Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương

Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Political Party, số 7 Nguyễn Cảnh Chân, Hanoi.

Thủ tướng Lê Minh Hưng dâng hương tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn và Khu di tích quốc gia đặc biệt Thành cổ ...
23/05/2026

Thủ tướng Lê Minh Hưng dâng hương tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn và Khu di tích quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị

Sáng 23/5, trong chương trình công tác tại tỉnh Quảng Trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Đoàn công tác tới dâng hương, dâng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn.

Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về tình hình triển khai Chỉ thị số 34-CT/TW và định hướng phát triển nhà ...
22/05/2026

Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về tình hình triển khai Chỉ thị số 34-CT/TW và định hướng phát triển nhà ở trong thời gian tới

Ngày 22/5, Văn phòng Trung ương Đảng có thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với một số cơ quan về tình hình triển khai Chỉ thị số 34-CT/TW của Ban Bí thư và định hướng phát triển...

22/05/2026

Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng
PGS,TS. Lâm Quốc Tuấn
ThS. Phạm Xuân Thành
Tóm tắt: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ cấp bách trong kỷ nguyên mới. Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhìn nhận đánh giá không chỉ 5 năm năm mà cả 40 năm đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, qua đó đã chỉ ra những kết quả quan trọng và hạn chế cần phải khắc phục. Trong kỷ nguyên mới của dân tộc có nhiều thời cơ thách thức đan xe, trước vấn đề đó Đại hội lần thứ XIV đề ra phương hướng, nhiệm vụ đồng thời cần cụ thể hóa thành giải pháp thiết thực góp phần đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Từ khóa: Đổi mới phương thức, lãnh đạo, cầm quyền, Đại hội lần thức XIV
1. Mở đầu
Đại hội lần thứ VI, cùng với việc đổi mới tư duy, Đảng đã khẳng định phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, song Đại hội VI chưa sử dụng khái niệm “Phương thức lãnh đạo” mà mới dừng lại ở “đổi mới phong cách làm việc, tác phong đi sâu đi sát thực tế…”. Văn kiện Đại hội VII của Đảng đã sử dụng khái niệm “Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng”, đồng thời Đảng cần có “Quy định cụ thể về mối quan hệ và lề lối làm việc giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân ở các cấp, trước hết là cấp Trung ương”. Văn kiện Đại hội giữa nhiệm kỳ Khóa VII đã nhấn mạnh, “Đảng lãnh đạo theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, lãnh đạo thông qua tổ chức đảng chứ không chỉ thông qua các cá nhân đảng viên. Lãnh đạo bằng các quyết định của tập thể và bằng cách theo dõi cho ý kiến chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện, khuyến khích những mặt tốt, uốn nắn những lệch lạc, nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò và hiệu lực của Nhà nước, chứ không điều hành thay Nhà nước” . Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định phương thức lãnh đạo của Đảng gồm: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị” .
Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Nghị quyết số 28- NQ/TW ngày 17/11/2022 của Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới đã đánh giá kết quả đạt được và hạn chế trong 15 năm qua. Đồng thời, đưa ra 03 quan điểm, 03 mục tiêu và 06 nhiệm vụ giải pháp để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị. Điểm mới của Nghị quyết số 28- NQ/TW lần nay đã bổ sung vấn đề không chỉ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng mà còn là phương thức cầm quyền trong giai đoạn mới. Những quan điểm, mục tiêu và giải pháp cụ thể hơn và đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong đó nhấn mạnh mục tiêu: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, bảo đảm hiệu quả, thiết thực, sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo toàn diện của Đảng trong giai đoạn mới” .
Trong tình hình có nhiều thách thức và cơ hội đan xen lẫn nhau hiện nay, bối cảnh khu vực, thế giới tiềm ẩn nhiều nguy cơ, những vấn đề nan giải trong nước vẫn còn đang đặt ra cần phải có sự đổi mới trong phương thức lãnh đạo của Đảng để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có viết bài về “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, yêu cầu cấp bách của giai đoạn cách mạng mới”. Theo đó để tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, đảm bảo Đảng là người cầm lái vĩ đại, đưa dân tộc ta tiến lên mạnh mẽ, Tổng Bí thư yêu cầu thực hiện 04 trọng tâm đó là: “Thứ nhất, thống nhất nhận thức và thực hiện cho nghiêm phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tuyệt đối không để xảy ra bao biện, làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng. Thứ hai, tập trung tinh gọn bộ máy, tổ chức các cơ quan của đảng, thực sự là hạt nhân trí tuệ, là “bộ tổng tham mưu”, đội tiên phong lãnh đạo cơ quan nhà nước. Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ việc ban hành và quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng; xây dựng các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên thật sự là các “tế bào” của Đảng. Thứ tư, tiếp tục đổi mới công tác kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các hoạt động của Đảng” .
Tổng kết 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội lần thứ XIV, Đảng nhận định: Từ nhận thức còn giản đơn về phương thức lãnh đạo, 40 năm qua, nhận thức của Đảng về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền đã có bước tiến lớn. Năm 1989, Hội nghị Trung ương 6 khoá VI đã sử dụng khái niệm “phương thức lãnh đạo” thay cho các khái niệm “phương pháp lãnh đạo”, “tác phong công tác”. Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh 2011 đã bổ sung và xác định cụ thể hơn phương thức lãnh đạo của Đảng. Cùng với sự phát triển nhận thức của Đảng về phương thức lãnh đạo, trong quá trình đổi mới, Đảng đã có nhận thức mới về phương thức cầm quyền của Đảng. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17/11/2022 về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới, xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới .
Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, có vai trò rất lớn đối với xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, củng cố, nâng cao uy tín chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng. Phương thức lãnh đạo đúng đắn hoạt động của Đảng được thể hiện hiệu quả trong thực tiễn, được nhân dân thừa nhận. Qua đó, uy tín chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng được nâng lên. Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực tế cho thấy, khi đã có chủ trương, đường lối, chính sách đúng, có tổ chức, bộ máy và cán bộ có chất lượng, nhưng Đảng không tạo lập được phương thức lãnh đạo, cầm quyền đúng đắn, phù hợp, thì hiệu quả lãnh đạo thấp, thậm chí nhiều khi chủ trương, đường lối, chính sách đúng còn bị vô hiệu hóa. Phương thức lãnh đạo, cầm quyền đúng đắn giúp cho hoạt động của Đảng được thể hiện hiệu quả trong thực tiễn, được nhân dân thừa nhận. Qua đó, uy tín chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng được nâng lên.
Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là quá trình thay đổi từng mặt, từng nội dung hoặc thay đổi toàn bộ những mặt, những nội dung cấu thành phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng làm cho phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng luôn phù hợp và đáp ứng yêu cầu sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhiệm vụ cách mạng không ngừng phát triển, tình hình trong nước và quốc tế biến chuyển nhanh khó lường đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng nói chung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng nói riêng cũng phải không ngừng đổi mới để xứng đáng là đội tiền phong dẫn đường cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc.
2. Thực trạng đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong thời qua
Tổng kết 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội lần thứ XIV, Đảng ta thẳng thắn đánh giá đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong thời gian qua đạt được nhiều kết quả rất quan trọng góp phần đưa đất nước ta ngày càng phát triển hùng cường, thịnh vượng điều đó được khắng định như sau: Qua quá trình đổi mới, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đã có nhiều đổi mới, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được giữ vững và nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ những “nút thắt”, “điểm nghẽn”, ứng phó nhanh, rất kịp thời, hiệu quả với các tình huống khó khăn, phức tạp, chưa từng có tiền lệ, được cán bộ, đảng viên, Nhân dân đồng tình, đánh giá cao. Nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu trong tuyên truyền, vận động, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng được nâng cao. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp uỷ, tổ chức đảng được tăng cường, từng bước khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng. Chất lượng đội ngũ cán bộ được nâng lên, việc phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ của Đảng vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ngày càng chặt chẽ. Công tác kiểm tra, giám sát được đẩy mạnh, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Công tác cải cách hành chính, đổi mới phong cách, lề lối làm việc của Đảng được chú trọng .
Đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII, tại Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV Đảng ta tiếp tục đánh giá và khẳng định những kết quả quan trọng đạt được của đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta đó là: Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều đổi mới, hiệu lực, hiệu quả hơn. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ những nút thắt, điểm nghẽn, ứng phó nhanh, rất kịp thời, hiệu quả với các tình huống khó khăn, phức tạp, chưa từng có tiền lệ, được cán bộ, đảng viên, Nhân dân đồng tình, đánh giá cao . Những kết quả trên cho thấy từ sự thay đổi nhận thức đến tổ chức thực hiện hóa về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền ngày càng được đưa vào đời sống. Qua đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền cũng như sức chiến đấu của Đảng ta ngày càng vươn tầm cao hơn, Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh toàn diện trên các mặt công tác của Đảng. Luôn vững bước, sáng suốt và bản lĩnh lãnh đạo đất nước bước sang kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tuy nhiên, việc đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong thời gian qua không chỉ 5 năm năm mà cả 40 năm qua vẫn còn một số hạn chế đó là: Vẫn còn tình trạng ban hành nhiều văn bản, một số văn bản còn chung chung, dàn trải, trùng lặp, chậm bổ sung, sửa đổi, thay thế nên hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên một số lĩnh vực chưa cao. Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng chưa được thể chế hoá kịp thời, đầy đủ hoặc đã thể chế hoá nhưng không khả thi. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của tổ chức, cá nhân, người đứng đầu có nội dung chưa rõ, ranh giới giữa lãnh đạo và quản lý chưa được phân định cụ thể; phân cấp, phân quyền chưa mạnh. Cải cách hành chính, đổi mới phong cách, lề lối làm việc trong Đảng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của tình hình mới . Những hạn chế là rào cản sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta, do đó trong thời gian tới cần tìm ra những nút thắt tháo gỡ hạn chế, thu hẹp khuyết điểm. Cần khơi thông được và biến hạn chế trở thành những động lực và thành tựu cho sự lãnh đạo của Đảng trong thời gian tới. Đề xuất mạnh mẽ những giải pháp quyết liệt thực hiện hiệu quả để phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới phải luôn là định hướng đúng đắn cho đất nước phát triển, không còn những hạn chế, khuyết điểm, nhất là những vấn đề cũ lặp đi lặp lại.
3. Giải pháp tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới
Đại hội lần thứ XIV của Đảng đề ra nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới yêu cầu: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về Đảng lãnh đạo, cầm quyền. Cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đổi mới, nâng cao chất lượng ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng bảo đảm rõ trọng tâm, rõ nguồn lực, rõ kết quả, bảo đảm nghị quyết ban hành thực sự đi vào cuộc sống. Chăm lo xây dựng, củng cố và phát huy hiệu quả vai trò hạt nhân lãnh đạo của cấp ủy các cấp, nhất là người đứng đầu. Hoàn thiện thể chế, thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, công tác cán bộ, biên chế của hệ thống chính trị; đẩy mạnh phân cấp, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, vai trò nêu gương của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số trong Đảng; đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo, tham mưu của Đảng từ Trung ương tới cơ sở. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, quy trình công tác, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng . Trong thời gian tới để tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, cần có giải pháp cụ thể để hiện thực hóa định hướng của Đại hội XIV, đó là:
Một là, đổi mới việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng theo hướng thực chất, rõ trọng tâm, rõ trách nhiệm và rõ kết quả. Xây dựng nghị quyết phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, bám sát những vấn đề trọng tâm, cấp bách của đất nước và từng địa phương, tránh tình trạng dàn trải, chung chung, thiếu tính khả thi. Nội dung nghị quyết cần được thiết kế theo hướng cụ thể hóa tối đa, trong đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, chỉ tiêu đo lường được, nguồn lực thực hiện và thời hạn hoàn thành, bảo đảm tính khả thi và dễ kiểm tra, đánh giá. Đồng thời, phải phân công rõ trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị, cá nhân, nhất là đề cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện. Sau khi ban hành, nghị quyết cần được cụ thể hóa kịp thời thành chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với từng cấp, từng ngành, từng địa bàn, bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất trong triển khai. Quá trình thực hiện phải gắn chặt với công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên, liên tục, nhằm kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Bên cạnh đó, cần đổi mới phương thức đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết theo hướng lấy hiệu quả thực chất, sản phẩm cụ thể và mức độ hài lòng của Nhân dân làm thước đo chủ yếu. Kiên quyết khắc phục tình trạng ban hành nghị quyết nhiều nhưng triển khai chậm, thiếu quyết liệt hoặc hình thức, không gắn với nguồn lực và trách nhiệm thực hiện. Việc sơ kết, tổng kết nghị quyết cũng cần được thực hiện nghiêm túc, khách quan, làm rõ kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm. Trên cơ sở đó, kịp thời điều chỉnh, bổ sung chủ trương, chính sách cho phù hợp với tình hình mới.
Hai là, hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực. Rà soát, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, bảo đảm không chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ trống nhiệm vụ. Việc phân cấp, phân quyền phải được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc “việc gì rõ, sát thực tiễn thì giao cho cấp đó thực hiện”, đồng thời gắn chặt với trách nhiệm giải trình cụ thể. Cùng với đó, phải thực hiện nghiêm nguyên tắc giao quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực, xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát đồng bộ, hiệu quả, bảo đảm quyền lực được vận hành đúng mục tiêu, không bị lạm dụng. Đặc biệt, cần đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện, coi đây là khâu then chốt để bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống chính trị. Phải thiết lập cơ chế đánh giá, kiểm soát quyền lực dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ, gắn với trách nhiệm cá nhân, tránh tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm hoặc lợi dụng quyền hạn để trục lợi. Việc phân cấp cũng cần đi kèm với bảo đảm nguồn lực tương ứng, bao gồm nhân lực, tài chính và điều kiện thực hiện, tránh giao quyền nhưng không đủ điều kiện để thực thi. Bên cạnh đó, cần tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý, tạo điều kiện để Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm nguyên tắc phân cấp, phân quyền, nhất là các biểu hiện lạm quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Đồng thời, kịp thời điều chỉnh những bất cập phát sinh trong quá trình thực hiện để bảo đảm hệ thống vận hành thông suốt, hiệu quả.
Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu. Đổi mới căn bản công tác đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, khách quan, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể và mức độ hoàn thành công việc làm thước đo chủ yếu, khắc phục tình trạng đánh giá hình thức, nể nang, cảm tính. Việc đánh giá phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, đa chiều, gắn với vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh, bảo đảm phản ánh đúng năng lực, phẩm chất và uy tín của cán bộ. Thực hiện nghiêm chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”, kịp thời thay thế những cán bộ yếu kém, thiếu trách nhiệm, uy tín thấp hoặc không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, qua đó tạo động lực cạnh tranh lành mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ. Cùng với đó, phải đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực quản trị, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng với yêu cầu chuyển đổi số. Đặc biệt, cần có cơ chế phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài một cách thực chất, công khai, minh bạch, tạo môi trường để người có năng lực phát huy sở trường và cống hiến. Bên cạnh đó, phải đề cao vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, coi đây là yếu tố quyết định trong việc xây dựng tập thể đoàn kết, trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm.
Bốn là, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số trong Đảng. Tập trung số hóa toàn bộ quy trình công tác, hồ sơ, văn bản, bảo đảm xử lý công việc trên môi trường điện tử một cách nhanh chóng, chính xác và có kiểm soát. Việc ứng dụng công nghệ thông tin phải được triển khai đồng bộ trong các khâu lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát, góp phần rút ngắn thời gian xử lý công việc, giảm thủ tục hành chính và tăng tính minh bạch. Xây dựng và hoàn thiện các hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành, bảo đảm liên thông, kết nối từ Trung ương đến cơ sở, qua đó hỗ trợ việc ra quyết định kịp thời, chính xác. Bên cạnh đó, phải chú trọng bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu trong quá trình chuyển đổi số, tránh lộ, mất thông tin quan trọng. Việc cải cách hành chính cần gắn với chuẩn hóa quy trình, đơn giản hóa thủ tục, loại bỏ các khâu trung gian không cần thiết, nâng cao chất lượng phục vụ cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đồng thời, cần nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu, để sử dụng hiệu quả các công cụ công nghệ trong công việc. Việc triển khai chuyển đổi số cũng phải có lộ trình phù hợp, gắn với điều kiện thực tiễn của từng cấp, từng địa phương, tránh hình thức, lãng phí.
Năm là, đổi mới phong cách lãnh đạo và hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy. Chuyển mạnh từ phương thức lãnh đạo mang tính hành chính, mệnh lệnh sang lãnh đạo bằng định hướng, cơ chế, chính sách và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Cấp ủy các cấp phải tập trung vào những vấn đề chiến lược, trọng tâm, tránh sa vào công việc cụ thể, sự vụ, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy theo hướng rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác và quy trình xử lý công việc, bảo đảm thống nhất, chặt chẽ và dễ thực hiện. Việc phân công nhiệm vụ trong cấp ủy phải cụ thể, gắn với trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Bên cạnh đó, cần đổi mới phong cách làm việc theo hướng khoa học, dân chủ, sâu sát cơ sở, tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Phát huy vai trò tập thể cấp ủy gắn với trách nhiệm cá nhân, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo
Sáu là, tăng cường kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò của Nhân dân. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát theo hướng thường xuyên, chủ động, kịp thời, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, sai phạm. Việc kiểm tra, giám sát phải được thực hiện ngay từ cơ sở, từ sớm, từ xa, nhằm phát hiện và ngăn chặn vi phạm trước khi trở thành nghiêm trọng. Xử lý nghiêm minh, kịp thời các tổ chức, cá nhân vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, qua đó răn đe và phòng ngừa chung. Bên cạnh đó, phải phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo điều kiện để Nhân dân tham gia góp ý, theo dõi và đánh giá hoạt động của hệ thống chính trị. Việc công khai, minh bạch thông tin cũng cần được tăng cường để Nhân dân giám sát hiệu quả. Qua đó, củng cố và phát huy mối quan hệ “Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ”, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện./.

XÂY DỰNG "HỆ MIỄN DỊCH SỐ" TRÊN TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG
22/05/2026

XÂY DỰNG "HỆ MIỄN DỊCH SỐ" TRÊN TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG

Vượt qua những đường biên hữu hình, biên giới quốc gia hôm nay đã mở rộng trên không gian mạng, nơi thông tin lan tỏa với tốc độ chưa từng có, nơi mỗi chiếc điện thoại thông minh có thể trở thành một “cánh cửa thần kỳ” đưa c...

22/05/2026

Lợi dụng tự do, dân chủ để chống phá đất nước
Tự do, dân chủ luôn là giá trị cốt lõi, là lý tưởng mà nhân loại tiến bộ hướng tới trong tiến trình phát triển. Ở Việt Nam, các quyền này không chỉ là sự khẳng định về mặt chính trị mà còn được thể chế hóa cụ thể, đầy đủ bằng hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện rõ ranh giới giữa thực thi quyền hợp pháp và hành vi lợi dụng, kiên quyết đấu tranh để ngăn chặn kịp thời, bảo đảm kỷ cương pháp luật và ổn định xã hội.
https://nhandan.vn/loi-dung-tu-do-dan-chu-de-chong-pha-dat-nuoc-post963927.html

Giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mớiSức mạnh của một Đảng cầm quyền thể hiện ở năng lực lãnh đạo, tổ c...
21/05/2026

Giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới

Sức mạnh của một Đảng cầm quyền thể hiện ở năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện, được quyết định bởi sự vững vàng về nền tảng tư tưởng, sự thống nhất về nhận thức và niềm tin chính trị trong toàn Đảng và hệ thống chính trị.

https://nhandan.vn/giu-vung-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-trong-boi-canh-moi-post963387.html?fbclid=IwdGRzaAR6qO1jbGNrBHqo6WV4dG4DYWVtAjExAHNydGMGYXBwX2lkDDM1MDY4NTUzMTcyOAABHiWnAwsH3c7b0e6Xw8-eSfBHnhdhB2H6kThIeGkAPgLky83q5ZDXgAsrBE2O_aem_YWdncwAGfGPQv60-l3tpXJwY9gHA&brid=YWdncwE9m-rLr3Bd5vLVQ95OOEQw&zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

Sức mạnh của một Đảng cầm quyền thể hiện ở năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện, được quyết định bởi sự vững vàng về nền tảng tư tưởng, sự thống nhất về nhận thức và niềm tin chính trị trong toàn Đảng và hệ thốn...

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cựcViệc tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, ...
21/05/2026

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Việc tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng trong công tác này vừa nhằm làm trong sạch bộ máy, là nền tảng để bảo đảm sự ổn định chính trị và thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững; đồng thời cũng là yêu cầu cấp bách để phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

https://nhandan.vn/tang-cuong-su-lanh-dao-cua-dang-trong-phong-chong-tham-nhung-lang-phi-tieu-cuc-post962285.html?fbclid=IwdGRzaAR6rutjbGNrBHqu5mV4dG4DYWVtAjExAHNydGMGYXBwX2lkDDM1MDY4NTUzMTcyOAABHhThqrfw2CHCSJfudK_Do7a4_94FkDUvL3-hqJG4Hk_AQ6XRKM0rA3l4acwp_aem_YWdncwDvI3zSDsCBj_rIQG03Zs5s&brid=YWdncwG3suZ_Bji5HNTXKip2WjmS&zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

Trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam, nhất là sau những định hướng chiến lược tại Đại hội XIV của Đảng, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã trở thành yêu cầu cấp thiết, nhiệm vụ then chốt để giữ vữn...

Phản bác luận điệu xuyên tạc về tổ chức chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Namhttps://www.tapchicongsan.org.vn/web/gu...
21/05/2026

Phản bác luận điệu xuyên tạc về tổ chức chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam

https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/phan-bac-luan-dieu-xuyen-tac-ve-to-chuc-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-o-viet-nam?fbclid=IwdGRzaAR6qSJjbGNrBHqpG2V4dG4DYWVtAjExAHNydGMGYXBwX2lkDDM1MDY4NTUzMTcyOAABHux_TL-mBrxWrsD4wTPJLdvbyVFoVubJM5OHeqHEubLsQA7QPhX5zNBUUsM1_aem_YWdncwDlOBrqDHj7LyYmjkAFrRFA&brid=YWdncwGPRHXVfEMNeSbiwpmH_Eqp

TCCS - Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương từ ba cấp sang hai cấp là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng, Nhà nước, đã được chứng minh trong thực...

19/05/2026

Nhận diện và phản bác luận điệu sai trái, thù địch về hài hòa hóa pháp luật
Đặng Thị Hoài
Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
TCCS - Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hài hòa hóa pháp luật là một xu hướng tất yếu, thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, đây cũng là một bài toán khó đòi hỏi các quốc gia phải tỉnh táo, linh hoạt đặt lợi ích quốc gia trong tương quan lợi ích quốc tế. Lợi dụng vấn đề trên, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng pháp luật Việt Nam chưa “hòa mình” vào dòng chảy của pháp luật quốc tế, hòng tác động tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam.

Hài hòa hóa pháp luật: Lợi ích và thách thức
Hài hòa hóa pháp luật (legal harmonization hay harmonization of law) “là việc các quốc gia thống nhất các mục tiêu chung cần đạt được, sau đó mỗi quốc gia có quyền tự sửa đổi, ban hành pháp luật mới trong nước của mình để đạt được các mục tiêu chung đó”(1). Theo H.C. Gutteridge, Giáo sư Đại học Cambridge về luật so sánh, hài hòa hóa pháp luật không chỉ là quá trình thụ động sửa đổi pháp luật của quốc gia sao cho phù hợp, tương thích với pháp luật chung của khu vực và quốc tế, mà còn là quá trình chủ động thiết lập, xây dựng các luật mẫu và triển khai biện pháp khuyến khích các quốc gia khác tiếp cận và áp dụng các luật mẫu này(2).
Như vậy, hài hòa hóa pháp luật được hiểu là quá trình quốc gia tự nguyện sửa đổi, hoàn thiện pháp luật quốc gia theo các nguyên tắc, quy phạm của pháp luật quốc tế hoặc chủ động đề xuất các nguyên tắc, quy phạm pháp luật và khuyến khích các quốc gia khác thừa nhận, áp dụng các nguyên tắc, quy phạm đó nhằm làm giảm đi sự khác biệt trong quy định pháp luật ở những lĩnh vực cụ thể giữa các quốc gia.
Các quốc gia có thể tiến hành hài hòa hóa pháp luật bằng nhiều phương thức khác nhau: Chủ động tham gia xây dựng, định hướng các quy phạm pháp luật quốc tế phù hợp với lợi ích, quan điểm của quốc gia mình; lựa chọn áp dụng, dẫn chiếu trực tiếp pháp luật quốc tế (chấp nhận); nội luật hóa (chuyển hóa) pháp luật quốc tế trở thành pháp luật quốc gia. Hài hòa hóa pháp luật không phải là quá trình “phủ định sạch trơn” pháp luật quốc gia, thay thế pháp luật quốc gia bằng pháp luật quốc tế, mà nó cho phép các quốc gia lưu giữ, bảo tồn những quy phạm pháp luật riêng có, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia mình.
Hài hòa hóa pháp luật đem lại những lợi ích, cơ hội to lớn cho các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, giúp “gia tăng tính dự đoán trước (predictability) và làm giảm tính không chắc chắn (uncertainty) của việc áp dụng pháp luật”(3). Ngoài ra, việc hài hòa hóa pháp luật quốc gia theo các chuẩn mực pháp lý chung trong khu vực và thế giới sẽ giúp Việt Nam tiếp cận dần với “luật chơi chung” của khu vực và thế giới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Quá trình này còn giúp quan hệ kinh tế, cũng như quan hệ văn hóa - xã hội và quốc phòng - an ninh của Việt Nam ngày càng gắn kết với các thành viên khác trong khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thách thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan”(4). Trong bối cảnh đó, luật pháp quốc tế có thể trở thành một công cụ để tạo “tính chính danh” cho các hành động can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Vì vậy, hài hòa hóa pháp luật cũng đưa lại những thách thức về gìn giữ giá trị bản sắc dân tộc, an ninh quốc gia, độc lập và chủ quyền của đất nước trong bối cảnh các quốc gia dễ bị cuốn vào vòng xoáy cọ xát, va chạm và xung đột về lợi ích, mục tiêu, tham vọng trong quá trình “hội nhập pháp luật”.
Xuất phát từ khía cạnh lợi ích quốc gia - dân tộc, các nước thường có xu hướng hài hòa hóa pháp luật một cách mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh doanh, thương mại, bảo vệ môi trường hơn là trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, dân chủ và chủ quyền.
Lợi ích quốc gia luôn là điểm trọng yếu để dẫn dắt chính sách đối ngoại của các nước. “Yếu tố quan trọng nhất cho việc thực thi theo luật pháp vẫn là lợi ích của các nước”(5). Các quốc gia có thiện chí, chủ động trong hài hòa hóa pháp luật nước mình với pháp luật quốc tế hay không phụ thuộc phần nhiều vào việc luật pháp quốc tế có hài hòa với lợi ích, năng lực, mục tiêu, giá trị, bản sắc của quốc gia hay không. Hài hòa hóa pháp luật trong một thế giới đầy biến động và khó lường, khó dự đoán như hiện nay đòi hỏi các quốc gia phải hết sức tỉnh táo, thận trọng thay vì bằng mọi giá.
Nhận diện, phản bác những luận điệu xuyên tạc về hài hòa hóa pháp luật
Mặc dù hài hòa hóa pháp luật là một học thuyết đã được hình thành từ đầu thế kỷ XIX, được bàn luận rất sôi nổi trên các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhưng những nghiên cứu chuyên sâu về hài hòa hóa pháp luật ở Việt Nam còn hạn chế. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực phản động ra sức xuyên tạc chính sách, pháp luật của Việt Nam bằng những luận điệu vô căn cứ.
Ở khía cạnh hài hòa hóa pháp luật, các thế lực phản động xuyên tạc “Việt Nam không tuân thủ các điều ước quốc tế gia nhập, nhất là vi phạm Luật Nhân quyền quốc tế”(?!).
Các thế lực thù địch viện dẫn những điều khoản mang tính khuyến nghị/tùy nghi (không bắt buộc các thành viên tham gia Công ước phải thực hiện) trong UNCAC như: “hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp”; “áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt”; “thành lập cơ quan tình báo tài chính”… hòng vu cáo Việt Nam vi phạm các quy định của Công ước.
Các thế lực thù địch cố tình phủ nhận hoàn toàn tính độc lập tương đối của pháp luật quốc gia, tuyệt đối hóa pháp luật quốc tế, coi đó là “đẳng cấp chung” mà Việt Nam cần thay thế cho pháp luật của nước mình. Các thế lực thù địch đòi “sửa đổi” các chế định cơ bản về chính trị, kinh tế trong Hiến pháp hòng “bẻ lái” con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; đòi “sửa đổi” những quy định liên quan đến dẫn độ, truy nã, các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tương trợ tư pháp để dung túng cho những đối tượng lưu vong; đòi “quy định về tự do trên không gian mạng” để “nội công, ngoại kích” tuyên truyền, lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá; đòi “sửa đổi” quy định về “tự ứng cử” như các nước phương Tây để phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp…
Những luận điệu xuyên tạc về hội nhập pháp luật Việt Nam núp bóng luận điệu xuyên tạc về “tư duy đa phương”, “toàn cầu”, “tiến bộ” nhưng thực chất là đang cổ xúy cho cách thức hài hòa hóa pháp luật vô nguyên tắc, tạo cớ để xuyên tạc Việt Nam “không coi trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế” (?!), nhất là lợi dụng các vấn đề pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá nước ta.
Tuy nhiên, hài hòa hóa pháp luật phải căn cứ vào từng bối cảnh và khả năng đáp ứng cụ thể của đất nước trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng những chiều hướng, tác động thuận, nghịch của tình hình quốc tế. Bởi vậy, sẽ là huyễn hoặc mơ hồ khi cho rằng pháp luật quốc tế là tiêu chuẩn chung mà pháp luật quốc gia phải “hòa tan” vào bằng mọi giá.
Việt Nam chủ động, trách nhiệm trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật
Với phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”, trong những năm qua, Việt Nam tăng cường đối thoại và hợp tác quốc tế, tích cực hài hòa hóa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người và được luật hóa trong hệ thống pháp luật quốc gia. Kết quả, Việt Nam hai lần được bầu chọn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao. Điều đó thể hiện sự ghi nhận của bạn bè quốc tế đối với những chính sách, pháp luật và thành tựu thực tiễn của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người trên các lĩnh vực.
Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, kể từ khi tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), Việt Nam luôn nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách để phù hợp với các yêu cầu của Công ước, được đánh giá là một thành viên trách nhiệm và tích cực trong UNCAC. Những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng trong thực tiễn càng là minh chứng thuyết phục cho nỗ lực đó của Đảng và Nhà nước ta…
Trong hợp tác quốc tế về pháp luật, Việt Nam “Chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong công tác hợp tác quốc tế về pháp luật. Nghiên cứu giải pháp gia tăng sự hiện diện của chuyên gia pháp luật Việt Nam trong các thiết chế luật pháp quốc tế”(6); “Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu”(7); “Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế”(8). Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định một trong các nhiệm vụ và giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền là: “Chủ động tham gia, đóng góp vào việc xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự quốc tế, khu vực. Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế; giải quyết hiệu quả các xung đột về thẩm quyền và pháp luật giữa Việt Nam và các quốc gia khác, bảo đảm tốt các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước Việt Nam”.
Khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 quy định: “Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp”. Điều này thể hiện sự linh hoạt, tích cực hội nhập của Việt Nam trên tinh thần kiên định “hòa nhập nhưng không hòa tan”.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) có tới 26 lần nhắc tới “điều ước quốc tế” tại 21 điều luật; đưa ra nhiều quy định để bảo đảm sự tương thích giữa văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể, Luật yêu cầu việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải “không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế” (Điều 5, Điều 156); đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định “phải căn cứ vào điều ước quốc tế” (Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 84); “Tổ chức nghiên cứu điều ước quốc tế” là trách nhiệm của cơ quan đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 85, Điều 97, Điều 112); Bộ Ngoại giao có trách nhiệm “cho ý kiến về sự tương thích của văn bản quy phạm pháp luật với điều ước quốc tế” (Điều 36, Điều 86); “Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan” là một trong những nội dung thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật (Điều 39, Điều 58, Điều 65, Điều 88, Điều 92, Điều 98, Điều 102); Việc thực hiện điều ước quốc tế là một trong những “trường hợp được xem xét điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh” (Điều 51); Quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có khả năng làm thay đổi “hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật” ở Việt Nam (Điều 115)… Có thể thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam được xây dựng hướng tới bảo đảm sự tương thích, hài hòa với pháp luật quốc tế, thể hiện sự tuân thủ nguyên tắc tận tâm, thiện chí (pacta sunt servanda) trong thực hiện pháp luật quốc tế.
Trên khía cạnh thực tiễn, Việt Nam ngày càng chủ động, tích cực tham gia xây dựng luật quốc tế. Năm 2016, qua hệ thống bầu cử của Đại hội đồng Liên hợp quốc, lần đầu tiên Việt Nam có đại diện tại Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) - cơ quan pháp lý quan trọng của Liên hợp quốc(9). Việt Nam chủ động đề xuất, đóng góp lý luận từ thực tiễn trong nước và các nước đang phát triển vào các báo cáo của Ủy ban Luật pháp quốc tế, góp phần bảo vệ tốt nhất quyền lợi của các nước đang phát triển và các nước nhỏ, như: Đề xuất đưa đề tài tác động của mực nước biển dâng vào luật quốc tế; tích cực đề xuất phương án kiện toàn các quy định của luật quốc tế về phòng, chống dịch bệnh và đưa ra sáng kiến thông qua Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh; tham gia các sáng kiến, cơ chế hợp tác thực chất về an ninh biển(10)…
Các phương thức hài hòa hóa pháp luật cũng được Việt Nam áp dụng một cách linh hoạt. Ở phương thức chấp nhận, Việt Nam cam kết áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần các quy định chung của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1967, Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật năm 1971, các cam kết quốc tế với Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Hiệp định Đối tác tToàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)… Ở phương thức chuyển hóa, Việt Nam ban hành nhiều văn bản luật mới như Luật Bình đẳng giới năm 2006 nhằm thực hiện Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW). Để chuyển hóa nội dung Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966, Quốc hội Việt Nam ban hành nhiều văn bản luật, như Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2023…
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chuyển hóa pháp luật quốc tế bằng sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều khoản trong hệ thống pháp luật hiện hành. Ví dụ, Việt Nam chỉnh sửa, bổ sung pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự, pháp luật kinh doanh, thương mại… để bảo đảm sự phù hợp, tương thích với các quy định của Hiệp định CPTPP, EVFTA. Chỉ trong 2 năm đầu gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (2006 - 2007), Việt Nam sửa đổi, bổ sung hơn 60 văn bản luật và hàng trăm nghị định, thông tư trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại, thuế, lao động, bảo hiểm,… để thực thi các cam kết với WTO. Quá trình này tiếp tục được đẩy mạnh trong giai đoạn hội nhập sâu rộng sau đó. Khi tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, Việt Nam đã chủ động xây dựng và hoàn thiện pháp luật để đáp ứng các tiêu chuẩn cao. Cụ thể, để thực thi Hiệp định CPTPP, tính đến tháng 8-2024, Việt Nam đã ban hành 25 văn bản quy phạm pháp luật. Trong hai năm đầu thực thi Hiệp định EVFTA (2020 - 2022), đã có 9 văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung và ban hành. Việt Nam luôn tích cực, chủ động hài hòa hóa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, thể hiện sự tôn trọng, trách nhiệm trong thực hiện pháp luật quốc tế tiến tới xây dựng một cộng đồng chung vì độc lập, hòa bình, thịnh vượng và phát triển.
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, có sự phát triển năng động, là chủ thể tích cực, đáng tin cậy và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh cục diện chính trị - an ninh - kinh tế thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang trải qua những biến động đa chiều, phức tạp, khó đoán định và chưa có tiền lệ, “luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn”(11), đòi hỏi Việt Nam phải có những bước đi thận trọng, khéo léo, phù hợp trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.
Nhìn vào thực tế áp dụng các điều ước quốc tế, có thể thấy, Việt Nam chỉ “áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện” (khoản 2 Điều 6, Luật Điều ước quốc tế năm 2016). Đồng thời, đối với những điều ước quốc tế đóng vai trò là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế, là động lực cho các bước tiến hội nhập trong khu vực và quốc tế sẽ thường được ưu tiên áp dụng trực tiếp để tận dụng thời gian, tranh thủ cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập phát triển. Ví dụ, Nghị quyết số 71/2006/QH11, ngày 29-11-2006, của Quốc hội về việc Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư”, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam với cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế.
Trong khi đó, phương thức áp dụng điều ước quốc tế bằng con đường nội luật hóa (chuyển hóa) được thực hiện khi nội dung của điều ước quốc tế chưa đủ rõ hoặc chưa đủ chi tiết; những vấn đề phức tạp mà việc áp dụng phải tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử - cụ thể. Hay việc thực hiện điều ước quốc tế còn tùy vào động thái của các bên trên nguyên tắc “có qua có lại”. Chẳng hạn, khi chấp nhận hiệu lực của Công ước về chống tra tấn của Liên hợp quốc năm 1984, Quốc hội Việt Nam đưa ra tuyên bố bảo lưu có nội dung như sau: “Không coi quy định tại khoản 2 Điều 8 của Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ. Việc dẫn độ sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc nguyên tắc có đi có lại”(12).
Hài hòa hóa pháp luật ở Việt Nam gắn với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo tồn giá trị bản sắc dân tộc, bảo đảm lợi ích của đất nước, của nhân dân như Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(13); “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc”(14).
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, trong hoạt động ngoại giao, phải trông vào thực lực quốc gia vì “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”(15). Trong hài hòa hóa pháp luật, Việt Nam tận dụng được lợi thế, bảo vệ được lợi ích quốc gia khi chủ động tham gia tạo ảnh hưởng, gia tăng vị thế, uy tín của mình trong khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã, đang và sẽ luôn chủ động, tích cực, tăng cường sự hiện diện và tiếng nói trong các diễn đàn xây dựng luật pháp quốc tế để bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc mình, cũng như chủ động đóng góp tích cực vào sự phát triển, tiến bộ chung của luật pháp quốc tế./.

Address

Số 7 Nguyễn Cảnh Chân
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share