Đảng bộ phường Tân Hòa đổi mới và phát triển

Đảng bộ phường Tân Hòa đổi mới và phát triển Trang thông tin chính thức của phường Tân Hòa – nơi cập nhật kịp thời các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của địa phương

12/06/2026

🇻🇳 THÔNG BÁO KẾT LUẬN CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM VỀ TRỌNG TÂM CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, CÔNG TÁC TỔ CHỨC, CÁN BỘ

Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về trọng tâm công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (Thông báo số 90-TB/VPTW, ngày 10/6/2026)

Theo TTXVN, nội dung Thông báo số 90-TB/VPTW, như sau:

Ngày 03/6/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về trọng tâm công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Tham dự cuộc họp có đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Trung ương Đảng, lãnh đạo, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị.

Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương báo cáo và ý kiến phát biểu của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:

1. Cơ bản thống nhất với Báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương.

Đồng thời, lưu ý một số yêu cầu đối với ngành tổ chức xây dựng Đảng; cụ thể như sau:

Một là, thống nhất nhận thức công tác xây dựng Đảng, tổ chức, cán bộ là yếu tố cốt lõi của quản trị quốc gia.

Công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ trong giai đoạn mới có ý nghĩa quyết định đối với sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và năng lực của bộ máy hệ thống chính trị; không chỉ đáp ứng yêu cầu trong sạch, vững mạnh mà phải nhấn mạnh tới yếu tố đủ bản lĩnh, trí tuệ, uy tín và năng lực để lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Cán bộ phải kiên định, sáng suốt về đường lối, mạnh về thực thi, sắc bén trong dự báo, tiên phong về khoa học, công nghệ, chủ động trong kiến tạo phát triển, gần dân, sát dân và vì dân; khắc phục tình trạng trì trệ, bảo thủ, yếu kém, quan liêu; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Gắn chặt xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị tinh, gọn, trong sạch, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; phát huy dân chủ, kiểm soát quyền lực và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.

Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của Đảng.

Sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm đúng đắn, sâu sát, hiệu lực, hiệu quả, thông qua đường lối, chủ trương, định hướng chiến lược, công tác tuyên truyền vận động, tổ chức cán bộ, kiểm tra, giám sát, nêu gương, thuyết phục và kết quả thực tiễn.

Chú trọng việc chủ động tham mưu, nghiên cứu, dự báo, xử lý từ sớm, từ xa các vấn đề lớn, mới, đột xuất, bất ngờ; chuyển phương thức lãnh đạo từ mệnh hành chính sang kiến tạo quản trị phát triển, từ kiểm soát quy trình sang đánh giá thực chất kết quả, hiệu quả công việc; bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực, rõ thời gian và rõ kết quả trong tổ chức thực hiện; nâng cao năng lực thực thi, tăng cường kiểm tra, kiểm soát trách nhiệm gắn với kết quả thực hiện.

Tập trung khắc phục triệt để những khâu yếu, "điểm nghẽn", "nút thắt" trong tổ chức thực hiện. Kiên quyết khắc phục tình trạng nói nhiều làm ít, họp nhiều hiệu quả thấp, nhiều văn bản nhưng chưa rõ nhiệm vụ, giải pháp.

Mọi nhiệm vụ phải được cụ thể hóa, định lượng gắn với trách nhiệm, quyền hạn, nguồn lực và điều kiện bảo đảm; lấy sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá. Bảo đảm giao quyền đi đôi với giao nguồn lực; giao trách nhiệm đi đôi với kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức bộ máy mới.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, cơ chế phối hợp, mối quan hệ công tác, số hóa hoạt động của các cơ quan, đơn vị sau sắp xếp; khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp, bỏ sót nhiệm vụ hoặc né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Thực hiện nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; một cơ quan có thể chủ trì nhiều việc.

Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, ủy quyền theo hướng tăng thẩm quyền, tránh nhiệm, tạo cơ chế phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự quyết, tự chịu trách nhiệm trong thẩm quyền, trách nhiệm được giao.

Cấp Trung ương tập trung hoàn thiện thể chế, chiến lược, quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình và tăng cường theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát; cấp tỉnh, thành phố chủ động quyết định, thực hiện và chịu trách nhiệm trong phạm vi quyền hạn, nguồn lực được giao; cấp cơ sở trực tiếp phục vụ người dân, doanh nghiệp bảo đảm thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện.

Bốn là, đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ, coi đánh giá cán bộ là khâu đột phá.

Yêu cầu đối với cán bộ trong giai đoạn mới không chỉ vững về bản lĩnh chính trị, trung thành với Đảng, lợi ích quốc gia, dân tộc, có đạo đức trong sáng, lối sống gương mẫu mà còn phải có tư duy chiến lược, quản trị hiện đại, năng lực tổ chức thực hiện, khả năng xử lý, giải quyết những vấn đề mới, khó, phức tạp, phát sinh từ thực tiễn; có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Tuyển chọn, phân công, bổ nhiệm cán bộ bảo đảm đúng người, đúng việc, đúng năng lực, đúng sở trường, đúng thẩm quyền.

Đánh giá cán bộ là khâu then chốt, phải công tâm, khách quan, thực chất, dựa trên sự tín nhiệm của tập thể, lấy kết quả, hiệu quả hoàn thành chức năng, nhiệm vụ chính trị của tập thể, chức trách, nhiệm vụ của cá nhân làm thước đo.

Cần tạo sự đột phá trong bổ nhiệm cán bộ, nhất là người đứng đầu. Kiên quyết khắc phục tình trạng "cào bằng" trong đánh giá cán bộ; chậm thay thế cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm; không ghi nhận, bảo vệ và sử dụng cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có sản phẩm, có uy tín.

Thực hiện nghiêm túc, thực chất chủ trương "có vào, có ra", "có lên, có xuống"; kịp thời miễn nhiệm, cho từ chức, thay thế cán bộ có năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thông qua đánh giá cán bộ hằng quý, hằng năm.

Chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ có năng lực nổi trội, chủ động, sáng tạo, quyết liệt, cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học kỹ thuật...

Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và cán bộ cơ sở. Trong đó, cán bộ cấp chiến lược phải có tầm nhìn, trí tuệ, bản lĩnh, tư duy hệ thống, năng lực hoạch định và xử lý những vấn đề lớn, mới, khó, phức tạp; cán bộ cơ sở phải gần dân, sát dân, hiểu dân, trọng dân, có kỹ năng thuyết phục, đối thoại, giải quyết công việc và phục vụ Nhân dân.

Nghiên cứu cơ chế, chính sách thúc đẩy việc liên thông trong công tác cán bộ giữa trong và ngoài khu vực Nhà nước; có cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng, trọng dụng nhân tài, nhất là trong các lĩnh vực chiến lược.

Cần có tư duy mới, tầm nhìn mới về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo đảm chặt chẽ, chủ động, khách quan, toàn diện.

Năm là, củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên.

Tập trung củng cố tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, nâng cao năng lực nắm bắt tình hình và giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh từ cơ sở, nhất là liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

Sinh hoạt chi bộ phải thực chất, gắn nhiệm vụ chính trị với giải quyết những vấn đề thực tiễn; khắc phục tình trạng hình thức, nể nang, né tránh, thiếu tính chiến đấu; phát huy dân chủ, phê bình và tự phê bình, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật của Đảng.

Coi trọng phát triển đảng viên cả về số lượng và chất lượng, chú trọng địa bàn, lĩnh vực và khu vực có ít đảng viên như khu vực kinh tế tư nhân, lĩnh vực mới, địa bàn khó khăn, với tinh thần "ở đâu có dân, ở đó phải có đảng viên làm nòng cốt". Tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện, rà soát, sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những cá nhân không đủ tư cách.

Sáu là, kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ cương, kỷ luật, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, nhất là đối với công tác cán bộ, có ý nghĩa quyết định chất lượng đội ngũ, tổ chức bộ máy và hiệu quả thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng.

Kiên quyết chống lợi ích nhóm, cục bộ, bè phái, chạy chức, chạy quyền; thực hiện nghiêm các quy định về kiểm soát quyền lực.

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm theo hướng chủ động, từ sớm, từ xa, từ cơ sở; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Bảy là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng.
Nâng cao nhận thức, tạo chuyển biến mạnh mẽ về chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng, coi đây là giải pháp quan trọng trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát và đánh giá cán bộ.

Tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, đồng bộ, liên thông, chính xác, an toàn về tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ và biên chế; bảo đảm phục vụ hiệu quả công tác tham mưu chiến lược, quản lý, kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phòng ngừa vi phạm.

Gắn chuyển đổi số trong Đảng với xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số.

2. Cơ bản thống nhất với các kiến nghị, đề xuất của Ban Tổ chức Trung ương:

- Giao Ban Tổ chức Trung ương lựa chọn đúng những vấn đề lớn, mới, khó, có tác động lâu dài, thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị, Ban Bí thư để bổ sung vào chương trình làm việc, trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong tháng 6/2026.

- Đối với tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và 40 năm thực hiện Cương lĩnh, phải coi xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là nội dung nền tảng; qua tổng kết rút ra quy luật, bài học, luận cứ khoa học và thực tiễn, bổ sung, nâng tầm lý luận, tạo đột phá cho giai đoạn phát triển mới.

3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và hệ thống trường chính trị tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng thiết thực, hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam và bối cảnh quốc tế; chú trọng nâng cao tư duy chiến lược, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị, điều hành và xử lý các vấn đề mới, khó, phức tạp.

4. Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương tập trung triển khai hiệu quả các nhiệm vụ chuyển đổi số, đánh giá mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; xây dựng cơ sở dữ liệu cán bộ, đảng viên; bảo vệ chính trị nội bộ ngay từ cơ sở; giáo dục chính trị, tư tưởng và tổng kết thực tiễn... bảo đảm đồng bộ, xuyên suốt, rõ mục tiêu, tiến độ, sản phẩm, tránh hình thức.

Văn phòng Trung ương Đảng thông báo để Ban Tổ chức Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng liên quan tổ chức thực hiện./.

12/06/2026
12/06/2026
12/06/2026

Chúc các sĩ tử 2k8 thực hiện được ước mơ của mình !

12/06/2026

Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về công tác đối ngoại, ngoại giao trong giai đoạn mới

Sáng 11/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự và có bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng và các đại biểu tham dự hội nghị.

Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị để quán triệt và triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Đây là sự cụ thể hóa những chủ trương, đường lối đã được Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định, thể hiện tư tưởng và tầm nhìn của Đảng về đối ngoại nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tiếp nối Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết 06-NQ/TW đặt ra mục tiêu phát triển đối ngoại trong giai đoạn mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước, góp phần hiện thực hoá các mục tiêu chiến lược của đất nước, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Các đồng chí đã được nghe phát biểu quán triệt Nghị quyết và 8 tham luận để giúp các cấp ủy, tổ chức đảng và từng đảng viên hiểu rõ hơn, sâu hơn, đầy đủ hơn nội dung của Nghị quyết; bảo đảm thống nhất cao về nhận thức và hành động trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tại các bộ, ban, ngành, địa phương, từng tổ chức đảng, tới từng đảng viên và Nhân dân.

Thưa các đồng chí,

Thế giới đang chứng kiến những chuyển biến lớn mang tính bước ngoặt, chưa từng có kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây. Những chuyển động này mang tới cơ hội và thách thức đan xen; tác động mạnh mẽ tới tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội và các mối quan hệ quốc tế. Những quốc gia không bắt kịp tình tình, không có đối sách phù hợp, tách biệt, tự cô lập khỏi môi trường hợp tác quốc tế sẽ tụt hậu, không phát triển. Những quốc gia chủ động về chiến lược, dự báo, ứng phó và hợp tác sẽ có lợi thế và khả năng vươn lên. Sự phát triển của Việt Nam không thể tách rời sự phát triển của khu vực và thế giới. Vì vậy, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nội lực với ngoại lực là điều kiện tiên quyết để chúng ta "sánh vai với các cường quốc năm châu" trên con đường phát triển.

Trong lịch sử dân tộc, đối nội và đối ngoại luôn song hành, bổ trợ cho nhau, "đối ngoại là sự vươn xa của đối nội". Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn viết trong Binh thư yếu lược "Hoà ở trong nước thì ít phải dùng binh, hoà ở ngoài biên thì không sợ báo động". Cha ông ta đã biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với khai thác những yếu tố bên ngoài, vừa kiên cường bảo vệ nền độc lập, tự chủ, vừa mềm dẻo, hòa hiếu trong bang giao.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt cách mạng Việt Nam trong mối liên hệ với khu vực và thế giới, kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng. Bác Hồ đã dạy "sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là điều cần yếu cho một quốc gia độc lập". Nhờ đường lối đối ngoại đúng đắn, chúng ta đã tranh thủ được sự giúp đỡ quốc tế to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và phát triển đất nước.

Trong bối cảnh hiện nay, việc thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và năm 2045 với mô hình phát triển đất nước trong tình hình mới, lấy trụ cột là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số có thành công hay không, một phần lớn và rất quan trọng phụ thuộc vào việc triển khai hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đồng bộ với phát triển bên trong.

Thưa các đồng chí,

Tình hình hiện nay đặt ra cho chúng ta những yêu cầu mới về giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia - dân tộc; nâng cao năng lực ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa; tận dụng tối đa các không gian hợp tác để phát triển nhanh, bền vững; nâng cao nội lực, khả năng chống chịu, sức cạnh tranh của nền kinh tế; góp phần cùng cộng đồng quốc tế gìn giữ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, công bằng và minh bạch.

Để đáp ứng những yêu cầu đó, Nghị quyết 06-NQ/TW tập trung cụ thể hoá những quan điểm của đường lối đối ngoại Đại hội XIV với 5 luận điểm lớn mang tính định hình tư tưởng:

Thứ nhất: Lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đây là bước phát triển lớn về tư duy lãnh đạo của Đảng, theo đó, đối ngoại trở thành một phương thức quan trọng, một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đối ngoại trong kỷ nguyên mới phải ở vị trí tuyến đầu và trung tâm, góp phần nhận diện và hóa giải nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát.

Thứ hai: Trong giai đoạn mới, đối ngoại không chỉ là công cụ để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế, là cách thức để lan toả giá trị văn minh Việt Nam, tạo sự tôn trọng, tin cậy và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng quốc tế.

Thứ ba: Đối ngoại phải dựa trên tinh thần "tự chủ chiến lược" và "tự cường". Tự chủ chiến lược thể hiện năng lực làm chủ vận mệnh quốc gia, định vị đúng vị thế, lựa chọn đúng hướng đi và chủ động ứng phó linh hoạt; tự cường là phát huy nội lực, tự tin dân tộc để làm cho quốc gia mạnh lên.

Thứ tư: Đối ngoại vươn lên đảm nhận một sứ mệnh mới, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; lấy hoà bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Tham gia sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.

Thứ năm: Đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trên nền tảng phối hợp, bổ sung cho nhau của 3 trụ cột: Đối ngoại đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân; sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại; giữa ngoại giao Nghị viện với ngoại giao Nhà nước, với đối ngoại nhân dân; giữa các ban, bộ, ngành Trung ương; với sự tham gia sâu rộng của các địa phương, doanh nghiệp và người dân; sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các công cụ chính trị, kinh tế, công nghệ, văn hoá... để bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; phát huy cao nhất, tối ưu nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước.

11/06/2026

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trên không gian mạng

Văn kiện Đại hội XIV đề ra yêu cầu: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Hiện nay, không gian mạng được coi là môi trường tác chiến thứ năm. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trên không gian mạng là một nhiệm vụ cấp bách bảo đảm chủ quyền quốc gia trong tình hình mới. Theo Trung tướng Lê Văn Hải, Phó Chính ủy Học viện Quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trên không gian mạng là chiến lược chủ động ngăn chặn các nguy cơ, tấn công mạng và thông tin độc hại từ khi mới manh nha, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên internet. Đây là nhiệm vụ cấp bách, sử dụng tư duy chủ động tổng hợp, kết hợp kỹ thuật công nghệ cao với đấu tranh tư tưởng nhằm giữ vững an ninh mạng và an ninh quốc gia.

Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới là vấn đề cấp thiết, có tầm quan trọng đặc biệt. Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, quyết sách về bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và các bộ luật như: Luật An ninh mạng, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử; Luật Viễn thông... Đó là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động trên không gian mạng, cho bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Là một trong những đơn vị chủ lực của quân đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh 86 đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai có hiệu quả các giải pháp xây dựng, phát triển không gian mạng an toàn, lành mạnh, rộng khắp. Thường xuyên làm tốt công tác quản lý, kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin, kịp thời phát hiện, vô hiệu hóa mã độc, phần mềm gián điệp trên mạng truyền số liệu quân sự, ngăn chặn việc lộ, lọt thông tin quân sự trên internet; tích cực, chủ động củng cố hệ thống mạng máy tính toàn quân theo mô hình mạng an toàn; giám sát thường xuyên và kịp thời ứng cứu, khắc phục các sự cố, bảo đảm hoạt động thông suốt cho mạng máy tính quân sự.

Những năm qua, Bộ Tư lệnh 86 đã phát triển, trở thành một lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. “Vũ khí” của những người lính trên mặt trận không tiếng súng này là trí tuệ, là các hệ thống phần mềm giám sát, các thuật toán phòng thủ và phản công mạnh mẽ. Họ không chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho các hệ thống thông tin trọng yếu của Đảng, Chính phủ và quân đội, mà còn chủ động trinh sát, phát hiện sớm các lỗ hổng bảo mật và các hoạt động tấn công từ các nhóm tin tặc quốc tế.

Tuy vậy, cũng theo Trung tướng Lê Văn Hải, dù công nghệ có hiện đại đến đâu, sức mạnh cốt lõi của quốc phòng Việt Nam vẫn luôn ở việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng. Đây là một bước phát triển sáng tạo trong tư duy quân sự của Đảng ta. Trong môi trường mạng có rất nhiều thông tin thật giả lẫn lộn, mỗi người dân chính là một “cảm biến”, một “chiến sĩ” trên mặt trận tư tưởng.

Xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng chính là việc xây dựng niềm tin, bản lĩnh chính trị và “sức đề kháng” của quần chúng nhân dân. Khi mỗi công dân đều có đủ tri thức để nhận diện tin giả, chủ động phản bác các luận điệu sai trái và đủ trách nhiệm để lan tỏa những giá trị tốt đẹp, chúng ta sẽ có một bức tường lửa không thể xuyên thủng. Thế trận này được hình thành từ việc nâng cao nhận thức pháp luật và kỹ năng sử dụng mạng an toàn cho mọi tầng lớp nhân dân.

Xây dựng sức mạnh tổng hợp, đó là sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng chuyên trách như Bộ Tư lệnh 86, Cục An ninh mạng với toàn dân thông qua các chiến dịch truyền thông chính thống. Mỗi người dân cần cùng các cán bộ, đảng viên tích cực “lấy cái đẹp dẹp cái xấu” để dòng chủ lưu của không gian mạng luôn tràn đầy niềm tin, niềm tự hào dân tộc và ý chí khát vọng vươn lên.

ND

11/06/2026

THI ĐUA LÀ YÊU NƯỚC, YÊU NƯỚC THÌ PHẢI THI ĐUA THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Với tinh thần "Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dựa vào dân để gây hạnh phúc cho dân. Người luôn coi trọng việc tổ chức, động viên phong trào thi đua yêu nước trong toàn dân. Người coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của mọi thời kỳ cách mạng, bởi đó chính là nền tảng, động lực của sự phát triển, là nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc.

Ngày 11-6-1948, Người ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước nhằm động viên tinh thần và lực lượng của toàn dân tộc cho công cuộc “kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc mau thành công”. Từ đó, dưới sự lãnh đạo của Người, phong trào thi đua yêu nước của nhân dân ta phát triển nhanh chóng, sâu rộng trên khắp mọi miền Tổ quốc, như hoa nở mùa xuân.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, chúng tôi thấy nổi lên 3 vấn đề cơ bản, quan trọng sau đây:

Một là, thi đua yêu nước phải lấy tinh thần yêu nước làm gốc. Ngay từ khi phát động thi đua ái quốc, để đáp ứng tình hình kháng chiến kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu mục đích của thi đua lúc này là để diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm, tức là làm cho dân no ấm, biết chữ, làm cho Tổ quốc độc lập, tự do. Muốn đạt mục đích ấy thì bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh, bất kỳ làm việc gì, không phân biệt già, trẻ, trai, gái, giàu, nghèo, lớn, nhỏ, tùy theo điều kiện, khả năng, ai cũng đều cần phải thi đua, ai cũng đều phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa.

Đánh giá về sự phát triển sâu rộng và ý nghĩa to lớn của phong trào thi đua yêu nước, tháng 3-1964, báo cáo tại Hội nghị chính trị đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Phong trào thi đua yêu nước đang động viên nhân dân ta phát huy nhiệt tình cách mạng và sức lao động sáng tạo, xây dựng hàng nghìn tổ và đội lao động xã hội chủ nghĩa, lập những thành tích xuất sắc trong mọi ngành... Những thành quả mà phong trào thi đua yêu nước đem lại đã đưa đất nước ta tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử dân tộc, làm cho “đất nước, xã hội, con người đều đổi mới”.

Hai là, công việc hằng ngày chính là nền tảng của thi đua. Thi đua không phải là cái gì cao xa, khó hiểu, khó làm, mà trong mọi việc đều có thi đua, từ những việc rất nhỏ, rất quen thuộc hằng ngày như ăn mặc cho hợp thời, hợp cách, ở cho sạch, cho hợp vệ sinh, thi đua trong lao động, tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, thi đua trong học tập, trong rèn luyện và chiến đấu, trong phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động... và như thế công việc hằng ngày chính là nền tảng của thi đua, dựa vào đó mà phát động mọi phong trào. Việc đặt ra mục tiêu của thi đua phải gắn liền với nhiệm vụ hằng ngày, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị cho từng thời kỳ, từng giai đoạn của cách mạng để hướng quần chúng vào đó mà thi đua phấn đấu.

Cách làm là, lấy những đơn vị nhỏ làm đơn vị thi đua. Mỗi người, mỗi nhà, mỗi lớp học, mỗi bộ phận nhà máy, mỗi địa phương đều có thể thi đua. Các cấp quản lý cần tổ chức cho người này thi đua với người khác, bộ phận này thi đua với bộ phận khác, địa phương này thi đua với địa phương khác. Tùy theo hoàn cảnh, điều kiện, khả năng của mỗi nơi mà đặt ra kế hoạch cho phù hợp, sát thực. Kế hoạch phải đầy đủ, cụ thể, đúng mức, tránh phô trương, hình thức. Không nên đặt ra kế hoạch quá to, nêu mục tiêu quá lớn, thiếu thiết thực theo kiểu “đầu voi, đuôi chuột”, theo kiểu “đánh trống bỏ dùi”, có phát mà không động, gây nên sự tốn kém thời gian, công sức, tiền bạc của dân, của nước. Khi đã có kế hoạch rồi thì phải đem ra bàn bạc một cách dân chủ, kỹ lưỡng, theo phương châm kế hoạch 1, biện pháp 10, quyết tâm phải 20, để cùng nhau tìm ra biện pháp thực hiện. Có như vậy mới làm cho “mọi người đều hiểu, mọi người đều vui lòng nhận và quyết tâm làm cho kỳ được”, “kết quả mới đầy đủ, tốt đẹp”. Và, trong thi đua cũng giống như những việc khác, “cần phải có cán bộ được huấn luyện hẳn hoi”, bởi đó chính là cái gốc của mọi công việc, của mọi phong trào. Cùng với việc giỏi chuyên môn, những cán bộ ấy phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải biết gần gũi và biết lắng nghe ý kiến của dân, phải trở thành những người gương mẫu, những chuyên gia giỏi để vừa theo dõi, tổ chức, vừa hướng dẫn, giúp đỡ, sửa đổi, uốn nắn phong trào phát triển đúng hướng, nhằm tạo nên khí thế thi đua sôi nổi, liên tục và lâu dài.

Ba là, thi đua phải luôn gắn liền với việc tổng kết, đánh giá và khen thưởng kịp thời. Thi đua là quá trình tổ chức, động viên mỗi người, mỗi cơ quan, đơn vị nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi những mục tiêu thi đua đã đặt ra. Trong quá trình ấy, nhiều khó khăn, thuận lợi, cả những mặt tốt lẫn xấu đều nảy sinh, phát triển. Có thường xuyên tổng kết, đánh giá thì mới có thể biết được những mặt tốt, mặt xấu và kết quả của phong trào. Từ đó mới rút ra được những bài học kinh nghiệm vì sao thành công hay thất bại, trong từng khâu công tác hay trong cả quá trình tổ chức thực hiện của mỗi phong trào thi đua. Vì vậy, trong quá trình thi đua, rất cần được thường xuyên tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm kịp thời. Đây chính là điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và thường xuyên nhắc nhở các ngành, các cấp, các địa phương: Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi.

Trong thi đua, có nhiều người không quản ngại khó khăn, gian khổ, luôn cố gắng học hỏi, tìm tòi, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Vì vậy, cần khen thưởng kịp thời, chính xác. Đây chính là sự ghi nhận công lao đóng góp của mỗi cá nhân, tập thể đối với phong trào và sự nghiệp chung. Việc làm này có ý nghĩa sâu sắc trong việc động viên, cổ vũ các cá nhân, tập thể tiêu biểu ấy cố gắng thi đua nhiều hơn nữa, hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng, hiệu quả cao hơn nữa. Thông qua đó, những sáng kiến, kinh nghiệm được phổ biến, áp dụng, những gương điển hình tiên tiến được nhân rộng trong phong trào quần chúng, để xây dựng cùng tôn vinh, học tập, làm theo nhằm tạo nên khí thế sôi nổi, phấn khởi trong thi đua, đưa thi đua tiến lên ở mức độ cao hơn. Qua đó rút kinh nghiệm, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, thiếu sót để phong trào phát triển đúng hướng, thiết thực và hiệu quả.

Trong kho cơ sở của Bảo tàng Hồ Chí Minh đang có một hiện vật đặc biệt. Đó là chiếc quạt giấy vốn là quà tặng của thanh niên làng Canh Hoạch, Hà Đông gửi tặng Bác Hồ năm 1946 nhân dịp kỷ niệm 56 năm Ngày sinh của Người. Chiếc quạt có kích thước khá đặc biệt, không nhỏ gọn như những chiếc quạt bình thường. Quạt dài 0,76m, có 18 nan xương, 2 xương ngoài được làm bằng chất liệu sừng và 16 xương còn lại được làm bằng tre. Trên hai mặt của quạt, các nghệ nhân châm kim làng Canh Hoạch đã châm trên đó những nét hoa văn và những bài thơ.

Ngày 20-8-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 207/SL cử ông Hoàng Đạo Thúy vào Ban vận động Thi đua ái quốc Trung ương. Trong buổi gặp gỡ để giao nhiệm vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng chiếc quạt giấy-món quà sinh nhật của thanh niên làng Canh Hoạch gửi tặng-cho ông Hoàng Đạo Thúy với lời căn dặn: “Chú dùng cái quạt này để quạt cho phong trào lớn mạnh lên”.

Không phụ lòng Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Hoàng Đạo Thúy đã cùng các thành viên Ban vận động Thi đua ái quốc các cấp tận tâm, tận lực làm việc. Phong trào thi đua ái quốc đã được toàn dân hưởng ứng, trở thành phong trào sâu rộng trên cả nước. Và cũng từ đó, chiếc quạt trở thành kỷ vật vô giá đối với ông Hoàng Đạo Thúy và gia đình. Hưởng ứng lời kêu gọi hiến tặng hiện vật của Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngày 27-9-1978, ông Hoàng Đạo Thúy đã tặng Bảo tàng hiện vật đặc biệt này./.

Báo QĐND

11/06/2026

Address

Tân Hoà
Phu Tho

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đảng bộ phường Tân Hòa đổi mới và phát triển posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share