18/10/2023
Từ thuở tạo lập đến nay, đây là một thiết chế văn hóa dân gian truyền thống gắn với sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và đời sống văn hóa tinh thần của người dân làng Thương Hải xã Ngũ Phụng, huyện Phú Quý. Quần thể di tích thờ phụng 2 vị thần khác nhau trong 2 ngôi chính điện xây liền kề nhau. Nhìn từ hướng đối diện thì ngôi chính điện bên tả thờ Bà Chúa Ngọc (còn gọi là Pô Inư Nagar hay Thiên Ya Na Diễn Ngọc Phi - một vị nữ thần được người Chăm tôn vinh là Bà Mẹ Xứ Sở). Ngôi chính điện bên hữu thờ Ông Nam Hải (cá Voi) theo tín ngưỡng ngư nghiệp.
Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải nằm trên địa phận làng Thương Hải xã Ngũ Phụng huyện Phú Quý, tọa lạc trên một bãi cát trắng sát cạnh bờ biển, các hang mục kiến trúc chính của di tích đều quay về hướng Tây. Quần thể kiến trúc của di tích tuy được bố trí trong cùng một khuôn viên nhưng có hai chức năng thờ phụng khác nhau. Mỗi ngôi chính điện được trang trí ở ngoại thất và bài trí bên trong nội thất các khám thờ, các vật thờ, hoành phi, câu đối… thể hiện rõ chức năng, nội dung thờ phụng cũng như nét tín ngưỡng đặc sắc của người dân địa phương.
Bà Chúa Ngọc hay Thiên Ya Na là tên gọi của người Việt có nguồn gốc, xuất xứ từ Pô Inư Nagar - một vị nữ thần của dân tộc Chăm gắn với nhiều huyền thoại linh thiêng, hiện thân cho người Mẹ sáng tạo ra muôn loài và được người Chăm tôn kính coi là Bà Mẹ Xứ Sở. Tương truyền: Bà được trời sai xuống trần gian để tạo ra quả đất. Sáng tạo ra vạn vật và muôn loài, dạy dân làm nhà, trồng lúa, dệt vải và vun đắp tình cảm yêu thương cho con người. Bà cai quản tất cả mọi miền, mọi nơi, là Mẹ lớn của tất cả các Mẹ Xứ Sở. Bà luôn cưỡi voi trắng đi mây về gió để ban phước lành cho mọi người.
Đối với tục thờ Thần Nam Hải (cá voi) trong dân gian người Việt cũng như người Chăm và người Hoa đều cho rằng: cá Voi không phải là một loài cá bình thường mà là một loài cá thần. Biểu hiện ở đây không phải là sức vóc to lớn và sức chịu đựng khác thường, mà là loài cá có suy nghĩ, có tình cảm và đặc biệt là sự cảm nhận và tâm linh như con người. Không phải ngày xưa mà ngay cả bây giờ nhiều người vẫn nghĩ thế. Do đó cá Voi được thờ phụng rất tôn nghiêm. Truyền thuyết của người Việt ở vùng biển thì cho rằng: cá Voi là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. Xưa kia, Đức Phật Quan Âm trong lần tuần du đại hải, do ngậm ngùi đau xót cho số phận của người trần bị chết chìm ngoài biển khơi, nên đã xé chiếc áo cà sa làm muôn ngàn mảnh đem thả trên mặt biển và làm phép biến thành cá Ông, Đức Phật lấy bộ xương Voi ban cho để cá có thân hình to lớn, lại ban cho phép thâu đường để lội thật mau hầu làm tròn trách nhiệm cứu vớt người lâm nạn. Cốt lõi của những truyền thuyết ấy chính là đề cao việc cá Voi cứu giúp người gặp nạn ngoài biển khơi và giúp cho ngư dân được mùa biển.
Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải ngoài chức năng thờ phụng Bà Thiên Ya Na, Ông Nam Hải (cá Voi) và các bậc Tiền, Hậu hiền có công quy tập dân cư đến khẩn hoang, sinh cơ lập nghiệp, lập làng …còn là nơi diễn ra các lễ nghi, hội hè gắn với các nhân vật được thờ theo tập tục, tín ngưỡng dân gian của cộng đồng dân cư trong làng qua nhiều thế hệ. Hàng năm, tại đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải diễn ra hai kỳ tế lễ chính: Tế Xuân vào tháng Giêng âm lịch và Tế Thu vào tháng Tám âm lịch. Lễ hội tế Xuân và tế Thu diễn ra vào tháng Giêng và tháng Tám hàng năm, không có ngày cố định mà người ta chọn ngày tốt trong tháng để tế lễ, thời gian diễn ra lễ hội kéo dài trong 2 ngày. Trước ngày tế lễ, đông đảo bà con trong làng đủ mọi giới và lứa tuổi nô nức tập trung về đền và lăng để dọn dẹp, lau chùi, sửa soạn lại các khám thờ, đồ thờ và bài trí, đơm hoa quả lên các khám thờ. Ngoài sân và dọc theo các tường thành, cổng Tam quan trang trí các loại cờ lễ càng làm cho không khí lễ hội tại di tích thêm phần sinh động và trang nghiêm.
Sáng ngày đầu diễn ra lễ hội, mọi người trong làng và các làng lân cận trong trang phục lễ tươm tất tập trung về đền. Mở đầu là nghi lễ thỉnh sắc phong Bà Chúa Ngọc và Ông Nam Hải từ trên khám thờ xuống đặt lên kiệu lễ. Tiếp đó là nghi thức thỉnh sắc phong Bà Chúa Ngọc và Ông Nam Hải đi qua các ngõ đường trong làng. Đoàn lễ thỉnh sắc phong được bố trí đông đúc và trang nghiêm, có kiệu, tàn, lọng, cờ ngũ sắc, chiêng, trống, bát bửu… đội chèo bả trạo, đội nhạc lễ, đội múa tứ linh với hàng trăm người tham gia. Hầu hết những người trong đoàn lễ đều mặc đồ lễ trang trọng, những người trong Ban lâm tế và các cụ cao niên mặc áo dài màu đen hoặc xanh, đầu đội khăn đóng. Sau khi đi qua các ngõ đường trong làng, đoàn lễ ra bãi biển làm nghi thức thỉnh rước Ông Nam Hải về vạn hưởng lễ. Sau khi dâng hương, đèn, trà rượu, hoa quả và khấn tế xong, ông chủ lễ (chánh bái) đọc bài văn tế viết bằng chữ Hán thỉnh mời Ông Nam Hải và các vị thần trên biển về chứng giám. Đọc xong bài văn tế, đoàn lễ thỉnh rước Ông Nam Hải về vạn an vị để chứng giám và thụ hưởng các lễ vật do dân làng dâng tế.
Theo tập tục có từ lâu đời, Ban lâm tế tổ chức cúng tế cho Bà Thiên Ya Na trước rồi mới cúng tế Ông Nam Hải sau. Lễ vật cúng tế thần bao gồm: hương đèn, trà rượu, trầu cau, hoa quả và các loại đồ mặn như: heo, gà, bò (riêng bên đền thờ Thiên Ya Na kiêng cử, không cúng bò theo tập tục của người Chăm Bàlamôn). Nghi lễ tế Bà Thiên Ya Na và Ông Nam Hải đều có đọc văn tế, ông chủ lễ là người trực tiếp đọc văn tế, ngoài ra còn có những người phụ lễ như: Đông hiến, Tây hiến, bồi bái và học trò lễ. Cúng tế cho các vị thần xong, sau cùng Ban lâm tế mới cúng tế cho các bậc Tiền, Hậu hiền được thờ phụng tại Đền và Vạn. Trước đây, ngoài phần lễ, vào các dịp tế lễ thường tổ chức đua thuyền vào ban ngày và hát Bộ vào ban đêm. Đây là những trò chơi, những làn điệu dân gian vô cùng sôi động và hấp dẫn có sức thu hút đông đảo người dân địa phương tham gia và hưởng ứng.
Theo các cụ cao niên và người dân trên đảo, đến nay mọi người vẫn còn lưu truyền câu nói “Xuân cầu, Thu báo”. Ý nghĩa của câu nói nhằm nhắc nhở mọi người giữ gìn tập tục truyền thống cũng như tục lệ hàng năm tại Đền và Vạn có 2 kỳ tế lễ. Tế Xuân vào dịp đầu năm để thỉnh cầu Bà Thiên Ya Na và Ông Nam Hải phù trợ cho quốc thái dân an, cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cả nông và ngư nghiệp được bội thu. Tế Thu vào dịp tháng Tám là để trả lễ, báo ân cho Bà Thiên Ya Na và Ông Nam Hải đã bảo bọc, chở che, phù trợ giúp mọi người đạt được những điều đã khẩn nguyện và thỉnh cầu trong dịp tế Xuân vào đầu năm. Việc làm đó thể hiện được đạo lý, tính nhân văn và thuần phong mỹ tục đáng trân trọng của người dân trên đảo. Lễ hội văn hóa dân gian tại đền thờ Bà Chúa Ngọc và vạn Thương Hải cũng là dịp để những người dân trong làng và các làng cân cận có dịp hội ngộ, gặp gỡ, vui vầy bên nhau sau những tháng ngày dài trong những chuyến đánh bắt xa bờ đầy gian nan, trắc trở. Để mọi người cùng trao đổi và truyền đạt những kinh nghiệm làm ăn trong ngư nghiệp lẫn nông nghiệp, giúp nhau trong làm ăn và cuộc sống, tình làng nghĩa xóm và tính cộng đồng ngày càng được thắt chặt gần gũi hơn.
Có thể nói Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải chứa đựng nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc của vùng biển đảo. Tại di tích còn bài trí nhiều di vật, các đồ thờ tự có giá trị như khám thờ, hoành phi, câu đối, bao lam, chiêng, trống, sắc phong, văn tế… có niên đại xa xưa góp phần nâng cao nét thâm nghiêm, trang trọng, tính nghệ thuật của công trình kiến trúc dân gian. Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải được các vua triều Nguyễn ban tặng 10 sắc phong. Trong số đó có 5 sắc phong thần cho Bà Chúa Ngọc, 3 sắc phong cho Thần Nam Hải và 2 sắc phong thần cho Bắc Trấn đô đốc Bùi Quận Công.
Trải qua hơn 200 năm tồn tại, Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải đã được sửa chữa, trùng tu nhiều lần. Năm 2002, Ban quản lý di tích đã vận động nhân dân trong làng đóng góp công sức và tiền của để trùng tu, tôn tạo lại cổng Tam quan theo kiểu dáng xưa khá quy mô, bề thế; góp phần tôn thêm vẻ mỹ quang và trang nghiêm cần thiết cho di tích.
Với những giá trị di tích độc đáo và đặc sắc, Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải được UBND tỉnh Bình Thuận xếp hạng Di tích lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh tại Quyết định số: 2958/QĐ-UBND ngày 16/11/2007.