22/05/2026
Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng
PGS,TS. Lâm Quốc Tuấn
ThS. Phạm Xuân Thành
Tóm tắt: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ cấp bách trong kỷ nguyên mới. Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhìn nhận đánh giá không chỉ 5 năm năm mà cả 40 năm đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, qua đó đã chỉ ra những kết quả quan trọng và hạn chế cần phải khắc phục. Trong kỷ nguyên mới của dân tộc có nhiều thời cơ thách thức đan xe, trước vấn đề đó Đại hội lần thứ XIV đề ra phương hướng, nhiệm vụ đồng thời cần cụ thể hóa thành giải pháp thiết thực góp phần đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Từ khóa: Đổi mới phương thức, lãnh đạo, cầm quyền, Đại hội lần thức XIV
1. Mở đầu
Đại hội lần thứ VI, cùng với việc đổi mới tư duy, Đảng đã khẳng định phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, song Đại hội VI chưa sử dụng khái niệm “Phương thức lãnh đạo” mà mới dừng lại ở “đổi mới phong cách làm việc, tác phong đi sâu đi sát thực tế…”. Văn kiện Đại hội VII của Đảng đã sử dụng khái niệm “Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng”, đồng thời Đảng cần có “Quy định cụ thể về mối quan hệ và lề lối làm việc giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân ở các cấp, trước hết là cấp Trung ương”. Văn kiện Đại hội giữa nhiệm kỳ Khóa VII đã nhấn mạnh, “Đảng lãnh đạo theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, lãnh đạo thông qua tổ chức đảng chứ không chỉ thông qua các cá nhân đảng viên. Lãnh đạo bằng các quyết định của tập thể và bằng cách theo dõi cho ý kiến chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện, khuyến khích những mặt tốt, uốn nắn những lệch lạc, nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò và hiệu lực của Nhà nước, chứ không điều hành thay Nhà nước” . Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định phương thức lãnh đạo của Đảng gồm: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị” .
Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Nghị quyết số 28- NQ/TW ngày 17/11/2022 của Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới đã đánh giá kết quả đạt được và hạn chế trong 15 năm qua. Đồng thời, đưa ra 03 quan điểm, 03 mục tiêu và 06 nhiệm vụ giải pháp để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị. Điểm mới của Nghị quyết số 28- NQ/TW lần nay đã bổ sung vấn đề không chỉ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng mà còn là phương thức cầm quyền trong giai đoạn mới. Những quan điểm, mục tiêu và giải pháp cụ thể hơn và đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong đó nhấn mạnh mục tiêu: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, bảo đảm hiệu quả, thiết thực, sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo toàn diện của Đảng trong giai đoạn mới” .
Trong tình hình có nhiều thách thức và cơ hội đan xen lẫn nhau hiện nay, bối cảnh khu vực, thế giới tiềm ẩn nhiều nguy cơ, những vấn đề nan giải trong nước vẫn còn đang đặt ra cần phải có sự đổi mới trong phương thức lãnh đạo của Đảng để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có viết bài về “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, yêu cầu cấp bách của giai đoạn cách mạng mới”. Theo đó để tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, đảm bảo Đảng là người cầm lái vĩ đại, đưa dân tộc ta tiến lên mạnh mẽ, Tổng Bí thư yêu cầu thực hiện 04 trọng tâm đó là: “Thứ nhất, thống nhất nhận thức và thực hiện cho nghiêm phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tuyệt đối không để xảy ra bao biện, làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng. Thứ hai, tập trung tinh gọn bộ máy, tổ chức các cơ quan của đảng, thực sự là hạt nhân trí tuệ, là “bộ tổng tham mưu”, đội tiên phong lãnh đạo cơ quan nhà nước. Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ việc ban hành và quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng; xây dựng các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên thật sự là các “tế bào” của Đảng. Thứ tư, tiếp tục đổi mới công tác kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các hoạt động của Đảng” .
Tổng kết 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội lần thứ XIV, Đảng nhận định: Từ nhận thức còn giản đơn về phương thức lãnh đạo, 40 năm qua, nhận thức của Đảng về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền đã có bước tiến lớn. Năm 1989, Hội nghị Trung ương 6 khoá VI đã sử dụng khái niệm “phương thức lãnh đạo” thay cho các khái niệm “phương pháp lãnh đạo”, “tác phong công tác”. Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh 2011 đã bổ sung và xác định cụ thể hơn phương thức lãnh đạo của Đảng. Cùng với sự phát triển nhận thức của Đảng về phương thức lãnh đạo, trong quá trình đổi mới, Đảng đã có nhận thức mới về phương thức cầm quyền của Đảng. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17/11/2022 về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới, xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới .
Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, có vai trò rất lớn đối với xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, củng cố, nâng cao uy tín chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng. Phương thức lãnh đạo đúng đắn hoạt động của Đảng được thể hiện hiệu quả trong thực tiễn, được nhân dân thừa nhận. Qua đó, uy tín chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng được nâng lên. Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực tế cho thấy, khi đã có chủ trương, đường lối, chính sách đúng, có tổ chức, bộ máy và cán bộ có chất lượng, nhưng Đảng không tạo lập được phương thức lãnh đạo, cầm quyền đúng đắn, phù hợp, thì hiệu quả lãnh đạo thấp, thậm chí nhiều khi chủ trương, đường lối, chính sách đúng còn bị vô hiệu hóa. Phương thức lãnh đạo, cầm quyền đúng đắn giúp cho hoạt động của Đảng được thể hiện hiệu quả trong thực tiễn, được nhân dân thừa nhận. Qua đó, uy tín chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng được nâng lên.
Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là quá trình thay đổi từng mặt, từng nội dung hoặc thay đổi toàn bộ những mặt, những nội dung cấu thành phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng làm cho phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng luôn phù hợp và đáp ứng yêu cầu sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhiệm vụ cách mạng không ngừng phát triển, tình hình trong nước và quốc tế biến chuyển nhanh khó lường đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng nói chung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng nói riêng cũng phải không ngừng đổi mới để xứng đáng là đội tiền phong dẫn đường cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc.
2. Thực trạng đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong thời qua
Tổng kết 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội lần thứ XIV, Đảng ta thẳng thắn đánh giá đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong thời gian qua đạt được nhiều kết quả rất quan trọng góp phần đưa đất nước ta ngày càng phát triển hùng cường, thịnh vượng điều đó được khắng định như sau: Qua quá trình đổi mới, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đã có nhiều đổi mới, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được giữ vững và nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ những “nút thắt”, “điểm nghẽn”, ứng phó nhanh, rất kịp thời, hiệu quả với các tình huống khó khăn, phức tạp, chưa từng có tiền lệ, được cán bộ, đảng viên, Nhân dân đồng tình, đánh giá cao. Nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu trong tuyên truyền, vận động, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng được nâng cao. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp uỷ, tổ chức đảng được tăng cường, từng bước khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng. Chất lượng đội ngũ cán bộ được nâng lên, việc phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ của Đảng vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ngày càng chặt chẽ. Công tác kiểm tra, giám sát được đẩy mạnh, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Công tác cải cách hành chính, đổi mới phong cách, lề lối làm việc của Đảng được chú trọng .
Đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII, tại Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV Đảng ta tiếp tục đánh giá và khẳng định những kết quả quan trọng đạt được của đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta đó là: Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều đổi mới, hiệu lực, hiệu quả hơn. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ những nút thắt, điểm nghẽn, ứng phó nhanh, rất kịp thời, hiệu quả với các tình huống khó khăn, phức tạp, chưa từng có tiền lệ, được cán bộ, đảng viên, Nhân dân đồng tình, đánh giá cao . Những kết quả trên cho thấy từ sự thay đổi nhận thức đến tổ chức thực hiện hóa về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền ngày càng được đưa vào đời sống. Qua đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền cũng như sức chiến đấu của Đảng ta ngày càng vươn tầm cao hơn, Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh toàn diện trên các mặt công tác của Đảng. Luôn vững bước, sáng suốt và bản lĩnh lãnh đạo đất nước bước sang kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tuy nhiên, việc đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong thời gian qua không chỉ 5 năm năm mà cả 40 năm qua vẫn còn một số hạn chế đó là: Vẫn còn tình trạng ban hành nhiều văn bản, một số văn bản còn chung chung, dàn trải, trùng lặp, chậm bổ sung, sửa đổi, thay thế nên hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên một số lĩnh vực chưa cao. Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng chưa được thể chế hoá kịp thời, đầy đủ hoặc đã thể chế hoá nhưng không khả thi. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của tổ chức, cá nhân, người đứng đầu có nội dung chưa rõ, ranh giới giữa lãnh đạo và quản lý chưa được phân định cụ thể; phân cấp, phân quyền chưa mạnh. Cải cách hành chính, đổi mới phong cách, lề lối làm việc trong Đảng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của tình hình mới . Những hạn chế là rào cản sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta, do đó trong thời gian tới cần tìm ra những nút thắt tháo gỡ hạn chế, thu hẹp khuyết điểm. Cần khơi thông được và biến hạn chế trở thành những động lực và thành tựu cho sự lãnh đạo của Đảng trong thời gian tới. Đề xuất mạnh mẽ những giải pháp quyết liệt thực hiện hiệu quả để phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới phải luôn là định hướng đúng đắn cho đất nước phát triển, không còn những hạn chế, khuyết điểm, nhất là những vấn đề cũ lặp đi lặp lại.
3. Giải pháp tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới
Đại hội lần thứ XIV của Đảng đề ra nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới yêu cầu: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về Đảng lãnh đạo, cầm quyền. Cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đổi mới, nâng cao chất lượng ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng bảo đảm rõ trọng tâm, rõ nguồn lực, rõ kết quả, bảo đảm nghị quyết ban hành thực sự đi vào cuộc sống. Chăm lo xây dựng, củng cố và phát huy hiệu quả vai trò hạt nhân lãnh đạo của cấp ủy các cấp, nhất là người đứng đầu. Hoàn thiện thể chế, thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, công tác cán bộ, biên chế của hệ thống chính trị; đẩy mạnh phân cấp, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, vai trò nêu gương của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số trong Đảng; đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo, tham mưu của Đảng từ Trung ương tới cơ sở. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, quy trình công tác, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng . Trong thời gian tới để tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, cần có giải pháp cụ thể để hiện thực hóa định hướng của Đại hội XIV, đó là:
Một là, đổi mới việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng theo hướng thực chất, rõ trọng tâm, rõ trách nhiệm và rõ kết quả. Xây dựng nghị quyết phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, bám sát những vấn đề trọng tâm, cấp bách của đất nước và từng địa phương, tránh tình trạng dàn trải, chung chung, thiếu tính khả thi. Nội dung nghị quyết cần được thiết kế theo hướng cụ thể hóa tối đa, trong đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, chỉ tiêu đo lường được, nguồn lực thực hiện và thời hạn hoàn thành, bảo đảm tính khả thi và dễ kiểm tra, đánh giá. Đồng thời, phải phân công rõ trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị, cá nhân, nhất là đề cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện. Sau khi ban hành, nghị quyết cần được cụ thể hóa kịp thời thành chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với từng cấp, từng ngành, từng địa bàn, bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất trong triển khai. Quá trình thực hiện phải gắn chặt với công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên, liên tục, nhằm kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Bên cạnh đó, cần đổi mới phương thức đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết theo hướng lấy hiệu quả thực chất, sản phẩm cụ thể và mức độ hài lòng của Nhân dân làm thước đo chủ yếu. Kiên quyết khắc phục tình trạng ban hành nghị quyết nhiều nhưng triển khai chậm, thiếu quyết liệt hoặc hình thức, không gắn với nguồn lực và trách nhiệm thực hiện. Việc sơ kết, tổng kết nghị quyết cũng cần được thực hiện nghiêm túc, khách quan, làm rõ kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm. Trên cơ sở đó, kịp thời điều chỉnh, bổ sung chủ trương, chính sách cho phù hợp với tình hình mới.
Hai là, hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực. Rà soát, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, bảo đảm không chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ trống nhiệm vụ. Việc phân cấp, phân quyền phải được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc “việc gì rõ, sát thực tiễn thì giao cho cấp đó thực hiện”, đồng thời gắn chặt với trách nhiệm giải trình cụ thể. Cùng với đó, phải thực hiện nghiêm nguyên tắc giao quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực, xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát đồng bộ, hiệu quả, bảo đảm quyền lực được vận hành đúng mục tiêu, không bị lạm dụng. Đặc biệt, cần đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện, coi đây là khâu then chốt để bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống chính trị. Phải thiết lập cơ chế đánh giá, kiểm soát quyền lực dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ, gắn với trách nhiệm cá nhân, tránh tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm hoặc lợi dụng quyền hạn để trục lợi. Việc phân cấp cũng cần đi kèm với bảo đảm nguồn lực tương ứng, bao gồm nhân lực, tài chính và điều kiện thực hiện, tránh giao quyền nhưng không đủ điều kiện để thực thi. Bên cạnh đó, cần tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý, tạo điều kiện để Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm nguyên tắc phân cấp, phân quyền, nhất là các biểu hiện lạm quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Đồng thời, kịp thời điều chỉnh những bất cập phát sinh trong quá trình thực hiện để bảo đảm hệ thống vận hành thông suốt, hiệu quả.
Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu. Đổi mới căn bản công tác đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, khách quan, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể và mức độ hoàn thành công việc làm thước đo chủ yếu, khắc phục tình trạng đánh giá hình thức, nể nang, cảm tính. Việc đánh giá phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, đa chiều, gắn với vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh, bảo đảm phản ánh đúng năng lực, phẩm chất và uy tín của cán bộ. Thực hiện nghiêm chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”, kịp thời thay thế những cán bộ yếu kém, thiếu trách nhiệm, uy tín thấp hoặc không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, qua đó tạo động lực cạnh tranh lành mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ. Cùng với đó, phải đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực quản trị, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng với yêu cầu chuyển đổi số. Đặc biệt, cần có cơ chế phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài một cách thực chất, công khai, minh bạch, tạo môi trường để người có năng lực phát huy sở trường và cống hiến. Bên cạnh đó, phải đề cao vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, coi đây là yếu tố quyết định trong việc xây dựng tập thể đoàn kết, trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm.
Bốn là, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số trong Đảng. Tập trung số hóa toàn bộ quy trình công tác, hồ sơ, văn bản, bảo đảm xử lý công việc trên môi trường điện tử một cách nhanh chóng, chính xác và có kiểm soát. Việc ứng dụng công nghệ thông tin phải được triển khai đồng bộ trong các khâu lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát, góp phần rút ngắn thời gian xử lý công việc, giảm thủ tục hành chính và tăng tính minh bạch. Xây dựng và hoàn thiện các hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành, bảo đảm liên thông, kết nối từ Trung ương đến cơ sở, qua đó hỗ trợ việc ra quyết định kịp thời, chính xác. Bên cạnh đó, phải chú trọng bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu trong quá trình chuyển đổi số, tránh lộ, mất thông tin quan trọng. Việc cải cách hành chính cần gắn với chuẩn hóa quy trình, đơn giản hóa thủ tục, loại bỏ các khâu trung gian không cần thiết, nâng cao chất lượng phục vụ cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đồng thời, cần nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu, để sử dụng hiệu quả các công cụ công nghệ trong công việc. Việc triển khai chuyển đổi số cũng phải có lộ trình phù hợp, gắn với điều kiện thực tiễn của từng cấp, từng địa phương, tránh hình thức, lãng phí.
Năm là, đổi mới phong cách lãnh đạo và hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy. Chuyển mạnh từ phương thức lãnh đạo mang tính hành chính, mệnh lệnh sang lãnh đạo bằng định hướng, cơ chế, chính sách và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Cấp ủy các cấp phải tập trung vào những vấn đề chiến lược, trọng tâm, tránh sa vào công việc cụ thể, sự vụ, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy theo hướng rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác và quy trình xử lý công việc, bảo đảm thống nhất, chặt chẽ và dễ thực hiện. Việc phân công nhiệm vụ trong cấp ủy phải cụ thể, gắn với trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Bên cạnh đó, cần đổi mới phong cách làm việc theo hướng khoa học, dân chủ, sâu sát cơ sở, tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Phát huy vai trò tập thể cấp ủy gắn với trách nhiệm cá nhân, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo
Sáu là, tăng cường kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò của Nhân dân. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát theo hướng thường xuyên, chủ động, kịp thời, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, sai phạm. Việc kiểm tra, giám sát phải được thực hiện ngay từ cơ sở, từ sớm, từ xa, nhằm phát hiện và ngăn chặn vi phạm trước khi trở thành nghiêm trọng. Xử lý nghiêm minh, kịp thời các tổ chức, cá nhân vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, qua đó răn đe và phòng ngừa chung. Bên cạnh đó, phải phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo điều kiện để Nhân dân tham gia góp ý, theo dõi và đánh giá hoạt động của hệ thống chính trị. Việc công khai, minh bạch thông tin cũng cần được tăng cường để Nhân dân giám sát hiệu quả. Qua đó, củng cố và phát huy mối quan hệ “Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ”, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện./.