TT Đào Tạo & Nghiên Cứu Ứng Dụng Lịch Sử Văn Hóa

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • TT Đào Tạo & Nghiên Cứu Ứng Dụng Lịch Sử Văn Hóa

TT Đào Tạo & Nghiên Cứu Ứng Dụng Lịch Sử Văn Hóa Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng các giá trị lịch sử văn hóa vào đời sống đương đại

Văn Thánh Huế (còn gọi là Văn Miếu Huế)Dưới triều nhà Nguyễn, Văn Miếu của cả triều đại và cũng là của toàn quốc được ch...
12/05/2026

Văn Thánh Huế (còn gọi là Văn Miếu Huế)
Dưới triều nhà Nguyễn, Văn Miếu của cả triều đại và cũng là của toàn quốc được chính thức xây dựng vào năm 1808 dưới triều vua Gia Long. Miếu được xây dựng uy nghi đồ sộ, nằm bên bờ sông Hương, thuộc địa phận thôn An Bình, làng An Ninh, phía Tây Kinh thành Huế. Văn Miếu Huế hay Văn Thánh Huế là cách gọi tắt của Văn Thánh Miếu được xây dựng tại Huế.

Việc xây dựng Văn Miếu được tiến hành từ ngày 17 tháng 4 đến ngày 18 tháng 9 năm 1808, vua Gia Long ra lệnh làm các đồ tự khí mới để thờ, thay thế các đồ cũ và tượng thánh hiền được thay bằng bài vị.
Suốt thời Gia Long trị vì, triều đình nhà Nguyễn chỉ mở các khoa thi hương nên không có tấm bia tiến sĩ nào được dựng ở Văn Miếu. Đến thời Minh Mạng mới mở các khoa thi hội, nên bia tiến sĩ cũng bắt đầu được dựng. Các "tiến sĩ đề danh bi" được lần lượt dựng lên ở sân Văn Miếu từ năm 1831 đến năm 1919, năm có khoa thi Hội cuối cùng dưới thời vua Khải Định.
Văn Miếu Huế đã được tu sửa, làm mới một số đồ thờ và xây dựng thêm một số công trình phụ vào các năm 1818 (thời Gia Long); 1820, 1822, 1830, 1840 (thời Minh Mạng); 1895, 1903 (thời Thành Thái). Đến năm 1947, khi quân đội Pháp tái chiếm Huế và đồn trú tại đây đã gây thiệt hại cho di tích này. Lúc đó, các bài vị thờ ở Văn Thánh được đưa về bảo quản tại chùa Thiên Mụ
(Wikipedia)

Bức ảnh của Camille Paris chụp năm 1892 là một tư liệu vô giá, mở ra một cửa sổ thời gian đưa chúng ta trở về với diện m...
02/05/2026

Bức ảnh của Camille Paris chụp năm 1892 là một tư liệu vô giá, mở ra một cửa sổ thời gian đưa chúng ta trở về với diện mạo nguyên sơ của Hồ Gươm cuối thế kỷ XIX – thời điểm mà dấu ấn của một làng quê Việt Nam vẫn còn đậm nét hơn là một không gian đô thị.
▫️ Trong ảnh, cầu Thê Húc hiện lên với vẻ thanh mảnh, thô mộc bằng gỗ, chưa có những đường cong rực rỡ và thành cầu sơn đỏ cầu kỳ như ngày nay.
▫️ Bức ảnh toát lên vẻ tĩnh lặng, yên bình. Nó cho thấy Hồ Gươm lúc bấy giờ vẫn là trung tâm sinh hoạt đời thường của người dân địa phương hơn là một thắng cảnh du lịch. Mặt nước phẳng lặng soi bóng những rặng tre, bụi chuối – những hình ảnh đặc trưng của nông thôn Bắc Bộ ngay giữa lòng Hà Nội.
▫️ Camille Paris (1856–1908) không chỉ là một nhân viên ngành bưu điện và điện báo của thực dân Pháp, mà ông còn được biết đến như một nhà khảo cổ học và nhà thám hiểm tài năng.
▫️ Ông là người có công lớn trong việc phát hiện ra di tích Thánh địa Mỹ Sơn vào năm 1898.
▫️ Khác với nhiều người Pháp đến Việt Nam thời đó với tư thế kẻ đi xâm lược, Camille Paris dành một tình yêu đặc biệt cho văn hóa và vùng đất này. Những bức ảnh ông chụp luôn mang một nhãn quan nhân văn, trân trọng những giá trị bản địa và vẻ đẹp tự nhiên.
▫️ Các tác phẩm nhiếp ảnh và nghiên cứu của ông đã cung cấp cho hậu thế cái nhìn chi tiết về cảnh quan, kiến trúc và đời sống xã hội Việt Nam thời kỳ chuyển giao lịch sử.
▫️ Để có được một Hồ Gươm "trái tim của thủ đô" như ngày nay, khu vực này đã trải qua những cuộc chỉnh trang đô thị quy mô lớn bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX:
▫️ Người Pháp bắt đầu quy hoạch lại khu vực quanh hồ. Họ lấp các vùng đầm lầy, thu hẹp diện tích hồ để xây dựng các con đường bao quanh (như đường Paul Bert, nay là phố Tràng Tiền - Hàng Khay).
▫️ Các công trình như đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, tháp Bút được giữ lại nhưng được trùng tu nhiều lần. Cầu Thê Húc từ một cây cầu gỗ đơn sơ trong ảnh của Camille Paris đã được xây dựng lại kiên cố hơn, với màu đỏ đặc trưng tượng trưng cho ánh mặt trời của phương Đông.
▫️ Các rặng tre, bụi chuối và những ngôi nhà lá lụp xụp ven hồ dần bị thay thế bằng những bãi cỏ dốc, vườn hoa, hàng cây xanh và các tòa nhà mang kiến trúc Pháp (như Tòa Thị chính, Bưu điện Bờ Hồ).
▫️ Hồ Gươm trở thành không gian công cộng biểu tượng. Những năm gần đây, việc hạ ngầm dây điện, lát lại đá vỉa hè bằng đá tự nhiên và tổ chức phố đi bộ đã giúp Hồ Gươm vừa giữ được nét cổ kính, vừa mang hơi thở của một đô thị hiện đại, văn minh.

TRÌNH ĐỘ LUYỆN SẮT, ĐÚC GANG CỦA NGƯỜI ĐÔNG SƠNNgười Đông Sơn luyện sắt? Chẳng phải văn hoá Đông Sơn là văn hoá đồ đồng ...
02/05/2026

TRÌNH ĐỘ LUYỆN SẮT, ĐÚC GANG CỦA NGƯỜI ĐÔNG SƠN
Người Đông Sơn luyện sắt? Chẳng phải văn hoá Đông Sơn là văn hoá đồ đồng sao? Tại sao đã có sắt?
Thực ra do trình độ đúc đồng của văn hoá Đông Sơn đã phát triển đỉnh cao nên phần đông tưởng nhầm rằng họ chưa biết luyện sắt. Trái lại, các nhà khảo cổ đã tìm được nhiều vũ khí, công cụ sắt, xỉ sắt ở các di chỉ Đông Sơn. Tại địa điểm Gò Chiền Vậy đã tìm được chiếc cuốc sắt có niên đại 2400 năm trước (Hà Văn Tấn, Hoàng Văn Khoáng, "Luyện kim và chế tác kim loại thời Hùng Vương").
Nổi bật là 1 chiếc rìu sắt tại mộ M.37: 1 chiếc rìu gang đúc, còn nổi rõ 2 đường chỉ đúc.
Donald B. Wagner trong tập 5 bộ sách Science and Civilization in China cho biết lò cao (blast furnace) và đúc gang đã được phát minh ở Á Đông trên 2500 năm trước (tr. 106). Theo Joseph Needham, công nghệ lò cao và quy trình đúc gang phải 2000 năm sau mới truyền tới Tây Âu, tức là vào cuối thời trung cổ. Thế giới bên ngoài Á Đông trước đó đều dùng lò dạng bloomery luyện quặng sắt. Các lò bloomery không đạt được nhiệt độ để nung chảy sắt mà chỉ khử sắt oxide thành sắt kim loại, tạo thành những cục "bloom" lẫn rất nhiều xỉ và tạp chất. Thợ rèn sau đó phải nung nóng cục bloom tiếp và dùng búa đập để loại bỏ xỉ cùng tạp chất trong 1 quá trình rất tốn kém thời gian, sức lực, nguyên liệu và đòi hỏi kỹ năng cao để có thể tạo ra thỏi sắt hữu dụng.
Theo Hà Văn Tấn và Hoàng Văn Khoáng, "gang có nhiệt độ nóng chảy khoảng 1150 độ C. Nhiệt độ đó đối với những người đã biết đúc trống đồng, có thể dễ dàng đạt được". Wagner cũng cho rằng yếu tố đã dẫn đến sự ra đời của công nghệ đúc gang này là trình độ đúc đồng đã tiến bộ cao.
Như vậy các cứ liệu khảo cổ chỉ ra rằng vào thế kỷ 5 TCN, người Đông Sơn đã sở hữu những kỹ thuật tiên tiến, đi đầu thế giới trong ngành luyện kim, đặc biệt là sắt.
Minh hoạ: cảnh người Lạc Việt nấu chảy quặng đúc gang trong 1 bộ sách của Hàn Quốc.

Ảnh chụp cửa chính Bắc thành Hà Nội, khoảng 1873, đây là bức ảnh đầu tiên về cổng thành, khi đó còn nguyên vẹn.Ta nhìn t...
02/05/2026

Ảnh chụp cửa chính Bắc thành Hà Nội, khoảng 1873, đây là bức ảnh đầu tiên về cổng thành, khi đó còn nguyên vẹn.
Ta nhìn thấy rõ cả Cột Cờ trong ảnh.
----------------------------------
Thời gian 1873-1875, nhiếp ảnh gia Émile Gsell cùng đoàn quân của Trung úy Francis Garnier ra Bắc và đã chụp lại những hình ảnh đầu tiên về thành Hà Nội cũng như cảnh vật con người miền Bắc.

Xin thú thật, bàn về “bản tính dân tộc Việt Nam” như cách gọi của bản gợi ý là điều tôi rất ngại. Ngại vì hai lẽ: một mặ...
21/04/2026

Xin thú thật, bàn về “bản tính dân tộc Việt Nam” như cách gọi của bản gợi ý là điều tôi rất ngại.
Ngại vì hai lẽ: một mặt, người ta đã bàn nhiều - thậm chí quá nhiều - về những phẩm chất “yêu nước”, “nhân ái”, “sáng tạo”, “cần cù”, “thông minh”, v.v... của người Việt mà tôi thật sự không biết bổ sung gì nữa. Mặt khác, để tìm một “bản tính dân tộc” có cơ sở lý luận và phương pháp luận vững chắc và có sức thuyết phục không chỉ đối với người Việt Nam mà cả đối với những người nước ngoài muốn tìm hiểu chúng ta, thì lại càng không dễ dàng chút nào. Cho đến nay, nói chung chúng ta chưa có cơ sở lý luận và phương pháp luận nào thật rõ ràng như thế cả.
Hầu hết những bàn luận về vấn đề này đều dựa vào những quan sát và suy nghĩ theo lối kinh nghiệm. Phương pháp kinh nghiệm cũng rất cần, nhưng không đủ để phân tích, lý giải vấn đề này. Ngay cả những thuật ngữ như “bản tính” và “dân tộc” cần được hiểu như thế nào cho đúng và tương đối thống nhất, cũng không đơn giản. Không phải không có những ý định đi xa hơn lối quan sát kinh nghiệm; đã có người đề xướng ra việc đi tìm nguồn gốc bản sắc văn hóa Việt Nam từ nền văn minh trồng trọt và trồng lúa nước để đối lập với nền văn minh chăn nuôi du mục; cũng có người muốn nhấn mạnh tới tính chất bricolage (sửa vặt) của văn hóa Việt Nam... Nhưng chỉ với những quan sát kinh nghiệm thôi, cũng có thể thấy rằng những luận điểm ấy khó lòng đứng vững.
Về phần mình, cách đây khoảng mươi lăm năm, nhân có một cuộc hội thảo về “bản sắc văn hóa Việt Nam” do Viện Văn hóa (thuộc Bộ Văn hóa và Thông tin) tổ chức, tôi đã thử mày mò đi tìm cơ sở lý luận và phương pháp luận cho vấn đề này. Cuối cùng đành phải bỏ dở, vì chưa đủ những dữ kiện cần thiết để rút ra những nhận định dù chỉ để thuyết phục bản thân mình.
Tôi đã thử chứng minh rằng văn hóa Việt Nam là một “hệ thống mở” qua hàng nghìn năm tồn tại của tộc người Việt. Nó là một hệ thống có nhiều cơ tầng có liên quan tới những “đợt” tiếp xúc với những nền văn hóa bên ngoài (cũng tương tự như tiếng Việt gồm nhiều cơ tầng khác nhau mà các nhà ngôn ngữ học đã tìm thấy). Với những cơ tầng hình thành nối tiếp nhau trong lịch sử như vậy, rõ ràng người Việt chúng ta đã tiếp nhận (như một “cái phễu” ngày càng rộng miệng) rất nhiều nguồn văn hóa khác nhau trong lịch sử (Trung Quốc, Ấn Ðộ, Chiêm Thành, Pháp, Nhật Bản, Nga, Mỹ...). Tách ra từng yếu tố một, khó có thể nói cái gì của riêng người Việt và cái gì của bên ngoài. Ðiều đó không có gì lạ. Rất nhiều tộc người khác, rõ nhất là các tộc người ở châu Âu, cũng đã trải qua những quá trình tương tự, và văn hóa của họ cũng chính là những “hệ thống mở” như của chúng ta hay còn hơn thế nữa. Nhưng vẫn có một cái gì đó làm cho văn hóa của chúng ta trở thành của chính chúng ta mà không trộn lẫn với bất cứ một thứ văn hóa nào khác. Cái gì đó, theo tôi nghĩ hồi viết tiểu luận nói trên, có lẽ là một “bộ lọc”. Những sự tiếp nhận từ bên ngoài (dù bị áp đặt hay tự nguyện) đều phải đi qua “bộ lọc” này để trở thành của chúng ta. Vấn đề đặt ra là “bộ lọc” này gồm những gì và được cấu tạo như thế nào. Có lẽ đó là điều khó giải đáp nhất, ít ra đối với tôi. Với những hiểu biết có hạn, còn lỗ mỗ của mình, tôi đã thử trả lời câu hỏi đó: “bộ lọc” này gồm có ba yếu tố là ứng xử, ngôn ngữ và tâm thức, ba yếu tố này quyện chặt với nhau đến mức không thể tách riêng từng yếu tố, nói cho đúng, “tuy ba mà một” (cũng có thể gọi là “tam vị nhất thể” (trinité) như ở một số tôn giáo, nhưng ở đây không có “ba ngôi” theo thứ bậc mà là cùng tồn tại và hòa vào nhau).
Ứng xử là những hành vi làm cho đời sống cá nhân và cộng đồng thích ứng với những điều kiện tự nhiên và xã hội, không chỉ để bảo tồn mà còn để phát triển. Ứng xử ở đây là sự thích ứng với một khu vực khí hậu đặc biệt, từ nhiệt đới đến á nhiệt đới), có những gió mùa, mưa bão, hạn hán gần như thường xuyên; là sự thích ứng với nghề làm lúa nước; là sự thích ứng với đời sống làng xã từ “đồng đẳng” đến “bất đồng đẳng”, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng bao giờ tính cộng đồng cũng là nét trội (dominante)... Ngôn ngữ ở đây là tiếng Việt với vốn từ vựng và hệ ngữ pháp riêng của nó, với những từ ngữ ngoại nhập ngày càng phong phú nhưng vẫn bám vào cấu trúc của tiếng Việt. Và tâm thức ở đây là một phong cách tư duy riêng, phản ảnh ứng xử và ngôn ngữ, đồng thời làm cho ứng xử và ngôn ngữ thấm đượm phong cách tư duy riêng ấy. Xin lấy vài ví dụ: trong tiếng Việt, có những hành vi cơ bản - hay còn có thể gọi là “những hoạt động sống” cơ bản - gắn với từ ăn và từ này thường trở thành tiếp đầu ngữ: ăn uống, ăn mặc, ăn làm, ăn chơi, ăn học, ăn nằm, v.v... Phải chăng đối với người Việt, “hoạt động sống” gắn liền với những gì mang lại kết quả có thể hưởng thụ một cách chắc chắn và cụ thể? Hoặc nhiều từ ngữ chỉ những khái niệm trừu tượng thuộc về đời sống tinh thần của con người thường bắt nguồn từ những bộ phận nằm trong phần bụng: lòng tốt, tốt bụng, gan dạ, to gan lớn mật... (mà không bắt nguồn từ “trái tim” ở một số ngôn ngữ khác, như chữ tâm trong tiếng Hán, chẳng hạn). Phải chăng điều đó có nghĩa là, đối với người Việt, cái tinh thần (le spirituel) và cái thể chất (le corporel) chỉ là một, hay ít ra, nằm trong một liên tưởng (association) mật thiết với nhau?
Tôi chỉ tẩn mẩn tự hỏi được có thế, và đến đây, đành phải dừng lại. Một phần, như đã nói, vì không có thời gian. Nhưng có lẽ chủ yếu là vì không đủ sức đi tiếp. Lần này, xin nhắc lại ở đây (rất tiếc là bản thảo tiểu luận ấy đã mất, chỉ tóm tắt một số ý còn nhớ được) để may ra có giúp được chút gì chăng cho việc tìm kiếm và lý giải về “bản tính dân tộc” mà chúng ta đang thảo luận. Lại tiếp tục cuộc hành trình...

Không biết các nhà phát triển pokemon có lấy cảm hứng từ con này không nhỉ trong cũng hao hao
11/04/2026

Không biết các nhà phát triển pokemon có lấy cảm hứng từ con này không nhỉ trong cũng hao hao

Triết lý "Đô thị vị nhân sinh" của Jan Gehl hướng tới việc tạo ra những thành phố sống động, bền vững và khỏe mạnh, dựa ...
11/04/2026

Triết lý "Đô thị vị nhân sinh" của Jan Gehl hướng tới việc tạo ra những thành phố sống động, bền vững và khỏe mạnh, dựa trên nguyên tắc "Bắt đầu từ con người và theo tỷ lệ con người".
Theo đó, đô thị cần được "tổ chức ở tầm mắt", phù hợp với tốc độ đi bộ (khoảng 5 km/h), thay vì từ góc nhìn trên cao. Điều này giúp kiểm tra xem không gian có thực sự thân thiện, vừa phải và không gây cảm giác bị áp đảo bởi quy mô công trình hay hạ tầng giao thông.
Đô thị cũng cần cung cấp những không gian phù hợp - nơi con người cảm thấy thoải mái khi nán lại, tạo điều kiện cho sự tương tác nhân văn. Gehl quan niệm "Con người là niềm vui lớn nhất của con người", do đó đường phố không chỉ là nơi để di chuyển mà còn để tương tác. Sức sống của một đô thị có thể được đo bằng các chỉ số liên quan trực tiếp đến con người:
Số lượng người đi bộ, số người dừng lại, ngồi lại, trò chuyện hay tham gia các hoạt động trong không gian công cộng.
Một nguyên tắc quan trọng nữa là thành phố phải mời gọi và khuyến khích được con người ra ngoài trời, sinh hoạt trong các không gian công cộng, thay vì có xu hướng giữ họ ở bên trong các tòa nhà cao tầng hay trung tâm thương mại.
Không gian công cộng và cảnh quan đi bộ phải thỏa mãn hệ thống tiêu chí khắt khe bao gồm ba yếu tố cốt lõi:
Được bảo vệ (an toàn giao thông, tránh được tội phạm, thời tiết xấu), Thoải mái (thuận tiện cho việc đi bộ, đứng, ngồi, nhìn, nghe/nói chuyện và vui chơi) và Thích thú (quy mô công trình hợp lý, tận hưởng khí hậu tốt và có chất lượng thẩm mỹ cao).
Một chỉ báo rất trực quan khác là sự hiện diện của trẻ em.
Khi trẻ em có thể tự do di chuyển, chơi đùa và sử dụng không gian công cộng một cách an toàn, đó là dấu hiệu rõ ràng cho thấy đô thị đã đạt được “Tỷ lệ con người". Trên thực tế, trẻ em là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Việc trẻ em có thể tự đạp xe đến trường và đi khắp nơi từ độ tuổi rất nhỏ (khoảng 4 tuổi) là minh chứng cho việc thành phố đã xây dựng được một hệ thống làn đường dành riêng cho xe đạp thực sự an toàn và chất lượng.
Ngoài ra, một đô thị tốt cho trẻ em là nơi vỉa hè và làn đường xe đạp được ưu tiên nối liền xuyên suốt qua các con phố, cho phép trẻ em có thể đi bộ hoặc vui chơi trên vỉa hè dọc suốt quãng đường đến trường mà không gặp trở ngại. Hình ảnh những chiếc xe nôi xuất hiện ở khắp các không gian công cộng, hay việc 30% gia đình có trẻ em (như ở Copenhagen) sử dụng xe đạp chở hàng (cargo bike) để chở 1 đến 3 đứa trẻ mỗi ngày cho thấy người dân hoàn toàn an tâm và cảm thấy thoải mái khi đưa trẻ ra ngoài trời sinh hoạt.
Gehl còn cho rằng một đô thị có sức sống phải đan xen đầy đủ các nhu cầu thiết yếu như làm việc, nghỉ ngơi, giao lưu và thưởng thức văn hóa.
Để quy hoạch thành công, trước hết phải quan sát và thấu hiểu cách con người đang sống trong thành phố đó. Cấu trúc không gian cần được tổ chức phù hợp với cách con người sử dụng, nhận diện được văn hóa đặc trưng của vùng đất, sau đó mới tiến hành bố trí công trình và hạ tầng.
Dựa trên triết lý của Jan Gehl, Vì Một Hà Nội Đáng Sống thấy rằng những không gian như các con ngõ nhỏ của Thủ đô không chỉ là không gian giao thông, mà chính là một dạng nền tảng của đời sống đô thị.
Ngõ nhỏ Hà Nội vốn đã là nơi diễn ra các hoạt động đi bộ, buôn bán, trò chuyện và sinh hoạt thường ngày. Chúng nên được nhìn như một không gian đa chức năng trong bán kính đi bộ. Không chỉ để đi qua, ngõ có thể tích hợp các hoạt động làm việc, nghỉ ngơi, giao lưu và sinh hoạt văn hóa.
Chính sự đan xen này tạo nên sức sống đặc trưng, thay vì biến ngõ thành một hành lang đơn chức năng.
Bên cạnh đó, việc tổ chức không gian ở tầm mắt và tốc độ đi bộ sẽ kích thích các tương tác xã hội: vừa đi vừa trò chuyện, dừng lại để trao đổi, hay đơn giản là quan sát đời sống xung quanh. Đây chính là những hoạt động tạo nên “độ sống” của đô thị và sự hiện diện của cư dân cũng tạo ra cảm giác an toàn tự nhiên. Đồng thời, việc duy trì tỷ lệ không gian hài hòa, tận dụng bóng râm, cây xanh sẽ giúp ngõ nhỏ trở nên dễ chịu và giàu bản sắc hơn.
Khi nghĩ về triết lý đô thị vị nhân sinh, chúng ta nên thay đổi triệt để về hạ tầng hay nên làm rõ và nuôi dưỡng, phát triển những giá trị vốn có?
4.4.2026
Vì Một Hà Nội Đáng Sống

Hình ảnh nghiên cứu phục dựng điện Kính ThiênHoàng thành Thăng Long - Hà Nội được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa th...
11/04/2026

Hình ảnh nghiên cứu phục dựng điện Kính Thiên
Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa thế giới năm 2010, từ năm 2011 đến nay, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội đã phối hợp với Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và Hội Khảo cổ học Việt Nam tiến hành khai quật nghiên cứu khảo cổ học khu vực trung tâm (khu vực chính điện Kính Thiên) với tổng diện tích hơn 10.000m2.
Những cuộc khai quật đã thu được kết quả lớn trong việc tìm hiểu các giá trị của Di sản thế giới khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, đồng thời thu thập nhiều tư liệu mới mang tính xác thực cao góp phần nghiên cứu và khôi phục chính điện Kính Thiên.
Ngày 21/12/2023, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học Báo cáo sơ bộ kết quả khai quật thăm dò khu vực chính điện Kính Thiên năm 2023 và Kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ từ 2011 đến nay tại Hoàng thành Thăng Long.
Theo VNN

CHẠM RỒNG TẠI ĐỀN VUA ĐINHĐề tài được thể hiện nhiều nhất là rồng, ở các bức cốn của di tích đền vua Đinh, con rồng được...
10/04/2026

CHẠM RỒNG TẠI ĐỀN VUA ĐINH
Đề tài được thể hiện nhiều nhất là rồng, ở các bức cốn của di tích đền vua Đinh, con rồng được thể hiện chi chít, rồng mẹ, rồng con, rồng đàn, rồng ổ v.v… trong các mảng chạm lộng, chạm nổi, có con ở tư thế bình thản, có con cong đuôi, đầu ngoái lại gãi vai như đang nô đùa.
Trong các bức chạm rồng đàn, đẹp nhất là bức chạm trên mảng ván bưng chạy suốt xà lòng Hậu cung của đền.
Do khéo kết hợp giữa chạm nổi và chạm lộng, người nghệ sĩ dân gian đã thể hiện những con rồng như đang bơi trong mây.
Hai con rồng ở giữa nhô đầu ra nô rỡn, mây đao mác tua tủa, lấp lánh như những tia chóp, ở đằng sau lấp ló những chú rồng con đang nô đùa.
Các đề tài điêu khắc ở các bức cuốn diềm cửa ngoài bái đường khá phong phú: lưỡng long chầu lá đề, lưỡng long chầu nguyệt, mà mặt nguyệt có chữ “Vạn nhà Phật”, tượng trưng cho sự bình đẳng, bác ái, hoặc mặt nguyệt có chữ “ngọc” ở trong.
Bên cạnh rồng, còn có đề tài phượng chầu mặt nguyệt, mà chim phượng có dáng như những con sáo, lân chầu lá đề, mà toàn thân con lân như đang nhoài về phía trước, đầu ngẩng cao, hai chân trước giơ lên như đang vờn.

THÀNH TRÌ THỜI ĐỒ ĐÁ CỦA VIỆT NAMKhi nhắc tới thành quách thời tiền sử của Việt Nam, chắc phần đông sẽ nghĩ ngay tới thà...
10/04/2026

THÀNH TRÌ THỜI ĐỒ ĐÁ CỦA VIỆT NAM

Khi nhắc tới thành quách thời tiền sử của Việt Nam, chắc phần đông sẽ nghĩ ngay tới thành Cổ Loa. Tuy nhiên toà thành bề thế này không phải thành trì sớm nhất tại Việt Nam, mà thành trì đã xuất hiện trước đó hàng ngàn năm.

Hôm trước tôi có bài về thành trì thời đồ đá mới của các miền trên thế giới. Ở Việt Nam, chúng ta cũng đã phát lộ được những công trình phòng thủ có thành (tường luỹ) và trì (hào nước) từ ít nhất văn hoá Phùng Nguyên- hậu kỳ đồ đá mới, sơ kỳ đồ đồng cách đây khoảng 4000 năm.

Cụ thể, theo "BÁO CÁO TỔNG THUẬT KẾT QUẢ KHAI QUẬT KHẢO CỔ TẠI PHÍA TÂY GÒ VƯỜN CHUỐI" (Hà Nội) năm 2025, chúng ta đã tìm thấy Di tích vòng lũy đất đắp nằm ở vị trí cao nhất của gò Vườn Chuối, cấu trúc hình lòng chảo với rìa ngoài cao hơn bên trong khoảng 0,5m. Kích thước di tích: chiều dài bắc - nam khoảng 90m, rộng đông - tây 35m và còn tiếp tục mở rộng sang phía đông di chỉ. lớp đất đắp được sử dụng từ ngay lớp đất đào một rãnh trũng ở ngay phía ngoài vòng lũy, tạo khu cư trú ở bên trong và một vòng hào bảo vệ rộng khoảng 10m và sâu khoảng 2,5 - 3m bao quanh bên ngoài. Về niên đại, bước đầu qua diễn biến địa tầng và dấu tích văn hóa có thể xác định di tích được hình thành trong giai đoạn Phùng Nguyên khi lớp cư dân đầu tiên đến cư trú ở khu vực này.

Như vậy tại gò Vườn Chuối, ngay từ thời đồ đá mới đã xuất hiện những khu dân cư được đặt ở địa thế cao, có thành và trì bao bọc, có lẽ để phòng thủ trước chính những cộng đồng người khác, tức là mầm mống chiến tranh đã xuất hiện. Trong bối cảnh đó, việc xuất hiện tầng lớp chiến binh, thủ lĩnh, và thậm chí những liên minh bộ lạc không phải là hoang đường.

Address

BT F03 Embassy Garden, Đường Xuân Tảo, Phường Xuân Đỉnh
Hanoi
11900

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TT Đào Tạo & Nghiên Cứu Ứng Dụng Lịch Sử Văn Hóa posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share