Làng Hành Thiện

Làng Hành Thiện Ban Truyền thông làng Hành Thiện (xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, nay thuộc xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình)

我邑本是文獻之鄉
繼出科名, 別成文會
"Ngã ấp bản thị, văn hiến chi hương
Kế xuất khoa danh, biệt thành văn hội"
Đại ý: Ấp tôi lấy văn hiến làm gốc, các đời nối nhau ghi danh khoa bảng, nay chép riêng thành một hội.

Kính mời nhân dân xóm 3 và gốc xóm 3 về dự Lễ khánh thành đường xóm 3 vào 18h ngày 24/5/2026 (tức ngày 08 tháng 4 năm Bí...
20/05/2026

Kính mời nhân dân xóm 3 và gốc xóm 3 về dự Lễ khánh thành đường xóm 3 vào 18h ngày 24/5/2026 (tức ngày 08 tháng 4 năm Bính Ngọ) tại đầu xóm lối trước xóm 3 làng Hành Thiện.

Chiều 05/8/2020 (6 năm trước), tại Hà Nội, Viện Bảo tồn di tích, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức khai mạc triển ...
19/05/2026

Chiều 05/8/2020 (6 năm trước), tại Hà Nội, Viện Bảo tồn di tích, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức khai mạc triển lãm "Kiến trúc làng Việt truyền thống", giới thiệu về 6 ngôi làng Việt cổ trải dài từ làng Thổ Hà ven sông Cầu ở tỉnh Bắc Giang, làng Cự Đà ven sông Nhuệ của Thủ đô Hà Nội, làng Nôm ở tỉnh Hưng Yên, làng Hành Thiên nơi ngã ba sông Hồng - sông Ninh Cơ ở tỉnh Nam Định, làng Phước Tích bên dòng Ô Lâu thơ mộng và làng An Chuyện bên đầm Chuồn ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây đều là những ngôi làng Việt tiêu biểu đã được Viện Bảo tồn di tích tiến hành khảo cứu, điều tra liên tục trong nhiều năm, với các thông tin về lịch sử, văn hóa, về quỹ di sản kiến trúc hiện còn cùng các bản vẽ chi tiết các công trình kiến trúc cổ, tiêu biểu và ảnh chụp chất lượng cao, sinh động.

Khi xem triển lãm, độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự ra đời của các ngôi làng cổ của Việt Nam thông qua các bản vẽ chi tiết, dữ liệu điều tra về kiến trúc của các ngôi làng…

Kiến trúc sư Hoàng Đạo Cương, Viện trưởng Viện Bảo tồn di tích cho biết: Ở Việt Nam hiện có 4 làng cổ được công nhận là di tích Quốc gia: Phước Tích (Thừa Thiên-Huế); Đường Lâm (Hà Nội); Lộc Yên (Quảng Nam); Đông Hòa Hiệp (Cái Bè-Tiền Giang). Các ngôi làng đều chứa đựng những giá trị về lịch sử, văn hóa và kiến trúc. Trong bối cảnh phát triển như hiện nay, việc nghiên cứu về các ngôi làng cổ nhằm kế thừa, phát huy và giữ gìn nét đẹp truyền thống của thế hệ trước là rất cần thiết. Đi sâu vào tìm hiểu về các ngôi làng cổ của Việt Nam, chúng tôi thấy ông cha ta đã sắp xếp các ngôi làng rất khoa học, từ đường đi, không gian sống hòa quyện với nhau. Các ngôi làng giới thiệu tại triển lãm đều gắn liền với các con sông, tạo môi trường thân thiện giữa con người với thiên nhiên.

Cùng với đợt trưng bày triển lãm này, ấn phẩm "Kiến trúc làng cổ Việt Nam qua tư liệu Viện Bảo tồn di tích" - tập 1, viết về 6 ngôi làng tiêu biểu trên cũng được giới thiệu tới các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đông đảo bạn đọc yêu di sản, yêu làng Việt truyền thống. Những ngôi làng cổ được giới thiệu trong cuốn sách này không chỉ là chủ nhân của những di sản kiến trúc, thậm chí những di tích độc hiếm cần được giữ lại mà chúng còn là những thiết chế cộng cư chuyển động trong dòng chảy của thời đại, của hiện đại hóa.

Gốc gạo già và miền ký ức chùa làng Hành ThiệnỞ nhiều làng quê Bắc Bộ, hình ảnh cây gạo, cây đa bên mái chùa đã trở nên ...
18/05/2026

Gốc gạo già và miền ký ức chùa làng Hành Thiện

Ở nhiều làng quê Bắc Bộ, hình ảnh cây gạo, cây đa bên mái chùa đã trở nên quen thuộc như một phần ký ức chung của bao thế hệ. Ở ngôi chùa làng Hành Thiện quê tôi cũng vậy. Ngay bên sân chùa, những gốc gạo, gốc đa cổ thụ đứng trầm mặc, rễ bám sâu vào lòng đất, tán vươn rộng qua năm tháng, lặng lẽ đứng đó, như những chứng nhân của thời gian, của lịch sử. Không ai còn nhớ rõ những cây đa cây gạo có từ bao giờ, chỉ biết rằng từ khi ông bà còn trẻ, những thân cây xù xì ấy đã hiện diện, bám rễ sâu vào đất làng, mỗi độ tháng Ba lại bừng lên sắc đỏ, như thắp lửa giữa khoảng trời quê.

Hoa gạo không nở ồn ào. Chúng đến đúng mùa, rực rỡ và dứt khoát, như một lời nhắc nhở về nhịp điệu bền bỉ của tự nhiên. Những cánh hoa dày, đỏ au rơi xuống, nằm lặng lẽ bên những lối đi rêu phong, tạo nên một vẻ đẹp vừa mộc mạc, vừa gợi nhiều hoài niệm. Trẻ con trong làng từng nhặt hoa gạo chơi đùa, người lớn đi qua thì chậm lại đôi chút, như để ngắm nhìn và nhớ về những mùa cũ. Qua bao mùa mưa nắng, cành cây vẫn vươn lên, không vội vã mà cũng không ngừng nghỉ, hướng về phía ánh sáng. Và đàn chim vẫn ríu rít trên những tán lá xanh tươi

Người làng xưa vẫn kể với nhau rằng, những gốc gạo, gốc đa nơi cửa chùa là chốn trú ngụ của những linh hồn. Họ trở về đây, lắng nghe tiếng kinh, tiếng chuông, để tìm một con đường nhẹ nhõm hơn sau những nhọc nhằn dương thế. Chẳng ai có thể xác quyết điều ấy là thật hay chỉ là một niềm tin truyền đời, nhưng giữa không gian tĩnh tại của chùa làng, niềm tin ấy dường như trở nên rất tự nhiên, rất gần gũi.

Mỗi lần đi ngang qua, người ta thường vô thức ngước nhìn lên tán cây. Khoảng xanh mát ấy không chỉ là bóng râm, mà còn là nơi gợi mở những suy tưởng sâu xa hơn về đời người. Ở đó, dường như có những kiếp sống đã đi qua bao thăng trầm, nay lặng im an trú, hướng về một miền sáng. Trong khoảnh khắc ấy, con người trở nên trầm tĩnh hơn, như thể đang đứng chung trong một dòng chảy vô hình của ký ức.

Những gốc cây cổ thụ ấy đã cùng bao thế hệ lớn lên. Chúng chứng kiến những đứa trẻ chạy chơi dưới sân chùa, những người trưởng thành rời làng đi xa, và cả những lần trở về lặng lẽ. Để rồi, trong mỗi lần trở lại, vẫn là một cái ngước nhìn quen thuộc, vẫn là những mơ hồ về hỉ nộ ái ố của một đời người.

Có khi, người ta tự hỏi: biết đâu ở một kiếp nào đó, chính mình cũng từng là một phần của không gian này — một linh hồn lặng lẽ giữa tán cây, lắng nghe tiếng chuông chiều ngân vang, chờ một tia sáng dẫn đường.

Không ai biết trên những tán cây kia đang chất chứa bao nhiêu ký ức, bao nhiêu tâm sự của những đời người đã qua. Chỉ thấy rằng, bất chấp thời gian, chúng vẫn vươn lên phía mặt trời, vẫn nở hoa rực rỡ mỗi mùa.

Trong nhịp sống nhiều biến động hôm nay, những gốc gạo, gốc đa nơi chùa làng vẫn ở đó, như một điểm tựa thầm lặng. Không phô trương, không cất lời, nhưng đủ để những người đi xa, trong một khoảnh khắc nào đó, chợt muốn quay về — tìm lại một nơi neo đậu bình yên cho tâm hồn mình.

CẦU THĂNG LONG (HÀ NỘI) DO CỤ TRƯỜNG CHINH ĐẶT TÊNCầu Thăng Long là công trình kiến trúc giao thông hiện đại kết nối thủ...
15/05/2026

CẦU THĂNG LONG (HÀ NỘI) DO CỤ TRƯỜNG CHINH ĐẶT TÊN

Cầu Thăng Long là công trình kiến trúc giao thông hiện đại kết nối thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và là biểu tượng của sự phát triển bền vững và hành trình lịch sử trên dòng sông Hồng. Trải qua nhiều thập kỷ, cầu Thăng Long đã trở thành chứng nhân cho nhiều sự kiện trọng đại, góp phần thúc đẩy giao thương, kinh tế và văn hóa giữa các vùng miền. Được xây dựng với sự hợp tác Việt Nam – Liên Xô, cầu Thăng Long không chỉ là biểu tượng của tình hữu nghị bền chặt mà còn minh chứng cho ý chí phát triển, tinh thần đoàn kết và tầm nhìn chiến lược của đất nước. Đây là niềm tự hào của Thủ đô, là điểm tựa vững chắc cho sự phát triển bền vững trên dòng sông Hồng lịch sử.

Nhưng lịch sử cây cầu Thăng Long, ai đặt tên, đặt tên khi nào, thì có lẽ ít người biết. Theo chia sẻ của ông Nguyễn Văn Ất, cựu Phiên dịch Trưởng đoàn Chuyên gia Liên Xô cầu Thăng Long, câu chuyện về việc đặt tên cầu như sau:

Trong suốt quá trình từ ý tưởng đến khi xây dựng, cây cầu không phải đã mang tên “Thăng Long” ngay mà nó đã từng có các tên gọi sau:

- Ở thuở khởi đầu: ngày 16/11/1971 Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua phương án xây dựng cầu qua sông Hồng tại khu vực Chèm. Lúc ấy tên gọi của nó được ghi trong văn bản là “CẦU CHÈM”. Và cái tên này được dân dã gọi trong thời gian khá lâu. Thậm chí đến bây giờ nhiều người lớn tuổi vẫn quen miệng gọi hoặc nói kiểu: “đi lối qua cầu Chèm”… Ấy là cái “tên khai sinh” của cây cầu!

- Sau khi đã thông qua phương án xây dựng “cầu Chèm”, Việt Nam đặt vấn đề với Trung Quốc viện trợ để xây dựng cây cầu này, tháng 10/1972. Khi ấy phía Việt Nam đồng ý với tên gọi do Trung Quốc đề nghị để ghi trong Hợp đồng và các bản vẽ là “HỒNG HÀ ĐẠI KIỀU” (cầu lớn sông Hồng Hà).

Với tên gọi “Hồng Hà đại kiều” tương tự như tên “Vũ Hán Trường Giang đại kiều” (Cầu lớn sông Trường Giang ở Vũ Hán) là cây cầu của Trung Quốc bắc qua sông Trường Giang ở thành phố Vũ Hán, (nơi khởi đầu bùng phát đại dịch Covid cách đây ít năm).
Cái tên “Hồng Hà đại kiều” thực tế tồn tại không lâu. Tuy nhiên trong suốt cả quá trình Trung Quốc viện trợ (1974-1978) thì tên gọi này luôn hiện hữu trong các bản vẽ, tài liệu do Trung Quốc soạn.

- Ngày 03/3/1973 một “hội nghị tối cao” để thống nhất xây dựng cây cầu này tổ chức tại Phòng họp số 4 Nguyễn Cảnh Chân, Ba Đình, Hà Nội. Hội nghị có mặt đầy đủ các vị lãnh đạo cao nhất của Việt Nam khi ấy: Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cùng các lãnh đạo cấp cao khác.

Cuộc họp này thảo luận nhiều vấn đề để xây dựng cây cầu. Về tên gọi cho cây cầu tương lai, tại cuộc họp này Chủ tịch Trường Chinh đề nghị tên gọi cho cây cầu là “CẦU THĂNG LONG”.
Và cây cầu này chính thức mang tên gọi như thế cho đến bây giờ.
Lịch sử tên gọi cây cầu Thăng Long là như thế…

Ảnh: Tác giả tháp tùng phiên dịch cho Chủ tịch Trường Chinh trong những lần ông lên thăm công trình cầu Thăng Long ở thời kỳ Liên Xô giúp đỡ xây dựng.

Dòng chảy của truyền thống trong thế giới đương thời.Vừa rồi, trong lễ hội Trà Lũ Xuân Bắc cũ, các bạn trẻ đã đem phong ...
10/05/2026

Dòng chảy của truyền thống trong thế giới đương thời.

Vừa rồi, trong lễ hội Trà Lũ Xuân Bắc cũ, các bạn trẻ đã đem phong trào bộ hành với cổ phục, về với quê hương.
Thiết nghĩ, trong một bối cảnh truyền thống từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, làng Hành Thiện xứng đáng là điểm đến của những người yêu truyền thống, yêu những nét đẹp của cha ông...

Chương trình "Con đường di sản" mà nổi bật với Diễu hành Việt phục tại lễ hội làng Xuân Bắc (Trà Lũ Bắc) - xã Xuân Hưng - tỉnh Ninh Bình (trước thuộc xã Xuân Bắc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) đem đến một không khí của một phong trào đương đại cho lễ hội truyền thống.

Ảnh gốc của Mai Trung Nghĩa, ghép bối cảnh làng Hành Thiện bằng Gemini)

MỜI VIẾT BÀI ĐÓNG GÓP Ý KIẾN CẢI TẠO ĐƯỜNG LÀNG HÀNH THIỆN Làng Hành Thiện (Nam Định cũ) là một ngôi làng cổ có lịch sử ...
08/05/2026

MỜI VIẾT BÀI ĐÓNG GÓP Ý KIẾN CẢI TẠO ĐƯỜNG LÀNG HÀNH THIỆN

Làng Hành Thiện (Nam Định cũ) là một ngôi làng cổ có lịch sử hình thành lâu đời, được di cư về vị trí hiện nay từ thời Hậu Lê (thế kỷ 17), với cấu trúc không gian cơ bản vẫn được bảo tồn tương đối nguyên vẹn cho đến ngày nay. Hệ thống đường làng truyền thống gồm hai trục chính: đường lối trước và đường lối sau, bố trí đan xen giữa khu dân cư và hệ thống sông nước, đảm nhiệm đồng thời chức năng giao thông đường bộ, đường thủy và phục vụ các hoạt động sinh hoạt, tín ngưỡng của cộng đồng.

Hiện nay, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và sinh hoạt của người dân, đồng thời bảo tồn cấu trúc làng truyền thống, tại khu vực phía bên kia sông đã hình thành các tuyến đường vành đai (từ chợ Hành Thiện lên chùa phía làng Ngọc Tiên và từ chợ Hành Thiện lên chùa Keo phía làng Thượng Phúc – Xuân Thượng trước đây), kết nối với hệ thống đường làng cổ thông qua các cây cầu cũ mới.

Trong tiến trình lịch sử, tuyến đường lối trước không chỉ giữ vai trò giao thông mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người dân địa phương. Đây là tuyến đường chính phục vụ các nghi lễ truyền thống như rước kiệu, tang lễ, hiếu hỷ… đồng thời là trục kết nối các thiết chế văn hóa quan trọng của làng: từ chợ làng (đời sống sinh hoạt), miếu Tam Giáp (tín ngưỡng), qua hệ thống cổng xóm (cộng đồng dân cư), đến đình làng (thiết chế quản lý) và chùa làng (đời sống tâm linh). Cấu trúc quy hoạch chặt chẽ, có trật tự này được các nhà nghiên cứu gọi là mô hình “thị tứ làng xã”, thể hiện tư duy tổ chức không gian đặc sắc của các thế hệ tiền nhân.

Giá trị của cấu trúc làng Hành Thiện đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu qua các thời kỳ, tiêu biểu như Pierre Gourou trong công trình "Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ", cũng như các nghiên cứu đương đại của Hoàng Đạo Kính, Phạm Hùng Cường, Đặng Đức Quang… Trong các định hướng quy hoạch phát triển du lịch của địa phương và Trung ương, làng Hành Thiện luôn được xác định là khu vực có giá trị đặc biệt cần được quan tâm bảo tồn và phát huy.

Tuyến đường lối trước, cùng với hệ thống kiến trúc, cảnh quan, cây xanh và mặt nước, đã tạo nên một tổng thể không gian đặc trưng, để lại ấn tượng sâu sắc đối với du khách. Tuyến đường này được lát gạch từ năm 1941 và đã qua nhiều lần cải tạo, trong đó lần sửa chữa quy mô lớn gần nhất vào năm 1997. Hiện nay, công trình đã có dấu hiệu xuống cấp, hư hỏng; mặc dù vẫn giữ được hình thái cơ bản nhưng gây khó khăn nhất định cho hoạt động giao thông và sinh hoạt của người dân. Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng kỹ thuật như điện chiếu sáng, đường dây tải điện, vỉa hè… cũng bộc lộ nhiều bất cập trong điều kiện hiện nay.

Xuất phát từ thực tiễn đó, địa phương đã có chủ trương cải tạo, nâng cấp tuyến đường giao thông từ chợ Hành Thiện đến khu dân cư tập trung Xuân Hồng (đường lối trước), nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Trong quá trình này, chính quyền và nhân dân địa phương luôn thể hiện sự trân trọng và ý thức gìn giữ các giá trị di sản. Tuy nhiên, việc ứng xử với di sản trong bối cảnh phát triển hiện nay, đặc biệt trong mối quan hệ giữa bảo tồn và nhu cầu thực tiễn, cũng như các quy định của pháp luật, đặt ra nhiều thách thức đối với cả cơ quan quản lý và cộng đồng dân cư.

Trên tinh thần đó, những người con quê hương Hành Thiện trân trọng kính mời các nhà nghiên cứu, chuyên gia và những người quan tâm đến di sản làng xã Hành Thiện, có thể đóng góp các bài viết phân tích, góp ý trên cơ sở khoa học, khách quan, có tính phản biện và xây dựng. Những ý kiến quý báu này sẽ là cơ sở để chính quyền và nhân dân địa phương nghiên cứu, tiếp thu, hướng tới giải pháp hài hòa giữa bảo tồn giá trị truyền thống và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Bài viết góp ý có thể gửi trực tiếp tại group Làng Hành Thiện và sẽ được đăng tải trên các trang truyền thông của làng, để rộng đường dư luận, một cách khách quan, không thiên lệch, áp đặt. Mọi ý kiến đóng góp chân thành, nghiêm túc của quý vị đều được trân trọng.

ĐƯỜNG LÁT ĐÁ PHIẾN LÀNG HÀNH THIỆN GHI CHÉP TRONG HÀNH THIỆN XÃ CHÍNăm thứ ba triều Vua Duy Tân – Kỷ Dậu (1), tháng 11, ...
07/05/2026

ĐƯỜNG LÁT ĐÁ PHIẾN LÀNG HÀNH THIỆN GHI CHÉP TRONG HÀNH THIỆN XÃ CHÍ

Năm thứ ba triều Vua Duy Tân – Kỷ Dậu (1), tháng 11, Tuần phủ tỉnh Thái Bình là Nguyễn Duy Hàn (2) cúng tiền mua đá phiến lát đường (3): phía trên bắt đầu từ đầu làng, chỗ Miếu Võ (Vũ chỉ), phía dưới đến chỗ Chợ Hành Thiện, và các đoạn đường bên xóm Phú Thọ - Nội Khu (4).

Về sau (5), đoạn đường từ đầu làng, qua Chùa trong (6), kéo dài đến đê (7) là do Quan Thượng thư bộ Công (8) là Nguyễn Xuân Phiêu khi về hưu đã bàn bạc cùng quan viên sắc mục trong làng, trích tiền nộp cheo (9) từng ba năm một của làng để giữ lại mua đá để lát. (10)

-------------------
CHÚ THÍCH:
(1). – Là năm 1909.
(2). – Nguyễn Duy Hàn, là con trai thứ hai của Cử nhân Tri huyện Nguyễn Ngọc Quỳnh, sinh năm 1856, đỗ Cử nhân khoa thi 1886, làm quan đến chức Tuần phủ Thái Bình. Ông tiến cúng rất nhiều tiền của để xây dựng các công trình tâm linh và cơ sở hạ tầng của làng. Ông còn để lại một biệt thự rất đẹp ở làng Hành Thiện, một thời được sử dụng làm Văn phòng UBND Tỉnh Nam Định, nay (cuối TK 20, đầu TK 21) đang là Trường Chính trị huyện Xuân Trường. Ông bị các nhà hoạt động trong phong trào Đông Du đánh bom chết ngày 12/4/1913, khi đương chức Tuần phủ Tỉnh Thái Bình. (Nhà Nguyễn Duy Hàn cả 5 bố con, anh, em đều đỗ Cử nhân: Bố - Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cử nhân, Tri huyện Hàm Yên, Anh - Nguyễn Duy Khiêm, Cử nhân, Án sát Thái Bình, Nguyễn Duy Hàn, Cử nhân – Tuần phủ Thái Bình, Em – Nguyễn Duy Ninh, Cử nhân, Tri huyện Phong Doanh (Ý Yên – Nam Định), Em - Nguyễn Duy Hiếu, Cử nhân, Tri huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang))
(3). – Mỗi phiến đá kích thước thông thường là: dài 70 – 80 cm, rộng 40 – 50 cm, dày 8 – 10 cm. Đường lát hai vệt đá phiến song song, cách nhau chừng 1,5 m, ở giữa đổ đất nện.
(4). – Xem trên bản đồ làng, các đoạn đường, xóm có lát đá phiến.
(5). – Chưa rõ là năm nào (!?)
(6). – Là chùa Thần Quang – Keo Hành Thiện.
(7). – Là đê Hữu Hồng, cuối làng Hành Thiện.
(8). – Nguyễn Xuân Phiêu, sinh năm 1857, từng nghiên cứu chế tạo ra thuyền ngự chạy bằng động cơ hơi nước để Vua nhà Nguyễn dùng đi trên sông Hương, chế tạo được khung cửi dệt vải gấm, vải hoa, đúc được các loại súng theo mẫu của Hoa Kỳ, Đức, đúc tiền các loại…được phong hàm Thượng thư (Bộ Trưởng) bộ Công năm 1911 và hưu trí, sống ở Hành Thiện đến năm 1936 thì mất, thọ 80 tuổi. Dân làng Hành Thiện gọi cụ là cụ Thượng Công.
(9). – Theo lệ xưa, trong làng nhà nào có con gái gả chồng thì phải nộp cho làng tiền “lan nhai” (nghĩa đen là “chặn đường”), nghĩa bóng là tiền bồi đắp đường đi đón, đưa dâu). Từ “lan nhai” âm Hán Việt dịch nôm na ra là tiền “cheo”.
(10). - Tổng chiều dài của đoạn đường lát đá phiến có lẽ phải tới hơn 2 km.

Bản dịch và bản chụp của bác Đỗ Trác (Trà Lũ)
Ảnh chụp cuốn Hành Thiện phong thổ ký (Hành Thiện xã chí), cuốn sách này đã được chương trình Số hóa Di sản làng Hành Thiện scan và đang tiến hành biên tập.

Nhân chuyện đường Làng, nhớ về hàng Nhãn đường Thổ… Nhắc tới hàng nhãn này, chắc những người sinh từ năm 1990 trở về trư...
06/05/2026

Nhân chuyện đường Làng, nhớ về hàng Nhãn đường Thổ…

Nhắc tới hàng nhãn này, chắc những người sinh từ năm 1990 trở về trước mới nhớ rõ. Đó là hàng chục cây nhãn cổ thụ, thân vỏ xù xì, hiếm khi có quả, trải từ Xóm 1 lên đến Chùa…

Một bên là Điền Lạch, một bên là Dược Mạ xanh rì những lúa. Ở giữa là con đường – nơi hàng nhãn ngả ra sông, nơi ông bà ta vẫn thủng thẳng vác cuốc, cắp thúng đi bộ, cha mẹ ta vẫn lóc cóc chiếc xe đạp ra gò… Khung cảnh ấy, những hình dáng ấy đã in vào tâm khảm, trở thành máu thịt của những người dân Hành Thiện, chẳng bao giờ quên được…

Tôi vẫn nhớ những ngày hạ trải – đứa trẻ nào cũng “chặt trộm’’ cho mình một cây điền thanh thật lớn, nhưng đoạn đẩy trải từ Chùa tới Xóm 1 gần như không cần dùng đến, vì chúng tôi thường nắm những cành nhãn ngả ra giữa sông để chạy từ đầu tới cuối thuyền, cứ như vậy trải băng băng đi tới…

Tôi cũng nhớ những lần anh em ngồi chờ xuất phát buổi chèo dưới nắng tháng 9. Bố đang ở dưới thuyền, mẹ cầm ô che nắng, phe phẩy quạt, còn ta một tay cầm khẩu súng bắn nước vừa mua trên Chùa, một tay cầm que kem phủ những sợi dừa… dưới bóng nhãn, sao mà nó thơm mát đến vậy…

Tôi cũng nhớ biết bao “những trưa tháng 6’’ cùng đám bạn rủ nhau cầm chiếc cần trúc, lọ giun… đi dọc bờ sông này, ngồi dưới hàng nhãn này câu cá, ngâm tôm… tới khi câu mãi chả được con nào thì cùng trèo lên mấy cây nhãn ngả rạp để ‘’bông nhông’’ xuống sông cho mát, rồi đợi cho khô đầu tóc, quần áo mới dám về nhà…

Khi ấy hai bờ sông còn là đất, cỏ mọc lan xuống mép nước, cắm cây tre têu cũng dễ hơn bây giờ…

Sau đó thì hàng nhãn cỗi dần, có cây héo, có cây sắp đổ… thế rồi sông được kè đá, cây cũng thay như bây giờ…

Nhưng nếu, chỉ nếu thôi nhé… Nếu bây giờ thời gian có quay ngược để ta làm lại, thì ta có chặt hết hàng nhãn đó đi không, hay ta chọn giữ lại những cây còn khỏe, trồng mới những cây đã cỗi. Để hàng nhãn hàng chục, hàng trăm năm nữa vẫn là hàng nhãn – loại cây gắn bao đời trong vườn nhà chúng ta, chứ không phải đổi thành hàng dừa, hàng cau. Như người dân làng ta, thế hệ này qua đi có thế hệ sau nối tiếp, để làng Hành Thiện vẫn là làng Hành Thiện.

Nếu được làm lại, liệu ta có làm kè đá thẳng băng hai bờ sông không, hay ta chọn chừa ra những gốc nhãn và để chúng vẫn vươn ra giữa lòng sông - dù lũ trẻ bây giờ chắc gì đã muốn và còn bông nhông như chúng tôi thủa trước…

Ta chẳng thể thay đối những gì đã xảy ra, nhưng cần nhìn vào đó để ứng xử với những thứ sắp tới. Xã hội không đứng yên, ta không thể giữ lại tất cả - nhưng những di sản đẹp – và nhất là sự đẹp đẽ đó không ảnh hưởng, không cản trở tương lai thì tại sao ta phải đổi?

Mỗi khi về nhà, tôi vẫn đi lên chùa, qua cống, ra gò, đi trên con đường gạch… và thơ thẩn nghĩ về những gì ta đã trải qua. Chỗ này ngày xưa mình bị ngã xe tý gãy chân, cái dốc cống này bố bao lần mướt mồ hôi đẩy xe phân, gốc gạo này mỗi lần bẻ ngô hai bố con đi qua sẽ dừng lại để đổi kem, cánh gò kia, mảnh ruộng kia là nơi ông nội, ông ngoại ta từng cuốc đất trồng khoai, con đường này là nơi bà cắp chiếc rổ đi chợ về với cái bánh rán gấc, bánh đa đường cho cháu… rồi vòng vào Tiền Sơn ngồi cạnh các cụ, thắp nén hương trầm giữa cơn gió heo may mà thì thầm “Cháu chào các cụ, chào ông bà, các bác, các cô… cháu mới về ạ…’’…

(Bài viết của Nguyễn Cường)

NHỚ QUÊ HƯƠNG Mỗi người chúng ta, dù đi đâu, làm gì, trong tim vẫn luôn có một miền để nhớ, một nơi để trở về. Với tôi –...
04/05/2026

NHỚ QUÊ HƯƠNG

Mỗi người chúng ta, dù đi đâu, làm gì, trong tim vẫn luôn có một miền để nhớ, một nơi để trở về. Với tôi – và chắc hẳn với nhiều người nữa, đó chính là Hành Thiện, mảnh đất nhỏ nhưng mang một tầm vóc lớn lao.

Hành Thiện không chỉ là một làng quê. Hành Thiện là dáng cong mềm như nét bút, là dòng sông Ninh Cơ lặng lẽ chảy qua bao thế hệ, là tiếng chuông sớm ngân dài gọi thức những ước mơ.

Từ những mái nhà ngói cũ, từ những con đường gạch đỏ bình dị, biết bao con người đã lớn lên, đã mang theo hành trang là tri thức, là ý chí, là lòng tự trọng của người con đất học.

Chúng ta có thể xuất phát từ một làng quê nhỏ, nhưng chưa bao giờ mang trong mình một khát vọng nhỏ.

Hành Thiện dạy chúng ta rằng:
Dù hoàn cảnh có khó khăn, vẫn phải vươn lên bằng con đường học tập.
Dù đi xa đến đâu, vẫn phải giữ lấy cốt cách, giữ lấy nghĩa tình quê hương.
Có những người đã đi khắp mọi miền Tổ quốc, có những người đã góp sức mình vào những công trình lớn lao, nhưng khi nhắc đến hai tiếng “Hành Thiện”, ai cũng thấy lòng mình chùng lại – vừa tự hào, vừa xúc động.

Tự hào vì chúng ta là con của một vùng đất hiếu học.
Tự hào vì truyền thống ấy vẫn đang được tiếp nối.
Và hơn hết, tự hào vì dù đi xa đến đâu, chúng ta vẫn luôn nhớ mình từ đâu mà lớn lên.

Càng xa quê, tôi càng cảm nhận rõ hơn:
Quê hương không chỉ ở phía sau chúng ta – mà luôn ở trong chính mỗi bước đi, mỗi quyết định, mỗi thành công của chúng ta.

Xin chúc cho tất cả những người con Hành Thiện, dù ở bất cứ nơi đâu, luôn giữ vững niềm tin, ý chí và niềm tự hào ấy. Để mỗi chúng ta, khi nhìn lại, có thể nói một cách trọn vẹn rằng: "Tôi là người Hành Thiện – và tôi tự hào về điều đó.”

(Bài viết của anh Nguyễn Vũ Hùng - d**g Đông Hữu - xóm Nội Khu - Hành Thiện)

Address

Nam Định
Nam Định
03503

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Làng Hành Thiện posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share