩnh vực trọng yếu về xây dựng đảng, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm có chuyên đề riêng, sản phẩm riêng, tránh hình thức, qua loa.

Đồng ý chủ trương nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, trong đó có kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong tổng kết lịch sử 100 năm, xây dựng nghị quyết lịch sử, tổ chức nghiên cứu lý luận, tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng. Việc nghiên cứu phải bảo đảm tinh thần độc lập, khách quan, cầu thị, chọn lọc, phù hợp với điều kiện Việt Nam; học tập giá trị phương pháp luận, cách tổ chức thực hiện, cách huy động lực lượng nghiên cứu và gắn tổng kết lịch sử với định hướng phát triển; tuyệt đối không rập khuôn, giáo điều, sao chép máy móc.
5. Về tổ chức thực hiện: (i) Ban Chỉ đạo, Tổ Biên tập khẩn trương rà soát, hoàn thiện phân công nhiệm vụ theo hướng rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ tiến độ; không dàn trải, hình thức; không chồng chéo, bỏ sót những vấn đề quan trọng. (ii) Tổ Biên tập sớm xây dựng, hoàn thiện Đề cương chi tiết các báo cáo tổng kết. Đề cương phải thực sự là "bản thiết kế" của toàn bộ công trình tổng kết; xác định rõ cấu trúc báo cáo, các nội dung trọng tâm, các chuyên đề sâu; phân định rõ những nội dung giao địa phương, bộ, ngành thực hiện; những nội dung cần tổ chức hội thảo khoa học, khảo sát thực tiễn, nghiên cứu chuyên sâu. (iii) Ngay sau Kỳ họp, cần khẩn trương ban hành Quy chế làm việc, Kế hoạch triển khai, Hướng dẫn tổng kết, Bộ khung phương pháp luận chung và cơ chế phối hợp để tổ chức thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống chính trị. Kế hoạch triển khai phải gắn với chương trình làm việc của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các hội nghị Trung ương; xác định rõ tiến độ theo tháng, quý và từng giai đoạn, giai đoạn nước rút thì phải theo tuần, thậm chí theo ngày; bảo đảm mỗi giai đoạn đều có sản phẩm cụ thể để kiểm đếm, đánh giá. (iv) Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương; giữa các ban, bộ, ngành, cơ quan nghiên cứu lý luận với cơ quan hoạch định chính sách, quản lý thực tiễn. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương phát huy vai trò nòng cốt trong nghiên cứu lý luận, phương pháp luận, tổ chức hội thảo, tọa đàm, phản biện khoa học và tham mưu tổng hợp. (v) Rà soát, kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn đã có; những vấn đề còn có ý kiến khác nhau để tiếp tục nghiên cứu, trao đổi, những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn phải kịp thời nghiên cứu bổ sung.

6. Quá trình tổng kết cần kết hợp chặt chẽ với công tác tuyên truyền; coi đây là đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Nội dung tuyên truyền phải làm sâu sắc tầm vóc lịch sử vĩ đại của 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và 40 năm thực hiện Cương lĩnh; khơi dậy niềm tự hào dân tộc, củng cố niềm tin vào Đảng, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và tương lai phát triển của đất nước. Công tác tuyên truyền phải được tiến hành với nhiều hình thức sinh động, thuyết phục, phù hợp với từng đối tượng; đồng thời, chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

7. Quá trình tổng kết phải bảo đảm cầu thị, khách quan, khoa học; đánh giá đúng thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; kết hợp chặt chẽ giữa kế thừa và phát triển, giữa tổng kết quá khứ với định hướng tương lai.

Tinh thần chung là khẩn trương nhưng chắc chắn; khoa học nhưng không chậm trễ; dân chủ nhưng có kỷ luật; phân công rõ nhưng phối hợp chặt chẽ; kế thừa nhưng phải bổ sung, phát triển; tổng kết quá khứ để hiểu sâu hiện tại và kiến tạo tương lai.

Các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, bảo đảm tiến độ, chất lượng, góp phần xây dựng thành công công trình tổng kết có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, phục vụ thiết thực công tác hoạch định đường lối phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

ND

Address

Số 145, Đường Trần Hưng Đạo, Phường Phúc Yên
Tỉnh Phú Thọ

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phúc Yên Đổi Mới Phát Triển posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share