23/03/2019
Đồng đội và bạn đọc thân mến!
Mình xin kể tiếp chuyện chuyến du Xuân 2019 tại Thanh Hóa theo lời mời của các đồng đội quê hương của sông Mã anh hùng để mọi người đọc cho vui nhé !
04g00 ngày 11/3, tại nhà anh Công mọi người đã dậy hết cả và thế là những câu chuyện không đầu không đuôi về một thời trai trẻ và những năm tháng giữa muôn trùng đạn nổ bom rơi ác liệt trong chiến trường, rồi những gian nan vất vả khi phục viên về quê nhà xây dựng cơ nghiệp từ hai bàn tay trắng đi lên, rồi cuộc sống vẫn còn nhiều cam go khi tuổi đã đứng bóng với các con các cháu hiện nay.v.v...tưởng như không bao giờ dứt. 06g00, tất cả cùng nhau đi ăn món bún chả quạt, đặc sản của Ninh Bình và về thu dọn đồ đạc chuẩn bị ra xe ô tô 30 chỗ mà các thành viên Ban Liên lạc ở Ninh Bình đã chọn lựa ký hợp đồng được chiếc xe “ngon” nhất.
06g50, xe khởi hành sớm ít phút vì còn cái hẹn đón Đinh Văn Tỵ tại xã Mai Sơn (Yên Mô) và vợ chồng Nguyễn Ngọc Xứng tại thành phố Tam Điệp rồi tiếp tục đi trên Quốc lộ 1 chạy thẳng đến Hà Trung rẽ phải theo quốc lộ 217 là đến Thành Nhà Hồ. Thành nhà Hồ (còn được gọi là Tây Đô) thuộc địa phận các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Khang, Vĩnh Thành và thị trấn Vĩnh Lộc (huyện Vĩnh Lộc), tỉnh Thanh Hóa. Thành do Hồ Quý Ly – lúc bấy giờ là tể tướng dưới triều đại nhà Trần cho xây dựng vào năm 1397 và chỉ 04 năm sau đã lên ngôi hoàng đế và cho dời kinh đô từ Thăng Long về đây và trở thành kinh đô nước Đại Ngu (tức niềm hạnh phúc, an vui). Tuy vậy triều đại này chỉ kéo dài vỏn vẹn 7 năm, là triều đại ngắn nhất trong lịch sử VN.
Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, có giá trị và độc đáo nhất, duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới. Thành nhà Hồ với bên ngoài xây bằng đá, bên trong chủ yếu là đắp đất, hai mặt Nam và Bắc dài hơn 900m, Đông và Tây dài hơn 700m. Thành nội được xây dựng gần như vuông, có 4 cổng ở chính giữa các bức tường thành, cổng chính là cổng Nam. Các cổng có kiến trúc hình vòm, với những phiến đá được đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít vào nhau. Khi đến đây tham quan du khách sẽ được khám phá những điều bí ẩn về tòa thành, khám phá những ẩn dấu về các phiến đá có chiều dài trung bình 1,5m, có tấm nặng tới 15-20 tấn xếp chồng lên nhau, không cần chất kết dính mà vẫn đảm bảo độ bền vững.Tường thành cao trung bình từ 5-6m, riêng cổng Nam (hiện còn hầu như nguyên vẹn) cao 10m.Thành được xây dựng trong thời gian ngắn, chỉ khoảng 3 tháng (từ tháng Giêng đến tháng 3 năm 1397) và cho đến nay, dù đã tồn tại hơn 6 thế kỷ nhưng một số đoạn của tòa thành này vẫn hiện hữu. Ngày 27 tháng 6 năm 2011, sau 6 năm đệ trình hồ sơ, Thành nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Thăm và nghe thuyết minh tại cổng Nam, toàn đoàn còn đến Bảo tàng Thành nhà Hồ để nghe giới thiệu và xem sa bàn toàn cảnh cùng những hiện vật đã thu thập được qua các lần khai quật trong nhiều năm vừa qua.
Rời thành nhà Hồ, xe đưa đoàn tiếp tục hành trình trên quốc lộ 217 vượt qua đường Hồ Chí Minh để đến với suối cá thần Cẩm Lương. Tại ngã ba đường Hồ Chí Minh, toàn đoàn gặp xe ô tô 07 chỗ chở các đồng đội quê hương Thanh Hóa là Vũ Trung Thịnh và Lê Huy Tuyết đón và dẫn đường cho cả đoàn vào vị trí tham quan.
Suối cá thần Cẩm Lương là nơi có những đàn cá tập trung sinh sống với mật độ dày đặc, được đồng bào dân tộc địa phương gìn giữ và tôn kính như cá thần. Đây là điểm đến tham quan độc đáo và khá nổi tiếng trong các tuyến du lịch Thanh Hóa. Dòng suối này còn được người dân địa phương gọi suối Ngọc, nằm bên chân núi Trường Sinh, thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Dòng suối trải dài khoảng 2km, chảy từ một hang đá ở chân núi, đổ ra cánh đồng thung lũng nằm thoai thoải bên bờ nam sông Mã. Riêng đoạn suối cá thần xuất hiện đông đúc là hơn trăm mét tính từ cửa hang, chiều rộng suối 3m. Mực nước ở đây chỉ cao chừng 40cm, nước trong vắt, chỗ nào không bị đàn cá che khuất thì có thể nhìn rõ những viên sỏi và rong rêu. Tại đây có tới hàng nghìn con cá lớn nhỏ, mỗi con có thể nặng từ 2kg đến 8kg, đặc biệt cá chúa ở suối cá thần Cẩm Lương nặng tới 30kg chỉ đôi lần xuất hiện khi nước lớn. Đàn cá ở đây gồm các loài: cá dốc quý hiếm, cá chài, cá mại... với hình dáng lạ mắt, nhiều màu sắc, mỗi khi bơi thân cá lấp lánh ánh bạc rất đẹp. Tuy mật độ cá dày đặc nhưng nước suối không tanh, người dân ở đây vẫn thường nấu ăn bằng nước suối này.
Nhiều điều bí ẩn về suối cá thần Cẩm Lương vẫn chưa thể lý giải như: tại sao đàn cá không đi xa lại chỉ sống trong hang và tập trung ở đoạn suối này, tuổi thọ của cá là bao nhiêu, nguồn thức ăn chính của cá là gì... Vào khoảng năm 1958, có một đoàn thám hiểm vào hang để nghiên cứu, họ thấy bên trong có nguồn nước ấm, nhưng không thể vào xa hơn mà chỉ đoán chừng sâu bên trong có lượng thức ăn dồi dào nuôi sống cá.
Người dân địa phương tin rằng suối cá thần tại Cẩm Lương rất linh thiêng nên mọi người chỉ chiêm ngưỡng và cầu may, không ai đánh bắt, sự sung túc của đàn cá sẽ đem lại cuộc sống no ấm, nên họ truyền đời cùng nhau bảo vệ, tôn thờ đàn cá, cầu mong mưa thuận gió hòa.
Mọi người trong đoàn thoải mái chụp ảnh, quay video... bên bờ suối hoặc trên hai chiếc cầu tre được dựng vắt vẻo qua suối, có đồng đội còn ngồi xuống đưa tay vuốt ve những con cá hiền lành rất dạn với du khách. Do quĩ thời gian có hạn nên 45 phút sau, cả đoàn lại ra xe và hành tiến trên đường Hồ Chí Minh xuôi về hướng nam. Cả đoàn dừng lại bên một quán ăn lớn bên đường thuộc thị trấn Ngọc Lăc do các đồng đội Thanh Hóa đã đặt sẵn từ trước. Bữa cơm trở nên rất ngon miệng vì... đói do hành trình buổi sáng hơi dài!
Cơm nước xong xuôi, xe đưa đoàn rời đường Hồ Chí Minh rẽ vào nhà đồng đội Bùi Hồng Trường ở xã Nguyệt Ấn huyện Ngọc Lặc. Anh thuộc lớp sinh viên xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ đợt ngày 24/8/1970 và là Tiểu đội trưởng tiểu đội 3 trung đội 1 tham gia chiến đấu cánh Nam (Quảng Ngãi-Bình Định). Sau khi rời quân ngũ, anh về tiếp tục học và được giữ lại làm giảng viên trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội cho đến khi nghỉ hưu. Từ khi thành lập Ban Liên lạc cựu chiến binh của đại đội, anh rất tích cực tham gia (có mặt trong 04 lần gặp nhau: 2008-2009-2012-2013) và đóng góp xây dựng cho quĩ đồng đội. Năm 2015, lúc này sức khỏe của anh đã suy giảm nhiều nhưng khi biết đơn vị sẽ tổ chức chuyến Hành trình xuyên Việt, anh dự định bay vào thành phố Hồ Chí Minh thăm con kết hợp gặp gỡ đồng đội nhưng rồi không thể thực hiện do thể trạng không cho phép anh đi xa. Các đồng đội Thanh Hóa sau chuyến đi xuyên Việt đã ghé thăm anh trên giường bệnh và thay mặt tập thể trao tặng anh logo của đơn vị. Và chỉ ba tháng sau, ngày 31/7/2015, anh đã về với cõi vĩnh hằng. Do đường xá xa xôi, ngày đó, chỉ có các đồng đội Thanh Hóa thay mặt anh em đến viếng tang anh và đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Hôn nay, tại nhà anh, cháu Trang con gái đầu tuy đã ở riêng và bận công việc địa chính ở xã, nhưng đã thu xếp công việc đến trước dọn dẹp nhà cửa để đón các chú các bác ghé thăm (chị Điện vợ anh đã vào thành phố Hồ Chí Minh thăm chơi nhà cháu Huyền từ gần tháng trước). Giờ đây, gần 30 đồng đội từ khắp mọi miền đất nước tụ tập về đây cùng thắp những nén hương tưởng nhớ anh, người đồng đội dũng cảm trong chiến đấu,hiền lành mẫu mực trong sinh hoạt, người giảng viên cao cấp trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội năm xưa! Rời nhà đồng đội Bùi Hồng Trường trong sự ngậm ngùi và niềm tiếc thương người quá cố, xe đưa đoàn về thăm Lam Kinh.
Khu di tích lịch sử Lam Kinh nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Đây là một di tích lịch sử quốc gia từ năm 1962 và đến năm 2013, được công nhận là di tích quốc gia cấp đặc biệt. Tạo lập Lam Kinh là người anh hùng áo vải xứ Thanh Lê Lợi. Sau 10 năm lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1428) đánh đuổi giặc nhà Minh và lên ngôi hoàng đế, Lê Lợi lấy niên hiệu Lê Thái Tổ, đặt tên nước là Đại Việt, kinh đô ở Thăng Long (Đông Kinh). Đồng thời nhà vua cho xây dựng ở quê hương đất tổ Lam Sơn một kinh thành gọi là Lam Kinh hay còn gọi là Tây Kinh. Hiện nay, khu Hoàng thành, cung điện và Thái miếu ở Lam Kinh đang được Nhà nước ta đầu tư trùng tu tôn tạo tái dựng lại trên diện tích rộng khoảng 200 ha trong khuôn viên khu di tích lịch sử Lam Kinh.
Cả đoàn đi qua Ngọ Môn (công ty mía đường Lam Sơn thời đồng đội Vũ Trung Thịnh đang là Tổng Giám đốc đã tài trợ phần lớn kinh phí để tại dựng Ngọ Môn này). Ngọ Môn rộng 11m, dài hơn 14m, có 3 cửa ra vào. Đặc điểm của 04 cột giữa là kích thước lớn, đường kinh chân cột 78cm. Qua Ngọ môn vào đến sân rồng. Sân trải rộng khắp bề ngang chính điện và đến sát thềm hai nhà tả vu và hữu vu với tổng diện tích hơn 3.500 m2. Chính điện Lam Kinh bố trí theo hình chữ "công" gồm 3 tòa điện lớn xây trên nền đất rộng, là Quang Đức, Sùng Hiếu và Diên Khánh. Đây là công trình kiến trúc gỗ lim quy mô, với hàng cột cái của cả ba điện có đường kính đến 62 cm. Nơi đây còn lưu giữ nét đẹp truyền thống của không gian Việt với “cây đa, giếng nước, sân đình”. Bên phải sân rồng (còn gọi là sân chầu) là cây đa thị 300 tuổi, có kích thước chục người ôm không xuể. Bên trái sân rồng là một giếng cổ, thành giếng xếp đá chẻ hết sức khéo léo. Nước giếng trong xanh quanh năm không bao giờ cạn, bờ bắc được lát bậc đá lên xuống, nghe nói xưa đây là nguồn cung cấp nước cho điện Lam Kinh. Nằm sau khu chính điện là Thái Miếu gồm 09 tòa được bài trí trang nghiêm, là nơi thờ cúng tổ tiên, các vị vua và hoàng hậu nhà Lê. Nhưng hiện tại mới có 05 tòa Thái Miếu được phục dựng.
Tiếp đó , đoàn được hướng dẫn viên dẫn đến thăm Vĩnh Lăng (lăng vua Lê Thái Tổ). Khác với các bậc vua chúa đều chú trọng xây dựng lăng mộ cho mình ngay khi vừa mới lên ngôi với quy mô rất uy nghi, lộng lẫy; nhưng với vua Lê Thái Tổ, một vị Vua xuất thân áo vải thì lăng mộ lại hết sức giản dị.Về bố cục, điều đặc biệt nhất của Vĩnh Lăng là không xây thành lăng mộ giống như các lăng tẩm của vua chúa khác mà được xây dựng thành hình gần vuông, mỗi cạnh là 4,43m x 4,46m, cao 1m, xây bằng gạch vồn xếp khít mạch và không trát. Phía mặt trên lăng để cỏ mọc chứ không lợp thành mái. Phía trước của lăng, hai bên có quan hầu và bốn đôi tượng giống đối nhau. Theo thứ tự tính từ mộ ra, bên trái quan văn, bên phải quan võ, đến tượng nghê, ngựa, tê giác và hổ. Về hình thức, các bức tượng đều bằng đá và được chạm khắc mềm mại, đơn giản. Đến năm 1933, nhân dân địa phương cung tiến thêm 4 voi chầu đắp bằng gạch và vôi vữa.
Bên cạnh Vĩnh Lăng là Cây ổi cười nổi tiếng. Nằm phía bên phải khuôn viên lăng mộ vua Lê, cây ổi dáng huyền, mang thế rồng chầu đã gần trăm năm tuổi, mùa nào cũng cho quả, khi chín thơm lừng vẫn được người trông giữ mang đến dâng lên mộ vua. Năm 2001, cây ổi được phát hiện "biết cười" lần đầu tiên. Từ đó trở đi, khi có người nào lấy ngón tay khẽ sờ nhẹ lên thân cây, những đầu lá ổi rung lên bần bật như một phản xạ gây ngạc nhiên cho những người chứng kiến. Khi cù vào gốc, tất cả lá cây đều rung rinh như cười. Hơn thế, nếu nắm tay vào một đoạn thân cây, nhắm mắt lại, đa số mọi người đều có cảm giác lâng lâng, quay cuồng đầu óc và rung lắc như bị cành cây giật đi.
Do quĩ thời gian có hạn, cả đoàn rời khu vực phần mộ vua Lê Thái Tổ để đến thăm Bia Vĩnh Lăng. Nằm cách mộ vua Lê khoảng 300m về phía Tây Nam, bia Vĩnh Lăng được đặt tại vị trí phía Tây Nam Chính Điện Lam Kinh. Bia có chiều rộng 1,94m, cao 2,79m, dày 0,27m. Rùa có chiều dài 3,46m, rộng 1,94m, dày 0,90m. Trọng lượng khoảng 18 tấn được dựng vào đầu thế kỷ XV. Bia và rùa được làm bằng đá trầm tích, màu xám xanh có lẫn đốm trắng, bóng, trên bề mặt rùa và bia còn nhìn thấy nhiều vỏ của các loài nhuyễn thể. Bia hình chữ nhật, mặt trước bia khắc khoảng 750 chữ Hán, nội dung văn bia do đại thần Nguyễn Trãi soạn ghi về thân thế và sự nghiệp của vua Lê Thái Tổ, những diễn biến và sự kiện quan trọng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cũng như khi đất nước đã độc lập khải hoàn dưới thời vua Lê Thái Tổ. Dưới đế bia là rùa, rùa trong tư thế đang bơi, đầu vươn cao, lưng nhô, lộ rõ 4 chân và 6 móng to khoẻ, trong 6 móng có móng thứ 6 bị đục lõm vào. Đuôi rùa to, vắt ngược lên lưng uốn lượn mềm mại, phía dưới bụng rùa sát đế khắc 3 đường gờ nổi chau chuốt, kỹ thuật chế tác bằng thủ công. Bia Vĩnh Lăng còn được các nhà nghiên cứu văn hoá đánh giá là một trong những tấm bia cổ thời Lê Sơ, to và đẹp nhất Việt Nam. Bia cũng đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia. Và trước khi rời Tây Đô, một chuyện vui vui đã chọc cười mọi người, đó là câu ngạn ngữ về xứ Thanh ngày xưa : "Rau má phá đường tàu" giờ có đặc sản BÁNH RAU MÁ mà người nào cũng mua để chứng minh với gia đình là đã đến XỨ THANH! Rời Lam Kinh khi đã là chiều muộn, cả đoàn về khách sạn tại thị trấn Lam Sơn nghỉ ngơi, ăn uống sau một ngày hành trình dài với rất nhiều điểm ghé thăm thú vị.
Dưới đây là chùm ảnh ngày 11/3/2019:
1. Tại cổng Nam Thành nhà Hồ
2. Trước nhà bảo tàng Thành nhà Hồ
3. Phút thư giãn hiếm hoi
4.Gặp các đồng đội quê hương xứ Thanh ở đường Hồ Chí Minh
5. Tại suối cá thần Cẩm Lương (1)
6. Tại suối cá thần Cẩm Lương (2)
7. Tại suối cá thần Cẩm Lương (3)
8. Bữa ăn trưa tại thị trấn Ngọc Lặc
9. Đồng đội đến thăm nhà anh Bùi Hồng Trường năm 2008...
10. ... Và đến thắp hương tưởng nhớ anh năm 2019
11. Logo tặng anh năm 2015...
12...Và logo trên bàn thờ anh năm 2019
15. Tại sân rồng Lam Kinh, phía sau là cây đa thị 300 tuổi, cây di sản Việt Nam
16. Bên cây ổi cười cạnh Lăng mộ vua Lê Thái Tổ
17. Toàn đoàn trước Vĩnh Lăng bia
18. Đặc sản bánh rau má
19. Bữa ăn tối vui vẻ và náo nhiệt tại thị trấn Lam Sơn
(còn một kỳ nữa)